- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

Người Ăn Muối

11 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 46632)
w-final3-hopluu92-202_0_300x141_1Chiều nào cũng thế, hắn ra sông đi câu, bờ sông xanh những bụi tre và cỏ, dòng nước cùng thời gian trôi qua. Hắn nằm vắt vẻo trên cành sung, buông câu. Hắn buông câu như một sở thích, một thói quen thường thấy nơi quê. Lứa tuổi như hắn chưa phải lo chuyện gia đình, chuyện xã hội, vẫn chỉ là tuổi còn đi chơi, đi học. Với hắn, một năm nữa mới tốt nghiệp cấp ba. Hắn sẽ là sinh viên hay dân cày, tất cả phụ thuộc vào hắn và lực học của hắn.

Hôm nay, nằm trên cành sung, hắn có cảm giác buồn ngủ. Hắn ngủ. Dòng sông vắng lặng, đoạn sông không gềnh thác, yên bình chảy xuôi theo dòng như không có đôi bờ, không có bóng tre, không có hắn. Hắn chợt tỉnh vì tiếng nói đâu đó rì rầm trong bụi. Bụi tre râm mát, có một cái hũm sâu vào bên trong do người lấy măng, chặt củi khoét vào. Cái hũm tre ấy có thể trải được một cái chiếu đôi. Nằm trong đấy, không ai nhìn thấy. Nơi đó, có rất nhiều người biết vì trông nó giống như cái hang động nhỏ, như một mái vòm, một ngôi nhà tre thiên nhiên. Ai đó, muốn sống lại thời nguyên thủy, vào đấy thì khỏi chê. Đã lâu, từ ngày nó biết cái vòm ấy, có ai vào đấy nằm đâu. Trưa hè, nắng, càng không có ai vào. Măng trong đấy cũng chẳng có để người ta lấy. Lạ thật, lại có tiếng người, hẳn là phải có hai người trở lên thì mới nói chuyện, tiếng nói lúc to lúc nhỏ. Nghe không rõ câu chuyện gì? Hắn tò mò. Hắn rướn người, xoay đủ cách để nhìn. Nhưng hắn không nhìn thấy gì hết. Hắn nhìn dòng sông trôi xuôi. Sông trôi lững lờ gợi hắn nhớ. Người trong làng thường kể, nhiều đôi hẹn ra sông, đến những bụi tre kín đáo vào những buổi trưa vắng để tằng tựu. Rồi chửa hoang. Con bờ con bụi sinh ra. Hắn cứ nghĩ, cứ nghi hoặc trong bụi tre kia đang có đôi tình nhân mèo mả gà đồng, lộn chồng trốn chúa. Người hắn kềnh kệnh. Không nên nghĩ vậy, hắn gạt đi. Ngay lúc ấy, trong bụi tre vang lên tiếng nói. Họ nói to thế nhỉ. Rõ ràng có người làm gì đó trong bụi tre. Người hắn kềnh kệnh hơn. Hắn rắp tâm tìm hiểu. Hắn tụt khỏi cây sung, lần lần lại bụi tre. Hắn nhìn thấy hai xe đạp mới tinh. Trong làng, không ai có cái xe đạp mới tinh như vậy, hẳn người ở xa đến đây, hoặc người trên thị trấn xuống? Hắn bỗng sợ, một nỗi sợ tự nhiên ập đến. Hắn ngồi xuống. Khi hắn ngồi thì không thấy gì, sự tò mò thôi thúc hắn tìm hiểu.

