- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,189,019

Đặt Lại Vấn Đề: Thời Điểm Ra Đời Của Văn Miếu Và Quốc Tử Giám?

20 Tháng Bảy 201012:00 SA(Xem: 28536)

blankTừ xưa tới nay, mỗi lần nhắc đến Văn Miếu - Quốc Tử Giám thì không một ai từ các học giả nghiên cứu văn hóa Việt Nam, các sử gia cho đến các thầy giáo , sinh viên…tất cả đều tin tưởng, khẳng định không một chút hoài nghi , có thể nói đã in sâu vào tiềm thức rằng: Theo chính sử, Văn Miếu lần đầu tiên được vua Lý Thánh Tông cho xây dựng vào năm 1070 và Quốc Tử Giám lần đầu tiên được xây dựng vào năm 1076 dưới triều vua Lý Nhân Tông. Nhưng trớ trêu thay , chính trong sự êm đềm thản nhiên của niềm tin ấy, thật bất ngờ đã nổi lên một cơn sóng "hoài nghi" làm xao động mọi người. Số là vừa qua , trong hội thảo "1000 năm vương triều Lý và kinh đô Thăng Long" được tổ chức ở Hà Nội. vào ngày 21/11/2009, có một chủ đề gây nhiều tranh cãi được đặt ra từ Tiến sĩ Alexey Polyakov (Trung tâm Việt Nam học, Viện Á Phi, ĐH Moskva, Liên bang Nga), khi ông nêu ra nghi vấn : Vào thế kỷ XI ,Văn Miếu chưa ra đời và chủ đề này trở thành điểm "nóng" của cuộc hội thảo . Theo PGS.TS Sử học Tạ Ngọc Liễn qua bài viết "Về ý kiến "Thế kỷ XI chưa có văn miếu" của tiến sĩ A.B.Policốp " đăng trong Văn nghệ số 50 ngày 12-12-2009 thì "Thực ra quan điểm "Văn Miếu chưa thể xuất hiện ở Đại Việt" đã được A.B.Policốp đưa ra cách đây 20 năm , trong một bài báo gửi tới Tạp chí Nghiên Cứu Lịch sử nhưng TCNCLS không đăng và có mời A.B.Policốp , lúc đó ông đang công tác ở Đại sứ quán Liên Xô tại Việt Nam , để đến trao đổi vì sao Tạp chí không đăng, mà lý do chính là nội dung bài báo không đủ sức thuyết phục về mặt khoa học thậm chí có sai sót về tri thức , thí dụ tác giả hiểu Văn Miếu là Miếu Văn chương …" thế nhưng điều kỳ lạ là quan điểm cũ kỹ, lạc hậu này lại bỗng nhiên trở thành điểm nóng sau 20 năm! đến nỗi: "Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam không đồng tình với TS Polyakov, riêng GS Phan Huy Lê cho rằng, cả 2 quan điểm của TS Polyakov cần được tiếp nhận với thái độ cởi mở, còn để khẳng định đúng sai thì cần tiếp tục được nghiên cứu. Có một sự thật là lịch sử vương triều Lý có tính chất "mờ ảo", không chỉ do thiếu sử liệu, mà còn do vương triều Lý là thời toàn thịnh của Phật giáo, không chỉ Thiền tông mà còn kết hợp chặt chẽ với Mật tông, Tịnh độ tông nên sử phủ đầy sự "huyền bí". Gói gọn trong một ngày nên như GS Lê tổng kết, nhiều học giả cảm thấy "thòm thèm" vì chưa đủ thời gian thảo luận thêm để không chỉ thống nhất những khác biệt, mà còn mở ra những vấn đề mới cần nghiên cứu tiếp. " ( theo VietNamNet - Thế kỷ XI chưa có Văn Miếu-Quốc Tử Giám ) . Như vậy người đầu tiên hoài nghi thời điểm ra đời của Văn Miếu-Quốc tử Giám chính là một người nước ngoài, Tiến sĩ Alexey Polyakov , cũng theo Tạ Ngọc Liễn (Về ý kiến "Thế kỷ XI chưa có văn miếu" của tiến sĩ A.B.Policốp ) lý lẽ chính yếu của TS A.Polyakov là dựa vào Việt sử lược không ghi chép gì về tên gọi "Văn Miếu" như Đại Việt sử ký toàn thư , Văn Miếu là danh xưng chỉ có vào đời Minh ( Trung Quốc ) và thời Lý rất sùng mộ Phật giáo, Nho giáo không thể phát triển trong bối cảnh này nên vào thế kỷ XI, Văn Miếu chưa thể xuất hiện vào triều Lý, Văn Miếu được ĐVSKTT ghi nhận chỉ là một ngụy tạo và cho đến nay có lẽ chỉ một mình PGS.TS Sử học Tạ Ngọc Liễn là có ý kiến phản bác mạnh mẽ qua bài viết đã kể trên song hình như chưa có sức thuyết phục cao và chỉ mới dừng lại ở thời điểm nhà Lý chứ chưa tìm hiểu sâu xa hơn.

