- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,470,554

Gabriel Garcia Marquéz ‘Vĩ nhân không bao giờ chết cả’

17 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 17908)

Đại văn hào Gabriel Garcia Márquez, gốc Colombia, tác giả cuốn tiểu thuyết danh tiếng “One Hundred Years of Solitude” và là người đã đoạt giải Văn Chương Nobel năm 1982, đã qua đời ngày 17 tháng 4 vừa qua tại nơi ông sinh sống bấy lâu ở Mexico City, hưởng thọ 87 tuổi.

td_1-content
 

Gabriel García Márquez, nhà văn tên tuổi, thành viên của giải Nobel văn chương và tác giả của tác phẩm lừng danh “One Hundred Years of Solitude”, đã qua đời thứ Năm ngày 17 tháng 4 năm 2014, ở tuổi 87.


“One Hundreds Years of Solitude” không phải là cuốn tiểu thuyết duy nhất của ông, nhưng là cuốn nổi tiếng nhất và được nhiều người biết đến vì tài kể chuyện của tác giả, vì sự phong phú về văn chương, về tình tiết và bối cảnh lịch sử lồng vào với huyền thoại, vì câu chuyện trải dài ra tới bẩy thế hệ của cặp nhân vật chính, vì sự đan kết giữa hiện thực và siêu thực, và vì những lớp chủ đề chồng chất lên nhau như một di tích khảo cổ được khai quật lên phơi bầy nhiều thành phố xây chồng lên nhau từ đời này qua đời khác. Tóm lại, toàn bộ cuốn tiểu thuyết tuy lôi cuốn người đọc giở hết trang này tới trang khác, nhưng không dễ gì nắm bắt được ý chính của tác giả vì tính cách đồ sộ và choáng ngộp của các sự việc.

Chính qua cuốn tiểu thuyết này mà có nhà phê bình đã ví Garcia Marquéz với nhà tiểu thuyết, nhà thơ và kịch tác gia Miguel de Cervantes của thế kỷ 16, và cuốn “One Hundred Years of Solitude” với cuốn “Don Quixote” của Cervantes mà đời sau vẫn có thể đọc lại, mượn ý và nhân vật để phóng tác và mặc cho tác phẩm tái tạo đó một ý nghĩa, một chủ đề tùy theo tâm tình thời đại.

Cuốn “One Hundred Years” đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, bán tới mấy chục triệu ấn bản. Tại Nam Việt Nam trước năm 1975, cuốn sách đã được dịch ra với tựa đề “Trăm Năm Hiu Quạnh”, do nhà xuất bản Nhân Chủ, một bộ phận của nhật báo Sóng Thần hồi ấy, đặt nhà văn và phóng tác gia điêu luyện Hoàng Hải Thủy dịch. Được cử trông coi nhà xuất bản hồi ấy, nên tôi có dịp đọc (và sửa) bản dịch (từ bản Anh ngữ rất linh động của Gregory Rabassa) khi còn là bản vỗ (galley proofs) của anh Hoàng Hải Thủy một cách say sưa. Đáng tiếc là độc giả Việt hồi ấy không có dịp đọc bản dịch này vì lý do giản dị: nó không bao giờ được ra chào đời. Trước khi đưa sang nhà in, bộ bản vỗ toàn cuốn sách dịch, có lẽ cũng khoảng gần 1,000 trang, được gửi lên sở Kiểm Duyệt thuộc Bộ Thông Tin của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Kết quả: có lệnh cấm vì có nhiều đoạn trong sách bị coi là “vi phạm thuần phong mỹ tục”. Tôi không tin rằng những người kiểm duyệt sách dạo ấy lại uyên bác tới độ đề nghị cấm cuốn sách vì khuynh hướng khuynh tả của tác giả, người vẫn lớn tiếng bênh vực Cuba và Fidel Castro - một lý do đã khiến ông bị cấm nhập cảnh Hoa Kỳ cho tới khi Tổng thống Bill Clinton, một độc giả của ông khi còn trẻ, bãi bỏ lệnh cấm đó. 