Hắn đi ngồi, lần đầu tiên hắn đi ngồi, chân tay run cầm cập. Đi vài bước, hắn dừng lại nghe ngóng. Tiếng nói trong bụi rì rầm, họ ăn cái gì đó, tóp tép chúp chíp như trẻ con ậm ti. Hắn đỡ run, hắn nghĩ rằng, chắc là họ rủ nhau xuống đây nghỉ trưa, ăn uống. Nghĩ đến đó hắn đỡ run, bí mật tiến lại. Gần lắm, chỉ cách một quãng thôi, hắn nhìn thấy hai người, một nam và một nữ. Hắn nhìn rõ mồn một, hắn ngồi chết sững, mặt hắn đỏ bừng, trong con người hắn cựa quậy, khó chịu, nước từ chân răng ứa đầy miệng, hắn nuốt ừng ực. Hai người đang lắp nhau, một mảnh bì gai trải xuống dưới, một mảnh áo mưa bên trên, hẳn là họ chuẩn bị từ nhà. Hắn yên lặng và... xem, lần đầu tiên hắn thấy cảnh giao hợp. Lâu nay, hắn chỉ thấy cảnh chó, gà, vịt giao cấu, súc vật trong sân nhà hắn đến chu kỳ sinh sản mới nhảy lên lưng nhau. Thỉnh thoảng, những buổi trưa vắng, hắn nhìn thấy hai con thằn lằn hoặc hai con thạch sùng... Đây, lần đầu tiên hắn thấy người! Lâu nay, hắn hay mường tượng, trong những giấc mơ, hoa đến thì thì nở, ướt át. Giấc mơ mơ hồ và... xuất tinh. Giờ đây hắn thấy, chứng kiến. Con người hắn trỗi dậy, đồng điệu. Trong sâu thẳm, hắn bồng bềnh, vật vã, ngây ngất, chết lịm, kìm nén rồi rất tự nhiên lênh loang. Hai người trong bụi, vẫn chưa buông, tiếng hồng hộc như tắm lợn. Một chốc, một lát, họ không cử động, nằm dài trên tấm áo mưa vuốt ve... Nghỉ ngơi chán, họ ra đi để lại bụi tre hoang vắng, sót lại dăm cái vỏ bánh, vài mẩu thuốc lá. Họ không biết hắn. Hắn biết họ, người trên thị trấn, hàng ngày đi học qua, hắn nhìn thấy họ đứng bán cửa hàng. Thỉnh thoảng hắn vào trong cửa hàng mua lọ mực, cái bút hoặc thếp giấy về viết. Lúc mua bán, hắn còn trao đổi với họ. Hôm nay, trong câm lặng, hắn được một bữa tiệc mắt, một phút thăng hoa. Hắn thầm khen, họ giỏi thật, họ biết có bụi tre này, đến đây tâm sự, làm tình rồi đi. Thế là, thế nào nhỉ, hắn tự hỏi họ có phải là vợ chồng của nhau không?...

Họ đi rồi, hắn cảm thấy như có tội.

Chiều, câu về, chẳng kiếm được con tôm con cá nào, hắn không buồn, không nghĩ chuyện đi câu nữa. Hắn thấy hắn có tội. Hắn muốn kể cho ai đó nghe về buổi chiều nay, hắn đã nhìn thấy, biết kể cho ai? Hắn không thể nói ra được, hắn rất ngượng khi miêu tả chuyện ấy. Chuyện đó, rằng là, phải bắt đầu như thế nào nhỉ, trong bụi tre kia, người đàn bà đã cầm nắm ra sao, miệng người đàn ông sục sạo thế nào. Giống con trâu đực hít trâu cái nhe răng cười, nâng hai chân trước, phóng mạnh. Không, chuyện đó rất tự nhiên, ai cũng biết. Chuyện này, phải kể cách khác. Phải hình dung, câu chuyện giống người chống đò xoạc chân nhấn mạnh cây sào, như một ông thợ đóng cối xay lúa nện liên tục vào miếng dằm cho chặt, như một người giã gạo giã cua, chày cối nhịp nhàng... Nói vậy, phải dùng tới ba ông để minh hoạ, chắc gì người nghe hiểu được hắn nói chuyện gì. Phải nói thật. Không thể?.. Không! Hắn không nói được vì hắn không quen nói. Trong làng hắn, không ai nói cái gì rõ ràng cả. Từ ngày biết nhận thức, hắn thấy người trong làng không bao giờ nói sự thật. Họ thèm ăn xôi chè, ăn thịt gà, thịt lợn.... Họ nói, giỗ năm ngoái, tôi mua, tôi nấu, tôi cúng... Năm nào cũng thế, tìm món mới thì ngon nhưng sợ ông bà ông vải chê, không biết có món nào khác, rất khó, thôi thì cứ chờ đến ngày giỗ, ngày tết xem sao. Trong làng, có hai người thích nhau, không phải vợ chồng, ăn nằm với nhau, người đó là người xấu, bài học không hay, câu chuyện kể dè bỉu, lời ví von tởm lợm, không xẻ chia. Có người vợ xa chồng, thèm chồng, chờ chồng về. Khi người chồng về lại nghi ngờ vợ đi ngủ với người này, người khác, chửi bới vợ: mày dạng háng cho trăm thằng ngàn thằng, con lăng loàn, con cành cạch. Anh chồng đánh vợ một trận đòn, tra khảo về cái việc đó, khai ra? Người vợ thành thật, không, từ ngày vắng chồng, nó chỉ đi đái. Người chồng không tin, người vợ thất vọng, công chờ đợi cũng phí hoài, có người đã nhảy xuống sông tự tử. Cả làng đói cơm đói áo, đói tình. Làng quê, trong lũy tre xanh, cái giống tre chết tiệt, bé nhỏ măng tơ thì nhám, lớn tí gai góc đầy mình. Hắn nghĩ vậy và hắn không đem câu chuyện dưới bụi tre mà hắn biết rất rõ đó, kể với ai cũng đều không tốt.