Sự thật thì vào thế kỷ XI Văn Miếu – Quốc tử giám đã được nhà Lý xây dựng chưa? Thời điểm ra đời ? Bài viết này không có ý định phê bình TS A. Polyakov và PGS.TS Sử học Tạ Ngọc Liễn (chỉ đôi khi nhắc đến vì liên quan đến vấn đề ) nhưng chỉ là những cố gắng tìm hiểu, suy nghĩ của mình về vấn đề này qua sự kiện " nóng" về Văn Miếu đã diễn ra nhằm đưa ra ánh sáng sự thật về thời điểm ra đời của Văn Miếu – Quốc tử giám sau khi đã khảo sát các sử liệu xưa nhất còn lại và cũng thật bất ngờ, chúng tôi đã phát hiện ra một sự thật ẩn dấu suốt bao thế kỷ đã qua đi mà chẳng một ai hay biết! Phát hiện mới này sẽ có khả năng làm đảo lộn, phủ nhận một định kiến, ngộ nhận xưa nay về thời điểm ra đời của Văn Miếu – Quốc tử giám :

1- Văn Miếu là gì ?

Văn Miếu, theo các tự điển Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải, Hán ngữ đại tự điển..thì đại khái đều cho tên gọi Văn Miếu xuất hiện vào thời nhà Minh, vì trước đó đời Đường đã từng gọi Khổng miếu là Văn Tuyên Vương Miếu, nên mới gọi tắt là Văn Miếu và dùng chữ "Văn" để đối lại, phân biệt với chữ "Vũ "trong Vũ Miếu - miếu thờ Quan công, nói chung các tự điển trên đều cho Văn Miếu chính là tên gọi khác của Khổng Miếu (miếu thờ Khổng tử). Còn theo các tự điển Việt Nam thì cũng không khác gì chẳng hạn như trong Đại Nam Quốc âm tự vị(1895-1896) , Huỳnh Tịnh Của đã ghi nhận : Miếu , Văn Thánh Miếu : miễu thờ đức Khổng Tử hay Hán Việt tự điển (1932) của Đào Duy Anh cũng định nghĩa Văn Miếu: Miếu thờ Khổng Tử do nhà nước dựng lên. Vậy thì đã rõ, Văn Miếu là đền, miếu thờ Khổng Tử, nhưng tôi thấy cách giải thích trên chỉ là chú trọng đến mục đích chung của Văn Miếu là nơi thờ tự nhưng lại không chú ý đến chữ "Văn", ngoài sự thờ tự Khổng tử ra Văn Miếu còn là nơi tập trung, học tập, phát huy, tưởng niệm về VĂN: bao gồm học vấn giáo dục , lễ nhạc , văn hiến Nho giáo ...( chú ý: " Văn" không nên hiểu đơn giản chỉ là văn chương, theo Hán Việt tự điển(1942) của Thiều Chửu, 4: Văn, cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hóa mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt gọi là văn, như văn minh , văn hóa ) nên mới có thêm nào là Khuê Văn Các , Quốc Tử Giám ...(như Văn miếu Hà Nội), trong Văn Đài Loại Ngữ - Vựng Điển Loại (bản dịch Phạm Vũ và Lê Hiền (Sài Gòn: 1973) [tr. 190-1] , Lê Quý Đôn đã chép :" 18. Văn miếu nhà Minh: Tứ phối: Nhan Uyên, Tử Tư (bên tả), Tăng Sâm, Mạnh Kha (hữu).19. Minh Thế Tông lập đền Khải thánh ở bên trái học miếu để thờ cha mẹ Khổng Khâu, cùng các hiền nho như Nhan Uyên, Tăng Sâm, v.. v.. 20. Từ đời nhà Đường, nhà Tống mở nhà học khắp nơi; nhưng văn miếu có qui chế riêng" vậy ,Văn Miếu có thể hiểu như một quần thể kiến trúc bao gồm sự thờ kính Khổng tử lẫn sự tôn vinh " Văn" của Nho giáo. Tóm lại : Văn Miếu theo nghĩa chính là đền, miếu thờ kính Khổng Tử và có thể hiểu rộng thêm ngoài sự thờ tự Khổng tử ra còn là nơi tưởng niệm, học hành và phát huy đạo lý Thánh Hiền nên ở Trung Quốc cũng như Việt Nam xưa, Văn Miếu thường là một kiến trúc bao gồm Miếu: nơi tế tự Khổng Tử và Văn: (trường) Quốc Tử giám .

2- Văn Miếu và Quốc Tử Giám theo sử liệu xưa :