 

Gabriel Garcia Marquéz, hay “Gabo”, như những người mến mộ ông trong cộng đồng Châu Mỹ La Tinh vẫn gọi ông như thế, ra đời ngày 6 tháng 3 năm 1927 tại một tỉnh nhỏ thuộc miền bắc quốc gia Colombia, tên là Aracataca mà ông đã mượn nó để xây dựng nên tỉnh Macondo, trung tâm điểm của đại tác phẩm “Trăm Năm Hiu Quạnh” xuất bản lần đầu tiên vào năm 1967. Ông còn đem nơi chôn nhau cắt rốn đó vào hai tác phẩm nữa, cuốn tiểu thuyết ngắn “Leaf Storm”, và cuốn tiểu thuyết “In Evil Hour”.

 

Khi ông còn nhỏ, cha mẹ phải đi làm ăn xa, nên Garcia Remarquéz được ông bà ngoại nuôi dưỡng. Ông ngoại ông, Đại tá Nicolá Ricardo Marquéz Mejía, một cựu quân nhân có tư tưởng cấp tiến, từng trải, trực tính và có biệt tài kể chuyện, đã giót vào tai ông những mẩu chuyện của thời ông và các chiến hữu chống lại giới bảo thủ và những chi tiết lịch sử, xã hội đã đưa tới những tranh chấp, cả nội chiến. Trong khi đó, bà ngoại ông, bà Doña Tranquilina Iguarán Cotes, lại thường kể cho ông nghe những chuyện không tưởng, ma quái, huyễn hoặc bằng giọng nghiêm chỉnh như thể đó là sự thật, những chuyện mà chồng bà cho là mê tín dị đoan, nhưng cậu bé Gabriel thì lại như bị hút hồn và đã dùng làm chất liệu cho cuốn “Trăm Năm” sau này.

 

Marquéz khởi nghiệp bằng nghề viết báo trong lúc theo học luật tại trường Đại học Quốc gia Colombia. Vào thập niên 1950, ông cộng tác với nhiều báo tại thành phố Baranquilla ở phía bắc Colombia bên bờ biển Caribbean. Cũng trong thời gian này ông gia nhập một nhóm gồm các nhà văn, nhà báo tên là Baranquilla Group rất có ảnh hưởng tới văn học Châu Mỹ La Tinh, và làm quen với những tác phẩm của các tác giả Mỹ như James Joyce, Virginia Woolf và đặc biệt William Faulkner. Văn phong của tác giả sau này, cũng như của Frank Kafka, đã ảnh hưởng nhiều tới ông.

 

Vào giữa thập niên 1950, Marquéz dời Colombia đi Âu Châu, một phần vì một loạt bài phóng sự điều tra tựa là “The Story of a Shipwrecked Sailor” (Câu chuyện của một gã thủy thủ bị đắm tầu) đã khiến chính quyền địa phương không bằng lòng vì nội dung đi ngược lại với lời giải thích của nhà cầm quyền về nguyên nhân đưa đến vụ đắm tầu, nên tờ El Espectador mà ông cộng tác đã cử ông đi làm phóng viên nước ngoài. Chính những kinh nghiệm báo chí của ông đã xây nền cho sự nghiệp viết văn của ông sau này. “Chính nhờ những kinh nghiệm báo chí này mà Garcia Marquez, giống như nhiều nhà văn lớn còn sinh tiền, là người gần gụi nhất với thực tại thường nhật vậy,” nhà phê bình Bell-Villada đã nhận xét.