Sau lần đó, hắn hay thấy người trước, kẻ sau rủ nhau xuống những bụi tre mép bờ sông. Hắn vỡ vạc, hắn cười thầm bước đi loạng choạng trong chiều hoàng hôn, tiếng vịt đồng lao xao, tiếng chim bay ngang lưng trời vọng xuống thảng thốt chia tay ngày nắng hạ.

Tối ấy, hắn không sao ngủ được, mùa hè nóng, ra nhiều mồ hôi. Càng mặc quần áo càng nóng, hắn cởi ra và nhìn xuống, vết nhầy đọng khô như nước cơm quanh mép nồi. Cảm giác thèm muối đến với hắn. Hắn tìm khắp trong nhà không còn muối. Hắn nhớ đến kho muối của cửa hàng mua bán. Ở đó, muối được chất đống, ngăn lại trong tấm ván, muối trắng tinh. Hắn nghĩ, lên cửa hàng nhìn những hạt muối cho đỡ cơn thèm? Không, hắn nghĩ không giải quyết được, càng nhìn càng thèm hơn. Trưa nay, hắn cũng nhìn đấy, tuy là chuyện khác, nhưng giá như hắn là người trong cuộc, được như cái tay cửa hàng trưởng ấy, chắc là sẽ hơn. Giờ đây hắn chỉ thèm muối.

Hắn thèm muối. Trong nhà hắn, mỗi lần mẹ hắn mua cũng chỉ mua dăm cân. Muối nấu thức ăn cho cả nhà, muối để nấu cám lợn, muối cho vào ngọn cây dừa để quả sai, nước ngọt... Muối, muối muối... hắn thèm muối. Thèm đến độ suốt ngày, suốt đêm hắn chỉ nghĩ về muối.