Việt sử lược là một tác phẩm sử học khuyết danh – xưa nhất hiện còn lại, viết vào khoảng đời Trần – đã từng ghi chép vào năm Bính Tý ( 1156 ) triều Lý Anh Tông như sau : "V,Q, _cl": Đông, thập nguyệt , khởi Quốc Oai hành cung cập Khổng tử từ : Mùa Đông, tháng 10, xây dựng hành cung Quốc Oai và đền thờ Khổng Tử " và còn tìm thấy thêm một đoạn liên quan Văn Miếu nữa cũng ở triều Lý Anh Tông vào năm Tân Mão (năm 1171), xin trích :" q :Tu Văn Tuyên Vương Miếu: Tu sửa Văn Tuyên Vương miếu : Khổng Miếu" – bản chữ Hán theo Trần Quốc Vượng trong Việt sử lược ( bản dịch và nguyên bản chữ Hán , ký hiệu VHV1521 Viện Nghiên Cứu Hán Nôm – (NXB Thuận Hóa- Trung Tâm Văn Hóa Đông Tây . 2005 ), qua Việt sử lược ta thấy dường như chỉ ghi chép về một kiến trúc cỡ nhỏ và chỉ có mục đích chính là dùng để thờ kính Khổng tử chứ không mô tả như một kiến trúc lớn bao gồm vừa là nơi thờ tự vừa là nơi học hành (Khổng miếu và Quốc Tử Giám) và nếu theo góc độ này TS A.Polyakov sẽ phần nào đúng khi không công nhận thế kỷ XI đã có Văn Miếu (hiểu theo nghĩa trên) nhưng chỉ có miếu, đền thờ Khổng. Nhưng nếu hiểu Khổng Tử từ = Khổng Miếu = Văn Miếu ( như đã dẫn các từ thư trên) thì ngược lại cũng có thể cho rằng thế kỷ XI, nhà Lý đã từng xây dựng một đền thờ Khổng tử hay nói cách khác là Văn Miếu. Sự tranh cãi, khác biệt chẳng qua là do khái niệm về Văn Miếu như theo TS A.Polyakov thì thế kỷ XI chưa thể có mô hình Văn Miếu hiểu theo danh xưng chỉ xuất hiện từ đời nhà Minh của Trung Quốc (quan điểm này tỏ vẻ cực đoan thái quá) còn theo PGS.TS Tạ Ngọc Liễn thì khẳng định nhà Lý đã từng xây dựng Văn Miếu, một cách gọi khác của Khổng Miếu vào thời Minh – Lê cũng không có gì sai lầm. Sau Việt sử lược, đến Đại Việt Sử Ký Toàn thư – bộ sử được biên soạn vào triều Lê do sử thần Ngô Sĩ Liên chấp bút vâng theo ý chỉ của vua Lê Thánh Tông đã từng ghi chép như sau vào triều Lý Thánh Tông năm 1070 : "Mùa thu tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng, Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học." (theo bản dịch của Viện KHXH 1985-1993, NXB KHXH Hà Nội 1993), nhưng có lẽ cần phải thẩm định lại đoạn văn chuyển dịch trên đây, theo nguyên bản chữ Hán, bản in còn lưu lại là bản in Nội Các Quan Bản Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697) được phổ biến trên trang web: [http://www.nomna.org/ĐVSKTT/dvsktt.php?IDcat=31], trang 5a (xin xem hình trang 5a) thấy chép như sau: ,,R,,,t,r:thu,bát nguyệt, tu Văn Miếu, tố Khổng Tử, Chu Công cập tứ phối tượng, họa thất thập nhị hiền tượng, tứ thời hưởng tự" như vậy thật rõ ràng về mặt dịch thuật có sự lầm lẫn về từ ngữ: R tu Văn Miếu làm sao có thể dịch là làm Văn Miếu" được! Chữ Hán tu là sửa chứ không phải là làm , theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu : Tu : Sửa, sửa cho hay blanktốt gọi là tu. Như tu thân sửa mình, tu đức w sửa đức, tu lý cung thất zc sửa sang nhà cửa, vậy tu không hề có nghĩa là làm! Có lẽ nhóm dịch giả đã bị "tiềm thức" ám ảnh bởi định kiến " Văn Miếu lần đầu tiên được xây dựng vào triều Lý Thánh Tông" nên mới cố ý dùng chữ " làm" (tránh từ ngữ "tu sửa" ) để dịch từ chữ tu một cách mơ hồ đến thế, vì trong tiếng Việt xưa nay không ai nói "làm" Văn Miếu mà chỉ nói "xây" hay "dựng" Văn Miếu .Vậy chỉ có thể dịch q tu Văn Miếu tu sửa , sửa sang Văn Miếu.Trong bộ Lược Sử Việt Nam của sử gia Vũ Ngự Chiêu, phần ghi chú đã viết như sau: Tháng 8 Canh Tuất [7/9-6/10/1070]:Lý Thánh Tông (1054-1072) lập Văn miếu. Thờ Khổng Khâu, Chu Công Đán, v.. v... Vẽ tượng 72 người hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng Thái tử đến đây học; ĐVSK, BKTT, III, 1967, I:234; CM, III:29-30; (Thuận Hóa), 1998, I:345-346. [Văn miếu hiện nay ở Hà Nội] ĐVSKTB, 1997:238: Chép là "sửa Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, và tứ phối [Nhan Uyên, Tăng Sâm, Mạnh Kha, Khổng Cáp]. Thật quá bất ngờ, ĐVSKTT không bao giờ khẳng định là vào năm 1070 Văn Miếu lần đầu tiên được xây dựng như mọi người vẫn hằng tin tưởng và khẳng định bấy lâu nay. ĐVSKTT theo nguyên văn chữ Hán chỉ ghi chép một sự thật : vào năm 1070 , vua Lý Thánh Tông cho sửa sang lại một đền thờ Khổng Tử , đã được xây dựng trước đó và thật hiển nhiên theo sử thần Ngô Sĩ Liên – đúng ra là vua quan nhà Lê – thì Khổng Miếu đã xuất hiện trước thế kỷ XI ! Ở đoạn văn quan trọng này, tên gọi Văn Miếu lần đầu tiên được sử dụng trong ĐVSKTT khi ghi chép về sự kiện trùng tu một đền thờ Khổng Tử đã từng được xây dựng vào các triều đại trước nhà Lý, cũng chính trong đợt tu bổ này, đền thờ Khổng Tử đã được mở rộng thêm như ĐVSKTT đã chép: Hoàng thái tử đến đấy học", hướng đến sự nghiệp giáo dục các hoàng thái tử và về sau cũng theo bộ sử này chính nơi đây sẽ thu nhận thêm các quan lại có học vấn ( biết chữ). Như vậy ở triều Lý, vua Lý Thánh Tông đã lần đầu tiên cho tu sửa lại đền thờ Khổng theo mô hình mới: thờ Khổng + trường Quốc học thì hiển nhiên không còn là một Khổng Miếu thuần túy với mục đích tế tự Khổng tử nữa nhưng bắt đầu từ đây đã trở thành mô hình Văn Miếu giống như Văn Miếu thời Minh ( và như vậy quan điểm cực đoan của TS Polyakov chắc hẳn bị tiêu vong). Mặc dù VSL không ghi nhận sự kiện này như ĐVSKTT nhưng không phải vì thế có thể phủ nhận giá trị sự thật của ĐVSKTT vì biết đâu chính VSL chỉ là bộ sử "sơ lược" có thể không ghi chép đầy đủ hay vì không đủ tài liệu nhưng ĐVSKTT lại có nhiều tài liệu hơn, dù sao ngay VSL cũng đã từng ghi nhận vào năm 1156 , Khổng miếu đã từng được xây dựng và hiểu theo danh xưng thời đại Minh – Lê là Văn Miếu cũng chẳng có gì là sai trái. Cũng trong ĐVSKTT vào năm 1156 chép : RKiến Khổng tử miếu(sđd): Xây dựng Khổng miếu , như vậy theo quan điểm, cách dùng chữ của ĐVSKTT không phải là hễ nói đến đền thờ Khổng tử là đều dùng 2 chữ "Văn Miếu, nhưng ĐVSKTT chỉ dùng Văn Miếu một cách trang trọng cho triều Lý Thánh Tông , nghĩa là chỉ vào năm 1070, Văn Miếu được tu bổ lại từ một đền thờ Khổng tử ( Khổng miếu, Khổng Tử từ ) chứ không phải là lần đầu tiên được xây dựng, còn đến năm 1156, Lý Anh Tông đã cho xây dựng một đền thờ riêng cho Khổng tử (không thờ Chu Công...) nên mới gọi là Khổng Tử Miếu . Nếu tin vào ĐVSKTT, thật ra xét về thư tịch hay các bằng chứng di vật văn hóa, các bi ký….trong tình hình hiện nay không có một chứng cứ nào trái ngược lại với sự ghi chép về Văn Miếu như ĐVSKTT nên ta không thể hoài nghi gì cả .Thật quá rõ không phải chỉ đến đời Lý Thánh Tông mới có Khổng miếu nhưng trước đời Lý đã từng có một đền thờ Khổng tử rồi và từ thời nào thì sử sách còn lại không nói đến. Còn theo nhãn quan của "Khâm định việt sử thông giám cương mục" (Quốc sử quán triều Nguyễn) đã ghi chép vào năm 1070 như sau: R thu, bát nguyệt, sơ lập Văn Miếu : Tháng 8, mùa thu. Mới lập nhà Văn Miếu" - nguyên văn chữ Hán trong [nomfoundation.org] bản in năm Kiến Phúc 1884 - ) và đến năm 1156, chép : " Lập miếu thờ Khổng Tử. Hồi đầu đời Lý, Văn Miếu thờ chung cả Chu Công và Khổng Tử; đến đây, Tô Hiến Thành xin lập miếu riêng để thờ Khổng Tử, nhà vua y nghe theo lời: lập miếu Khổng Tử ở phía Nam thành Thăng Long." (bản dịch Viện Sử Học (1957-1960). Nhà xuất bản Giáo Dục (Hà Nội) ấn hành 1998). Nếu thế thì chính KĐVSTGCM đã là nguyên nhân dẫn đến cách hiểu sai lạc về sự khai sinh của Văn Miếu khi sử gia nhà Nguyễn hạ bút viết R Lập Văn Miếu". Đây chính là sự sai lầm lần đầu tiên của sử học VN sau ĐVSKTT dẫn đến một định kiến, ngộ nhận xưa nay về sự khai sinh của Văn Miếu Việt Nam trong lịch sử , chẳng hạn có thể kể ra trong Việt Nam phong tục (Hà Nội : Nhà xuất bản Văn hoá-thông tin tái bản, 2003), học giả Phan Kế Bính đã viết vào năm 1915: " Đến đời vua Lý Thánh tông, nhà Lý mới lập Văn Miếu, tức đền Giám Hà Nội bây giờ, học giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược vào năm 1919 (Trung tâm học liệu in lần thứ nhất vào năm 1971) đã viết :"Ngài lại có ý muốn khai-hóa sự văn-học, lập văn-miếu, làm tượng Chu-công Khổng-tử và 72 tiên-hiền để thờ. Nước ta có văn-miếu thờ Khổng-tử và chư hiền khởi đầu từ đấy", đến Việt Nam văn hoá sử cương (1938) , Lịch sử Việt Nam ( 1955 - 1057 ) của học giả Đào Duy Anh và các sách liên quan sử học của các học giả, sử gia khác về sau kể cả trong và ngoài nước VN cũng không tránh khỏi định kiến trên. Cho đến tận hôm nay định kiến này vẫn được truyền bá, giảng dạy không một ai hoài nghi cho nên không lạ gì có sự phản ứng phủ nhận "cái mới" từ 20 năm qua như số phận của ý kiến cho rằng thế kỷ XI chưa có Văn Miếu-Quốc Tử Giám do TS Alexey Polyakov đặt ra rồi cuối cùng đã trở nên "điểm nóng" trong giới nghiên cứu sử học VN và mới được đón nhận cởi mở muộn màng như lời của Gs sử học Phan Huy Lê: "quan điểm của TS Polyakov cần được tiếp nhận với thái độ cởi mở, còn để khẳng định đúng sai thì cần tiếp tục được nghiên cứu". Nếu các học giả, sử gia chịu khó đọc lại nguyên văn chữ Hán trong ĐVSKTT để phát hiện ra doạn văn do sử thần Ngô Sỹ Liên chấp bút theo lệnh của vua Lê Thánh Tông khi viết về Văn Miếu : "…sửa sang Văn Miếu..." và hơn nữa sau ĐVSKTT chính nhà Nho Ngô Thời Sĩ trong Việt sử tiêu án - soạn năm 1775- đã từng ghi chép : "(Lý Thánh Tông): Vua sai sửa sang Văn Miếu, tô tượng Khổng Tử và Chu Công, thờ cúng đủ bốn mùa" - bản dịch của Hội liên lạc nghiên cứu Văn Hóa Á Châu năm 1960 - (tôi chưa tìm ra bản chữ Hán nhưng qua lời dịch là "sửa sang Văn Miếu chắc chắn là chữ tu Văn Miếu R chứng tỏ Ngô Thời Sĩ đã đọc ĐVSKTT một cách chính xác) để nhận thức được rằng: Văn Miếu đã được tu bổ , sửa sang lại theo chính sử (VSKTT) vào năm 1070 triều vua Lý Thánh Tông chứ hoàn toàn không phải là: Văn Miếu lần đầu tiên đưọc xây dựng vào năm 1070 vào thời Lý như KĐVSTGCM và sau này qua sách sử, giáo khoa …