Garcia Marquéz tiếp tục sáng tác truyện cho các tạp chí Châu Mỹ La Tinh trong nhiều năm. Cuốn “Leaf Storm” viết xong tới cả năm năm mới có nhà xuất bản chịu in vào năm 1955, là cuốn tiểu thuyết ngắn mà ông thích nhất, ông cho biết, vì nó thành thực và bột phát. Đó là một câu chuyện với mọi diễn biến xẩy ra trong một căn phòng vào một ngày thứ Tư 12 tháng 9 năm 1928 khi một ông đại tá già (giống như ông ngoại của Marquéz) tìm cách tổ chức một cuộc chôn cất theo lễ nghi Thiên Chúa giáo cho ông bác sĩ người Pháp không ai ưa khi còn sống, do đấy họ không muốn ông ta được hưởng nghi lễ đó. Mọi người phản đối trừ cô con gái và đứa cháu ngoại. Truyện cũng phản ảnh kinh nghiệm của một đứa bé lần đầu đối diện với cái chết, và lần đầu được viết từ góc nhìn của người con gái.

Phải chờ tới năm 1967 với sự ra đời của “One Hundred Years of Solitude” Garcia Marquéz mới trở nên một tác giả được quảng đại quần chúng tìm đọc.

Từ hồi mới 18 tuổi Garcia Marquéz đã muốn viết một cuốn tiểu thuyết về ngôi nhà của ông bà ngoại nơi ông đã sống thời thơ ấu và nghe ông bà kể đủ thứ chuyện. Tuy nhiên ông đã lần lữa trì hoãn vì chưa tìm ra được đúng văn phong cho tới một ngày nọ trong lúc lái xe đưa gia đình đi nghỉ mát, ý tưởng chợt đến trong đầu. Thế là ông vòng xe đưa gia đình về nhà và cặm cụi viết từ đó. Phải 18 tháng sau, sau khi bán xe và những đồ vật giá trị trong nhà, kể cả vay nợ để chi dùng, ông hoàn tất “Trăm Năm Hiu Quạnh”.

Cuốn tiểu thuyết khi xuất bản vào năm 1967 đã trở thành một thành công về thương mại đồng thời đưa ông lên đài danh vọng. Cuốn “Trăm Năm Hiu Quạnh” và những tác phẩm kế đó đã giúp ông đọat giải văn chương Nobel vào năm 1982. Nhờ danh tiếng quốc tế của ông mà ông đôi phen đã giúp hoà giải giữa chính phủ Colombia và quân phiến loạn. Do khuynh hướng chính trị khuynh tả và là người công khai bênh vực Cuba của Fidel Castro mà ông bị cấm không cho nhập cảnh nước Mỹ cho mãi tới thời Tổng thống Clinton là người đã bãi bỏ lệnh cấm đó.

Khi nghe tin tác giả “Trăm Năm Hiu Quạnh” qua đời ngày thứ Năm 17 tháng 4 vừa qua, ông Clinton đã tuyên bố, “Tôi lấy làm đau buồn nghe tin Gabriel Garcia Marquéz đã qua đời. Từ khi tôi đọc ‘Trăm Năm Hiu Quạnh’ tới giờ đã 40 năm, tôi luôn kinh ngạc về tài tưởng tượng độc nhất vô nhị của ông, sự trong sáng trong ý tưởng, và sự chân thành trong cảm xúc. Ông đã nắm bắt được nỗi đau đón và niềm hân hoan của cộng đồng nhân loại trong bối cảnh vừa thực vừa huyền hoặc.”

Về phương diện văn chương, ông một trong những nhà văn phần lớn của Châu Mỹ La Tinh đã mở đầu một phong trào văn chương có tên gọi là “magical realism” (dịch nôm na là “chủ nghĩa hiện thực huyền hoặc”), một thể loại đan kết những yếu tố kỳ quái không tưởng vào thể văn chương hiện thực.

Tuy thành công tột cùng trong văn chương, Garcia Marquéz không từ bỏ báo chí. “Tôi luôn tin rằng nghề nghiệp chính của tôi là một nhà báo,” ông nói trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí The Paris Review. “Cái mà tôi không thích trong báo chí là điều kiện làm việc. Bây giờ, sau khi làm việc với tư cách là nhà tiểu thuyết, và đã đạt được sự độc lập về tài chính, tôi có thể thực sự chọn những chủ đề mà tôi thích và hạp với tư tưởng của tôi.”