Hắn suy nghĩ miên man, kiếm tìm một nguồn muối ở đâu đó để ăn, ăn cho thật nhiều, ăn cho thỏa thích, cho tan cơn thèm muối. Phải. Hắn nghĩ thế và nghĩ rằng phải đi ăn cắp muối để ăn. Trong hắn xuất hiện ý nghĩ phải đi ăn cắp, ăn cắp cho bằng được mới thỏa mãn miệng lưỡi thèm thuồng của mình. Hắn chưa ra đến biển, hắn chưa ra khỏi làng, chưa ra khỏi huyện. Hắn chỉ nghe kể rằng muối ở biển nhiều lắm. Nhưng hắn thấy muối trong kho của cửa hàng mua bán cũng nhiều. Hắn xuất hiện ý nghĩ vào cửa hàng mua bán của huyện để ăn cắp. Từ đó, hắn để ý kho muối của cửa hàng. Ba tháng trôi qua, sáu tháng trôi qua, chín tháng trôi qua... kể từ ngày xuất hiện ý nghĩ thèm muối. Mấy ngày nay, cửa hàng đóng cửa với lý do kiểm kê. Hắn càng thèm muối, trong cơn thèm, hắn muốn đập nát cái cửa hàng ấy, cái kho muối ấy, để lấy muối ăn. Đêm hôm nay, không biết là đêm thứ mấy, hắn mon men nơi này. Hắn đột nhập được vào kho muối. Đêm đen quá, vào đến kho mà hắn cũng chẳng nhìn thấy gì. Muối! Hắn reo lên và sục tay vào muối. Muối lạo xạo trong tay hắn. Hắn đưa muối lên miệng ăn. Muối lạo xạo trong mồm hắn. Ăn no rồi, hắn vẫn tiếc, giá mang theo cái túi vào đây thì xúc lấy một ít mang về mai ăn đỡ thèm. Không có túi xách, không có gì đựng. Hắn xục tay sâu vào muối quờ quạng xem trong đống muối đó nhiều hay ít. Không! Hắn giật mình, hắn đụng vào cái gì đó. Cái bọc! Hắn nghĩ đó là cái bọc muối. Hắn mừng lắm. Hắn muốn reo lên, nhưng may mắn hắn không reo vì hắn đang ăn trộm. Hắn reo, lộ ra, người ta sẽ bắt hắn. Hắn ôm lấy cái bọc đó và lần lần ra. Hắn thoát khỏi kho muối. Trong đêm đen, trong cảnh hoang vắng của thị trấn, làng quê chẳng ai biết được hắn là thằng ăn trộm.

Hắn về, nhà tối đen như mực. Từ ngày hắn mắc bệnh thèm muối, hắn không ở nhà trên nữa. Hắn ở nhà dưới, cái nhà ngang mà từ lâu rồi, từ đời ông đời cụ. Nhà này là nơi để lúa gạo, cám lợn. Bây giờ lúa gạo cũng không có nhiều nên gian nhà trống huơ trống hoác. Ba gian nhà ngang, năm gian nhà chính, hai gian nhà bếp, chuồng lợn, chuồng gà, chuồng trâu đều được làm kiên cố. Các anh các chị đi bộ đội, thanh niên xung phong, người hy sinh, người trở về lập gia đình, ở riêng. Trong nhà, chỉ còn bố mẹ và hắn. Căn nhà rộng quá, chẳng ai ở cho hết. Mình hắn ở một cái nhà ngang nên hắn làm gì bố mẹ hắn đâu có biết. Ngày lại ngày hắn vẫn ra đồng làm ruộng. Hắn cày cuốc khoẻ. Hắn cũng không chơi bời, rượu chè túm năm tụm ba gì. Không ai nghĩ hắn là thằng ăn trộm, có mỗi điều hắn thèm muối thì ai cũng biết. Đêm nay, hắn mừng lắm. Hắn đã được một bữa muối no nê. Hắn còn lấy thêm được bịch muối. Hắn định đi ngủ một giấc, sáng mai hắn sẽ cất cái bịch muối đó vào nơi kín đáo để ăn dần. Hắn đi nằm, không hiểu sao hắn không ngủ được, niềm vui ăn cắp chót lọt lại có chiến lợi phẩm mang về. Hắn tỉnh dậy, thắp ngọn đèn dầu, hắn sung sướng ôm cái bọc lấy cắp được ở kho muối. Hắn nghĩ, đó là muối, chắc chắn là muối, nhưng hắn muốn xem hạt muối trong ánh lửa đèn dầu, thứ mà hắn đã nhiều đêm rình rập. Tay hắn run run xoa nhẹ những hạt muối còn dính vỏ bọc. Những hạt muối rơi xuống đùi hắn ran rát. Lớp áo mưa bọc kín, bên trong một bọc mềm mềm. Mùi hôi thối như mùi mũi trâu xâu dây thừng. Mùi hôi bay thốc vào mũi hắn. Hắn hắt hơi, vặn ngọn đèn sáng hơn và mở tiếp. Lớp bọc vải được hắn tháo ra nhẹ nhàng. Hắn rùng mình, một cái thai nhi là một cậu bé nằm bên trong. Thai nhi đã chết từ lâu, có dấu hiệu thối rữa nên mùi khăn khẳn. Hắn không biết phải làm gì đây. Hắn gói thai nhi như cũ, cất vào một chỗ kín đáo trong nhà. Hắn đi nằm, trằn trọc một lúc, hắn ngủ thiếp.