Qua những khảo sát trên, ta thấy cần phải xem xét, hiểu lại vấn đề khai sinh của Văn Miếu cho được minh bạch. Nếu tin vào VSL - sử xưa nhất hiện còn - ( … xây dựng hành cung Quốc Oai và đền thờ Khổng Tử ), thì đời Lý Anh Tông, năm 1156 đã từng xuất hiện một đền thờ Khổng tử và nếu hiểu "Khổng Tử từ" chính là Văn Miếu thì sớm nhất -theo VSL- có thể ghi nhận dấu mốc niên đại của Văn Miếu là năm 1156 và chứng tỏ vào thế kỷ XI, nhà Lý đã có Khổng Miếu hay Văn Miếu. Nhưng có lẽ cần phải bàn thêm về đoạn ghi chép súc tích trong VSL "...khởi Quốc Oai hành cung cập Khổng Tử Từ", ở đây là nói về sự kiện xây dựng hành cung ở Quốc Oai (Hà Tây) và cùng lúc xây luôn một đền thờ Khổng Tử cũng có thể hiểu là xây dựng ở Quốc Oai ( Hà Tây) chứ không phải là ở hoàng cung Thăng Long - Hà Nội hiện nay nơi có di tích Văn Miếu-? và cũng không khẳng định là Khổng Miếu được xây dựng lần đầu tiên trong lịch sử . Nhưng nếu tin và dựa vào ĐVSKTT , Văn Miếu đã được tu sửa (lần đầu tiên ở nhà Lý) vào năm 1070 đời Lý Thánh Tông và từ đó có thể xác nhận trong lịch sử VN , trước năm 1070 đã từng xuất hiện một đền thờ Khổng tử - Khổng tử từ, Khổng miếu , Văn Miếu - và như vậy dấu mốc niên đại đã lùi về quá khứ xa hơn nữa có thể là vào đời Tiền Lê, Đinh, Ngô hay cũng rất có thể là vào thời thuộc Hán với quan thái thú Sỹ Nhiếp người từng được xưng tụng là " Nam giao học tổ" và như lời tán dương Sĩ Vương của Ngô Sĩ Liên ( ĐVSKTT) : "Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? " vì trong lịch sử , theo truyền thống Nho giáo nơi nào có sự truyền dạy, quảng bá Nho học là nơi ấy chắc chắn có đền thờ Khổng tử -Vạn Thế Sư Biểu –