Là một trong những tác giả được trọng vọng và quý trọng nhất thế giới, đặc biệt ở vùng đất Châu Mỹ La Tinh, nơi văn chương được coi là nghiêm túc ngang với chính trị, sự ra đi của ông đã gây thương tiếc không chỉ nơi độc giả đông đảo của ông, mà còn nơi các nhà lãnh đạo.

“Nhân danh Mễ Tây Cơ, tôi xin tỏ bầy niềm đau đớn trước sự ra đi của một trong những đại văn hào của thời đại chúng ta,” Tổng thống Mễ Enrique Pena Nieto đã tweet như vậy, theo tường thuật của cnn.com.

Tổng thống Colombia Juan Manuel Santos thì tweet ngắn gọn về sự hiện diện của tác giả “Trăm Năm Hiu Quạnh” như sau:

“Vĩ nhân không bao giờ chết cả.”

[TD, 04/2014]



Hình ảnh:



td_2-content
Vua Carl Gustaf của Thụy Điển, phải, trao giải Nobel về văn chương cho ông Gabriel Garica Marquéz vào ngày 10 tháng 12 năm 1982.



td_3-content
Tài tử kiêm đạo diễn Robert Redford ngồi với García Márquez ở Havana, Cuba, năm 1988.



td_4-content
Garcia Marquéz trong một bức hình chân dung tại Paris, năm 1991.



td_5-content
Fidel Castro của Cuba nói chuyện với Garcia Marquéz tại hội xì gà thường niên ở Havana, năm 2000. Marquéz thường lớn tiếng bênh vựa Cuba khiến ông bị cấm nhập cảnh Hoa Kỳ nhiều năm. 



td_6-content

Tổng thống Hoà Kỳ Bill Clinton nói chuyện với Garcia Marquéz tại Hội nghị Quốc tế về Sinh ngữ Tây Ban Nha tại Cartagena, Columbia, năm 2007. Ông Clinton là người đã bãi bỏ luật cấm nhập cảnh của tác giả “Trăm Năm Hiu Quạnh” mà Clinton nói ông đã từng đọc và thích 40 năm về trước khi còn trẻ.




td_7-content

Garcia Marquéz vẫy tay với những người ra đón ông khi ông trở về thăm quê hương tại Aracataca, Colombia.
 

td_8-content

Trái, ấn bản đầu tiên cuốn tiểu thuyết “Trăm Năm Hiu Quạnh” bằng tiếng Tây Ban Nha, Editorial Sudamericana, Buenos Aires, 1967. Phải, bản dịch Anh ngữ, do Gregory Rabassa dịch và Harper and Row xuất bản năm 1970. (Ảnh Internet)


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2847)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6807)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3608)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
06 Tháng Tám 20204:13 CH(Xem: 455)
một chút tóc cũng rối bời mây hạ / một chút bàn tay vẫy bỗng hiền khô / một chút bờ vai thong dong phố thị / một chút mắt môi thảng thốt đợi chờ /
06 Tháng Tám 20203:58 CH(Xem: 372)
Đừng vì anh / hãy mê mải cánh chim / giông giống nụ hôn ố vàng rơi bay mùa lá /
06 Tháng Tám 20203:37 CH(Xem: 495)
Có thể bây giờ nơi xa đó Ngày chỉ vừa lên trong nắng mai Giọt sương còn đọng long lanh ướt Và café nóng tỏa khói bay.
06 Tháng Tám 20203:32 CH(Xem: 530)
Quên rồi em đã quên tôi / Tháng giêng qua ngõ còn cười tháng hai / Phai thu lạnh sắc trang đài / Trăng ba vòng nguyệt đau hoài cùng trăng
06 Tháng Tám 20202:43 CH(Xem: 444)
Trăm năm ở tạm chốn này \ Trần gian sinh ký đọa đày bể dâu \ Trầm thăng bao nỗi cơ cầu \ Nợ nần chưa dứt nỗi sầu cưu mang \
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 796)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 439)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./