Hôm sau, người đi chợ về xáo nhau trên cửa hàng mua bán huyện có kẻ trộm đột nhập kho muối. Công an đến lập biên bản, khám xét hiện trường rất lâu không nhận thấy mất trộm. Họ kết luận, kẻ trộm đột nhập kho nhưng chưa kịp lấy. Vụ án được khép lại, lời khuyến cáo cửa hàng tăng cường bảo vệ các kho hàng. Hắn dò la xem có ai theo dõi hắn không? Không! Chẳng có ai để ý đến hắn. Hắn yên tâm.

Đêm sau, đêm khuya khoắt, hắn lên cơn thèm muối. Hắn ăn hết những hạt muối dính áo mưa bọc thai nhi đêm qua. Chưa thỏa với cơn thèm mặn. Hắn liếm láp bên ngoài mảnh áo mưa. Hắn mở thai nhi ra xem. Thai mùi nặng. Gương mặt cậu bé có dấu hiệu biến dạng, thân hình trương lên. Hắn nhìn cậu bé chăm chú như người bạn nhìn người bạn. Hắn đặt tên cho cậu là Muối. Hắn khẽ gọi Muối. Muối ơi! Muối ở với anh nhé. Rồi hắn gói cẩn thận đem cất vào gầm giường.

Sau hai ngày cửa hàng bị kẻ gian đột nhập. Hôm nay họ mở lại bình thường. Người mua muối nói với nhau, hôm nay mua muối thật dễ. Mẹ hắn cũng mua muối.

Đêm khuya thanh vắng, hắn mang cậu bé ra ngắm. Hôm nay mùi thối của cậu bé bốc lên rất khó chịu. Hắn không muốn đem cậu đi chôn vì không muốn chia tay. Hắn nghĩ cách, phải làm cho cậu bớt mùi. Cậu Muối- cái tên thân mật mà hắn đặt cho cậu. Hắn nhóm một bếp lửa thật ấm nóng, nấu một nồi nước bồ kết đặc tắm cho cậu. Củi cháy tàn, than hồng rực, hắn đưa cậu bé lên trên than hong khô. Hắn hong như người ta sấy cá, đến gần sáng thì người cậu bé se nước, bớt hôi. Gà gáy canh ba canh bốn, hắn cuộn cậu bé trong tấm vải, đem cất kỹ vào bồ thóc. Sáng dậy, hắn vẫn ra đồng bình thường. Hắn không có dấu hiệu mất ngủ hay phờ phạc. Mồ hôi chảy đầm đìa trên người hắn, mồ hôi đọng lại trong quần áo. Mồ hôi khô, quần áo trắng màu muối. Hắn xoa nhẹ lớp muối, muối dính tay, hắn đưa vào miệng mút chùn chụt. Đêm, hắn đốt lửa hong cậu bé. Nhiều đêm như vậy, không ai hay biết hắn làm. Người cậu bé khô dần, mùi nhẹ. Kể từ đó, hắn thích đốt lửa trong đêm, đem xác cậu bé ra hong và ngắm. Thân xác cậu bé khô cong trông như quả phật thủ. Hắn vẫn chưa muốn chia tay với cậu. Đêm nào, hắn cũng đốt lửa hong, xác cậu bé càng ngày càng quắt lại nhỏ bé đen sạm sắp hóa thành than. Đêm đêm, hắn cứ lầm rầm tâm sự cùng cậu bé những điều hắn trông thấy, những điều hắn nghĩ. Trước đống lửa, người hắn ra mồ hôi ướt đầm. Hắn lại thèm muối.