Về quan điểm cho rằng thời Lý, Phật Giáo toàn thịnh khó có khả năng xuất hiện Khổng Miếu hay Văn Miếu ( như ý kiến của TS A.Polyakov ) tuy có vẻ hợp lý nhưng thực ra lại " phi lịch sử" vì trong lịch sử qua thư tịch ta thấy rõ ở Trung Quốc vào thời Đường, Phật Giáo cực thịnh nhưng vẫn thấy Nho học phát triển, vẫn thấy tuyên xưng , phong Khổng Tử làm Văn Tuyên Vương và Khổng Miếu được gọi là Văn Tuyên Vương Miếu , trường học kinh đô được gọi là Quốc Tử Giám , học và giảng dạy về Nho Giáo, Tứ Thư, Ngũ Kinh…bấy nhiêu cũng đủ chứng tỏ ở Đại Việt – nước đồng văn – Dù ở triều đại nhà Lý , Phật giáo hưng thịnh nhưng sự kiện tu sửa Văn Miếu , hình thành Quốc Tử Giám là một sự thật lịch sử xảy ra vào thời đại này, hơn nữa theo sử sách xưa , nhà Lý đã từng mở những khoa thi mang tinh thần Nho Giáo vào những năm 1075 tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Năm 1086 thi người có văn học trong nước, sung làm quan ở Hàn lâm viện. Năm 1165, thi học sinh. Năm 1185, thi sĩ nhân trong nước, người nào từ 15 tuổi mà thông thi thư thì được vào hầu học ở ngự điện càng chứng tỏ Nho Giáo đã bắt đầu xuất hiện và có ảnh hưởng quan trọng ngay cả vào thời kỳ Phật Giáo toàn thịnh.

Tóm lại : Văn Miếu hiểu như đền, miếu Khổng Tử , theo sử sách còn lại chỉ xác nhận sự kiện vào thế kỷ XI, nhà Lý đã từng có những cuộc tu bổ và xây thêm (?) đền thờ Khổng tử vào những năm 1070, 1156, 1171 chứ không phải là lần đầu tiên Văn Miếu được xây dựng vào năm 1070 vào triều vua Lý Thánh Tông như mọi người bấy lâu nay hằng tin tưởng và truyền bá.

blankNói đến Văn Miếu không thể không nhắc đến Quốc Tử Giám, cũng như vấn đề về thời điểm ra đời của Văn Miếu, Quốc Tử Giám cũng đã từng được truyền thông từ lâu đời rằng năm 1076 triều Lý Thánh Tông , lần đầu tiên Quốc Tử Giám đưọc thành lập và mọi người bấy lâu vẫn tin tưởng không một chút nghi hoặc. Nhưng xem kỹ lại các sử liệu xưa thì hóa ra không phải thế : Việt sử lược, An Nam chí lược không ghi chép gì về Quốc Tử Giám. Trong Đại Việt sử ký toàn thư - Quyển III -Thánh Tông Hoàng Đế (trang 10 a),có đoạn viết: xT,RO tuyển văn chức quan viên, thức tự giả nhập Quốc Tử Giám : Chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử Giám"(xin xem hình "trang 10a") ĐVSKTT không hề ghi chép sự kiện trọng đại của Quốc Tử Giám khi lần đầu tiên được xây dựng là một điều bất bình thường, đáng suy nghĩ, đoạn văn trên chỉ nhắc đến Quốc Tử Giám như một sự đã rồi, có nghĩa là QTG đã được xây dựng và hoạt động rồi nhưng từ bao giờ , ĐVSKTT không cho biết gì ngoài đoạn văn sau : " Canh Tuất, Thần Vũ năm thứ 2 [1070], (Tống Hy Ninh, năm thứ 3...Mùa thu, tháng 8, sửa Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối , vẽ tượng Thất thập nhị hiền , bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây." Như vậy ta có thể ngầm hiểu , theo ý tứ của sử thần nhà Lê rằng : Văn Miếu cũng chính là nơi dành cho hoàng thái tử đến học và sau này cũng theo ĐVSKTT , cho cả quan viên văn chức biết chữ vào đây (để giảng dạy, làm việc ) hiểu như thế thì Quốc Tử Giám đã bắt đầu xuất hiện từ năm 1070 chứ không phải là 1076 ! Có lẽ chính vì thấy ĐVSKTT viết mơ hồ nên đến Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã viết rõ lại như sau: "Bính Thìn, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 (1076). (Tống, năm Hi Ninh thứ 9)...Tháng 4, mùa hạ...Lập nhà Quốc Tử Giám; tuyển trong các văn thần lấy những người có văn học, bổ vào đó."(sđd) Có thể nói một lần nữa, đây chính là đầu mối dẫn đến định kiến bấy lâu về niên đại ra đời của QTG! Đáng chú ý là vào đời vua Lý Nhân Tông là giai đoạn chiến tranh Tống – Việt thì làm sao vào năm 1076 chính là lúc quân Tống bắt đầu xâm lược Đại Việt thì vua nhà Lý còn đầu óc nào hạ lệnh cho xây cất Quốc Tử Giám làm hao tốn tiền của , nhân lực và thời gian ! Nhưng nếu dựa vào bộ sử đời Lê là ĐVSKTT , ta không có cơ sở nào để khẳng định vào năm 1076 QTG lần đầu tiên được tạo lập. Cách hành văn và cách dùng từ của ĐVSKTT (Chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám ) đã chứng tỏ vào năm này, Lý Nhân Tông chỉ bổ dụng các quan biết chữ vào Quốc Tử Giám vốn đã có rồi chứ không phải là bắt đầu xây dựng và chẳng qua là nói một chỗ học hành của cung đình, nhà nưóc, chẳng hạn như đã từng nói Văn Miếu cũng là nơi con vua học hành , ở đây ta thấy danh xưng Văn Miếu và Quốc Tử Giám đã đưọc dùng theo kiểu cách thời đại nhà Minh – Lê và thực ra Văn Miếu là nói đến Khổng miếu và Quốc Tử Giám là nói đến nơi hoàng thái tử học chính là Khổng miếu sau khi được trùng tu, do đó có thể đi đến nhận định: Quốc Tử Giám theo ĐVSKTT đã ra đời vào năm 1070 cùng với sự kiện Lý Thánh Tông cho tu sửa lại Khổng Miếu. Về mặt lịch sử, như trên đã chứng minh Văn Miếu đã xuất hiện trước thế kỷ XI, nhà Lý và về Quốc Tử Giám có thể nói cũng vậy, tên gọi Quốc Tử Giám có từ thời nhà Tùy – Đường đến nhà Minh cũng còn dùng và chẳng qua là một cách gọi khác của trường học nhà nước ở kinh thành, đã từng xuất hiện với các triều đại trước như Quan học, Thái Học , Quốc Tử Học,… Hiểu như thế thì Quốc Tử Giám cũng không phải là lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1070 nhưng có thể xuất hiện ở các triều đại trước nhà Lý , căn cứ theo An Nam chí lược, soạn giả Lê Tắc biên soạn năm 1335 đã viết trong quyển thứ 14, Học hiệu : "Cuối đời Tây-Hán, Tích Quang cai-trị Giao-chỉ Nhâm-Diên cai trị Cửu-Chân, dựng nhà học-hiệu, dạy dân noi theo nhân nghĩa." (theo bản dịch Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam 1960. NXB Viện Đại học Huế 1961) như thế thì dấu vết xưa nhất về trường học ở Giao chỉ đã xuất hiện từ thời Tây Hán với Tích Quang, Nhâm Diên , nhưng dù vậy, trong bối cảnh thuộc Hán thì ngôi trường đó về hành chính chỉ là của quận huyện Trung Quốc chứ không phải là một trường học chính thức của nước Việt xưa cho nên xét về một quốc gia độc lập thì không thể gọi đó là trường học kinh thành, cung đình (quốc học ) như tên gọi Quốc Tử Giám, đáng tiếc là trong các sử liệu ít ỏi còn lại đến nay vẫn chưa tìm ra chứng cứ xác nhận trường học nhà nước (Quốc học ) đã xuất hiện trong các triều đại trước nhà Lý, dù vậy xét về danh xưng và sự gắn liền theo mô hình kiến trúc Văn Miếu: Miếu + Trường Học thì ta vẫn có thể cho vào thời Lý, Quốc Tử Giám bắt đầu xuất hiện vào năm 1070 khi vua Lý Thánh Tông cho tu sửa đền thờ Khổng và đã mở rộng thành trường học cung đình, nhà nước .