Sáng nay, hắn không ra đồng, hắn thèm muối lắm, thèm không chịu được. Hắn muốn đến kho của cửa hàng nhặt hạt muối rơi rụng để ăn. Người mua muối thấy hắn, thương tình cũng bớt cho một ít. Ai cho nhiều hắn ăn nhiều, ai cho ít hắn ăn ít. Hắn là người tiếc của và luôn quí trọng hạt muối. Hạt nào rơi rụng hắn nhặt ăn. Hắn thường có mặt ở cửa hàng từ lúc mở cửa, ra về khi cửa hàng đóng cửa. Hệt như một người bán hàng dễ tính, chiều khách, hắn mỉm cười với tất cả người đến mua muối. Đêm, hắn về với xác cậu bé đã sấy khô. Hắn kể cho cậu nghe, ngày nào hắn cũng đến kho muối đó, chỗ nhặt được cậu. Hắn nói: Tôi đến kiếm muối ăn. Tôi thèm muối. Cậu biết không? Hắn cười. Nếu vụ mùa này bội thu, tôi sẽ bảo mẹ tôi bán lúa và mua muối về cất. Bây giờ tôi ăn cơm thì chán, ăn muối thấy ngon. Ngon lắm. Giá kể cậu cũng biết ăn thì hẳn là cậu sẽ thấy muối quan trọng. Một ngày thiếu muối là một ngày nhạt nhẽo. Kho cá nấu canh đều cần muối. Với tôi, tôi không thể sống nổi nếu mỗi ngày qua đi tôi không được ăn một bữa muối thay cơm. Giá được một ngày hai bữa muối thì tốt. Cho đến giờ tôi vẫn thích cả ngày ăn muối. Hắn khóc. Hắn nói trong cơn nấc nghẹn. Mấy hôm nay tôi đến cửa hàng bán muối. Người mua muối thì không ai nói gì với tôi. Họ vẫn cho tôi muối thường xuyên, nhưng người bán cửa hàng đuổi tôi. Người đó, một mụ đàn bà nhìn tôi gườm gườm, rồi chửi bới. Tôi không nói lại, tôi chỉ đến để nhìn muối. Tôi không mua, không xin, người mua muối cho tôi. Tôi ăn. Tôi không mang muối xin được đem đi bán. Tôi không đầu cơ, không kinh doanh. Tôi chỉ ăn. Tôi thèm muối nên mới vậy. Hắn nói, hắn khóc. Không biết tại sao bà ta luôn nhìn hắn với ánh mắt nảy lửa và sợ sệt. Bà ta vừa như hốt hoảng, lại như điên khùng. Có lúc, bà ta còn hỏi tôi, mày là ai? Là ai? Hắn kể câu chuyện đó với cậu bé cho đến sáng bảnh mắt. Cậu bé càng ngày càng quắt queo, đen xì như than. Hình dạng của cậu cũng biến dạng, nhìn không nhận ra hình người mà như cục thịt chặt vụng về rồi đem xông khói. Hắn ngắm nghía cậu bé, nâng niu cậu bé, tâm sự với cậu về nơi mà hắn nhặt được. Cậu sinh ra trong kho muối. Hắn ăn muối, nên cậu là cậu chủ của hắn. Hắn nói như vậy, nói đi nói lại không biết bao nhiêu đêm. Hắn cất cậu bé vào trong đống quần áo của hắn rồi đi.

Hôm nay, một ngày đẹp trời, cửa hàng đông khách đến kỳ lạ. Khách hàng mua muối cũng đông hơn. Hắn đang đứng nhìn người mua muối. Người ta thầm thì với nhau. "Trông hắn cũng đẹp trai đấy!" Tội nghiệp. Chắc là kiếp trước thế nào. Kiếp này gánh tội!

Cửa hàng bán muối ồn ào, cô bán muối không bán mà rẽ đám đông đi ra. Đến trước hắn, cô chỉ tay vào mặt: "Cút. Cút ngay!" Nói xong, cô ta la trời, cô ta oà khóc, cô ta quỳ lạy trời, rú lên như tiếng rú của động vật hoang dã. Hắn lùi lại, trên khoé mắt hắn, muối rơi từng hạt xuống đất. Đám đông xáo trộn, người ta không biết thế nào. Hắn vẫn đứng, từng giọt lệ muối rơi rơi.

- Người ăn muối! Người ăn muối!

Người ta hô gọi to như vậy.

Vài năm sau hắn chết, nhà hắn đem quần áo đốt, phát hiện một thai nhi bé nhỏ, khô quắt. Những người biết cái thai nhi đó đã ở đáy mồ.

 

Nguyễn Văn Ninh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1012)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1079)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1619)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2398)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 2586)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 3091)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 2738)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 2784)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 3662)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 2970)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.