Kết luận:

Qua tìm hiểu, khảo sát trên , cùng với Văn Miếu thì Quốc Tử Giám bấy lâu nay đã bị sử học Việt Nam ngộ nhận về niên đại ra đời mà không hay biết. Sự thật theo bộ sử triều Lê là Đại Việt sử ký toàn thư, vào thế kỷ XI, triều Lý, Văn Miếu hiểu như đền thờ Khổng tử đã từng xuất hiện trước dấu mốc năm 1070 vì đã có sự kiện vua Lý Thánh Tông cho tu bổ Khổng Miếu và Quốc Tử Giám chỉ bắt đầu xuất hiện từ khi đền thờ Khổng tử được tu bổ vào năm 1070 , Khổng miếu đã được mở rộng thêm như một trường học nhà nước, cung đình. Nguyên nhân của sự ngộ nhận lớn này chính là xuất phát từ bộ sử triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã cố ý hiểu và sửa lại một cách chủ quan sự kiện lịch sử đã được biên soạn trong bộ sử triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư khiến cho sử học cận hiện đại đều lệch hướng theo và tạo nên một định kiến sai lầm. Mong rằng với phát hiện mới như tôi đã trình bày ở trên sẽ đóng góp một phần nhỏ vào nền sử học Việt Nam nói chung và nói riêng về vấn đề Văn Miếu và Quốc Tử Giám để đưa ra ánh sáng sự thật về sự kiện lịch sử phù hợp theo tinh thần khoa học.

Đinh Văn Tuấn

Biên Hòa, ngày đầu năm : 08 – 01 – 2010

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 59594)
Khái Hưng gốc làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương–nơi chính quyền Bảo hộ Pháp từng dùng bom đạn san bằng sau cuộc khởi nghĩa mùa Xuân năm 1930 của Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ]. Thân phụ là Trần Mỹ, Tuần phủ Phú Thọ [Thái Bình?].
22 Tháng Năm 20181:14 CH(Xem: 4380)
Hạnh phúc biết bao cho một người không có quá khứ, hay một dân tộc không có lịch sử—nhiều người quan niệm như thế. Nhưng con người, mỗi người trong chúng ta, đều có quá khứ, vui, buồn hay vui buồn trộn lẫn. Một dân tộc luôn luôn có lịch sử, vinh quang, tủi buồn, hay vinh nhục đủ mùi vị. Quá khứ luôn luôn là tấm gương cho mỗi người tự sửa mình, rút cho mình một kinh nghiệm sống, chuẩn bị cải thiện tương lai. Lịch sử một quốc gia, nếu được ghi chép trung thực, là kho tàng kinh nghiệm cho việc ích quốc, lợi dân, và phát huy tình nhân loại cho một thế giới đáng sống hơn.
28 Tháng Tư 20181:03 SA(Xem: 3396)
Từ ngày 7/3, khi Văn Tiến Dũng bắt đầu cô lập Ban Mê Thuột, tới ngày 30/4/1975, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, vừa chẵn 55 ngày. Thật khó ngỡ chỉ trong vòng 55 ngày và 55 đêm mà đạo quân hơn một triệu người—có hơn phần tư thế kỷ kinh nghiệm tác chiến, với những vũ khí khá hiện đại như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa—bị sụp đổ hoàn toàn. Cảnh tượng “bỏ của chạy lấy người” suốt tháng 3/1975 của các đơn vị Nam quân khiến đó đây vang lên những lời chỉ trích nặng nề như “hèn nhát,” “tồi dở” v.. v... Sự thảm bại ấy, thực ra, chỉ là đoạn kết bi phẫn ngắn ngủi khó tránh của một cuộc chiến kéo dài đã hơn 30 năm. Những hình ảnh điên loạn mà ống kính các phóng viên quốc tế thu nhận được chẳng khác cảnh vỡ đê trước con nước lũ, hay sự sụp đổ của một tòa lâu đài dựng trên bãi cát, khi nước triều dâng lên.
01 Tháng Tư 20184:43 CH(Xem: 3113)
Buổi tối ngày 2/1/1946, tại một biệt thự ở Neuilly, ngoại ô Paris, Tướng Charles de Gaulle đã cảm khái nói với con rể tương lai như sau: "Nước Pháp thật thiếu may mắn!" [Vraiement, la France n'a pas de chance!]" (1) 1. L'Institut Charles de Gaulle, Le général de Gaulle et l'Indochine, 1940-1946 (Paris: Plon, 1982) pp 180, 182, 200. [Sẽ dẫn: De Gaulle et l’Indochine, 1982]. Lời than thở trên đã được thốt ra vì một món quà năm mới mà Thủ tướng Lâm Thời Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp chẳng hề trông đợi: Tám ngày trước, 26/12/1945, một tai nạn phi cơ giữa lòng rừng già Phi Châu đã phá hỏng kế hoạch bí mật mà De Gaulle và giới thân cận trù liệu từ nhiều tháng—Tiểu đoàn trưởng (Thiếu tá) Vĩnh San, lá bài chính của kế hoạch trên, có mặt trong số hành khách xấu số của chiếc phi cơ lâm nạn. (2)
15 Tháng Hai 20183:06 SA(Xem: 6379)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop = political agitation and propaganda]. Chuyến qua Pháp từ ngày 30/5 tới 16/9/1946, Côn đóng vai một quốc trưởng, hy vọng thuyết phục thế giới về chính nghĩa độc lập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] (1945-1976). Chuyến đi này thất bại, vì Linh mục/Cao Ủy Georges Thierry d’Argenlieu và nhóm Gaullist chỉ coi Hồ như lãnh tụ một Đảng, và lãnh thổ Việt Nam không quá vĩ tuyến 16, trừ thêm các khu tự trị cho sắc tộc ở thượng du Bắc Việt cùng vùng rừng núi phía tây Trung Kỳ.
09 Tháng Mười Hai 201711:43 CH(Xem: 3783)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9/3/1945, khi Nhật đột ngột chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương trong vòng 48 giờ, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Trong giai đoạn này, hai chính phủ Việt Nam “độc lập” ra đời, chấm dứt tám thập niên Pháp đô hộ, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa tất cả các cấu trúc xã hội
28 Tháng Tám 201712:46 SA(Xem: 6292)
Dưới thời Nhật chiếm đóng (1940-1945), tại các tỉnh miền Tây, một giáo phái đang thành hình và lực lượng ngày một mạnh. Từ sau năm 1947, giáo phái này thường được biết như Phật Giáo Hòa Hảo, hay ngắn gọn hơn, Hòa Hảo. Hòa Hảo thực ra chỉ là tên ngôi làng mà người khai đạo, Huỳnh Phú Sổ (1919-1947) đã mở mắt chào đời. Đại cương, Hòa Hảo dựa trên một số nguyên tắc và phương pháp tu luyện đại chúng của Phật giáo tại gia.
11 Tháng Bảy 201711:56 CH(Xem: 6363)
Vua thứ 13 và cuối cùng của nhà Nguyễn—Nguyễn Phước Điện (8/1/1926-25/8/1945)—được biết nhiều hơn với niên hiệu Bảo Đại. Chữ "Bảo" [ThCh 25] bên trái có chữ "Nhân," bên phải phía trên có chữ "khẩu," dưới có chữ "mộc," nghĩa là "giữ gìn, bảo vệ;" "Đại" [ThCh 121] là to lớn—"Bảo Đại," như thế, hàm ý "bảo vệ sự vĩ đại, to lớn [của cơ nghiệp nhà Nguyễn]." Mặc dù Nguyễn Phước Điện chỉ duy trì được vương quốc thêm gần 20 năm, và thực thể chính trị Quốc Gia Việt Nam [QGVN] hơn sáu năm nữa, các đối thủ từng sử dụng những thuật ngữ bất nhã—như "mannequin doré" [hình nhân giát vàng](1), hay bù nhìn [puppet, quisling, scarecrow, straw dummy](2)—nhưng vua là một trong những vua lý tưởng, nếu không phải duy nhất, chế độ Bảo hộ Pháp có thể đào tạo suốt hơn 60 năm chiếm đóng Đại Nam (1884-1945).
12 Tháng Tư 201711:55 CH(Xem: 7769)
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 là một đề tài còn gây nhiều xúc động và tranh cãi. Tuy nhiên, tới nay vẫn chưa có nghiên cứu sử đích thực nào về đề tài này. Một trong những lý do là thiếu sử liệu. Tài liệu văn khố chưa được hoàn toàn giải mật. Đa số tác giả đều đứng về phe này hay phe kia, xếp đặt và diễn giải các dữ kiện vốn bị giới hạn và thiếu sót theo sự yêu ghét hay khuynh hướng chính trị, tôn giáo của họ. Tác nhân lịch sử bị đặt lên những chiếc giường của tên tướng cướp, thừa chặt bớt, ngắn kéo dài ra cho vừa khuôn thước thành kiến tiên thiên của mình. Không ít người còn bịa đặt ra những chi tiết không thực để bẻ cong lịch sử.
26 Tháng Hai 201711:42 CH(Xem: 6338)
Ngày 23/4/1925, Toàn Quyền Merlin về nước. Maurice Monguillot, Thống sứ Bắc Kỳ (từ 27/2/1921 tới 5/7/1924), lại được XLTV Toàn Quyền [tới 18 /11/1925], dù tháng 7/1925, Tổng trưởng Thuộc Địa Léon Perrier đã cử Dân biểu Alexandre Varenne (1870-1947)—một lãnh tụ Xã Hội của Đệ Nhị Quốc Tế nổi danh—sang Đông Dương để thực hiện những đổi thay cần thiết giữa thời không mệnh danh là “tăng trưởng kinh tế.”