- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Góp Phần Nhận Định về Sự Du Nhập Của Nho Giáo Vào Việt Nam Dưới Thời Bắc Thuộc

31 Tháng Ba 201312:00 SA(Xem: 184247)
 

nhogiao 

Do thời gian quá dài của thời Bắc Thuộc, nhiều người thường cho rằng Nho Giáo đã được người Trung Hoa truyền bá mạnh mẽ vào nước ta qua chính sách đồng hóa của họ. Điều này không hoàn toàn đúng. Sự truyền bá này chỉ diễn ra một cách giới hạn trong ít thế kỷ đầu của kỷ nguyên Thiên Chúa Giáo và rất yếu ớt trong những thế kỷ kế tiếp. Các nhà nghiên cứu về lịch sử, tư tưởng và văn học Việt Nam thời cổ gần đây hầu như đều đồng ý về nhận định này. Câu hỏi tiếp theo được đặt ra là tại sao trong một thời gian dài tới mưòi thế kỷ như vậy mà nguồn tư tưởng nòng cốt của sinh hoạt chánh trị, văn hóa, xã hội và luôn cả kinh tế của người Trung Hoa đó đã không được phổ biến sâu rộng ở nước ta? Có phải là vì nó đã được “du nhập bằng con dường nô dịch”[1] hay vì “nó tượng trưng cho sự kỳ thị và áp bức dân tộc”[2] nên không được nguời Việt Nam hưởng ứng hay còn có những nguyên nhân nào khác? Trong bài này người viết chỉ cố gắng góp một phần nhỏ vào việc đi tìm những giải đáp cho câu hỏi nêu trên bằng cách duyệt lại những nhận định của các nhà nghiên cứu thời trước và hiện tại dựa vào những tài liệu đã được rộng rãi lưu hành nhưng chưa được tận dụng khai thác. Công việc tìm kiếm, đào xới chắc chắn còn phải được thực hiện nhiều hơn nữa vì đây là một vấn đề then chốt liên hệ đến những diễn tiến sau này của lịch sử và văn hóa dân tộc. Bài viết bao gồm ba phần chính, bắt đầu bằng những dữ kiện đã được ghi nhận, tiếp theo là thực trạng của việc truyền bá và sau đó là những lý do khiến cho Nho Giáo đã không được truyền bá sâu rộng ở Việt nam dưới thời Bắc thuộc.

 

Những dữ kiện đã được ghi nhận

 

Các nhà nghiên cứu lịch sử, tư tưởng và văn học Việt Nam từ Ngô Sĩ Liên[3], Ngô Thời Sĩ[4], các tác giả của bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục[5] thời Nhà Nguyễn đến các học giả cận đại và đương thời như Trần Trọng Kim[6], Dương Quảng Hàm[7], Lê Thành Khôi[8] các tác giả của Lịch Sử Việt Nam, tập I xuất bản ở Hà Nội năm 1971[9] và 1991[10]đều ghi nhận những sụ kiện liên hệ tới Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp, Lý Cầm, Lý Tiến, Trương Trọng, Khương Công Phụ, các trí thức người Trung Hoa chạy sang Cổ Việt dưới thời Vương Mãng hay sau khi Hán Linh Đế mất… như là những sự kiện liên hệ tới việc Nho Giáo được truyền bá vào nước ta. Sự kiện này khởi đầu bằng việc Tích Quang dạy dân lễ nghĩa, Nhâm Diên bắt dân lấy vợ, lấy chồng, xuyên qua việc Sĩ Nhiếp “ham đọc Xuân Thu, Tả Thị Truyện, trọng đãi nhân sĩ… và phát triển đến tột đỉnh bằng việc Khương Công Phụ đậu tiến sĩ thời Nhà Đường.

 

Thực trạng của việc truyền bá

 

Các nhà Nho khi nghiên cứu về các dữ kiện kể trên không đi sâu hơn vào chi tiết mà chỉ khẳng định về thời điểm mở đầu. Về Tích Quang và Nhâm Diên chẳng hạn, Ngô Sĩ Liên đã ghi nhận là “Văn phong của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy.”[11] Về Sĩ Nhiếp, ông viết “Nước ta đưọc thông thi thư, tập lễ nhạc làm một nưóc văn hiến là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà có thể truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao?[12]-[13]Ngô Thời Sĩ cũng theo nhận định này. [14] Sĩ Nhiếp đã được coi là Nam Bang Học Tổ cho mãi đến khi Trần trọng Kim xuất bản Việt Nam Sử Lược vào năm 1928, vai trò này của họ Sĩ mới được đặt lại. Tác giả họ Trần đã viết như sau:

“Nhà làm sử thưòng cho nước ta có văn học là khởi đầu từ Sĩ Nhiếp. Cái ý kiến ấy có lẽ không phải. Vì rằng từ khi Nhà Hán sang cai trị đất Giao Chỉ đến đời Sĩ Nhiếp đã được hơn 300 năm, người Giao Chỉ đã có người học hành, thi đỗ hiếu liêm, mậu tài. Vậy nói rằng đến ông Sĩ Nhiếp mới có Nho học thì chẳng sai lầm lắm ru? Hoặc giả ông ấy là người có văn học rồi trong khi làm quan, lo mở mang sự học hành, hay giúp đỡ những kẻ có chữ nghĩa, cho nên về sau mới được cái tiếng là làm học tổ ở nước ta, tưởng như thế thì có thể hợp lẽ hơn.”[15] Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu [16]và Ngô Tất Tố trong Văn Học Đời Lý[17] đã đi xa hơn.

 

Ngô Tất Tố đã thẩm định thực trạng của việc truyền bá văn hóa Trung Quốc nói chung và Nho học vào nước ta nói riêng như sau:

“Nước ta theo học chữ Hán kể đã lâu lắm, một là từ Sĩ Nhiếp, hai là từ dời Tích Quang, ba là từ đời Triệu Dà. Không cần biết là từ đời nào, chúng ta có thể nói quả quyết rằng: Cái học từ đời Bắc Thuộc trở đi đến đời Nhà Ngô, chỉ là học để giao thiệp với người Trung Hoa, không phải học để thâu thái văn hóa của họ. Sự học ấy hãy còn lỗ mỗ, sơ lược, cho nên trong hơn nghìn năm, nó không để lại cho ta một dấu vết gì.”[18]

 

Dấu vết Ngô Tất Tố viết ở đây là dấu vết văn học. Đứng trên bình diện sử học, dấu vết là những sự kiện liên hệ tới những nhân vật lịch sử, những Lý Cầm, Lý Tiến, Khương Công Phụ, Khương Công Phục… Những dấu vết tuy còn nhưng cũng không có gì đáng kể vì con số những người theo đòi Nho học được ghi lại không là bao nhiêu so với con số hơn một ngàn năm Bắc thuộc. Không những thế, những nhân vật được sách vở ghi lại này chưa chắc đã hoàn toàn là người bản xứ mà rất có thể là những di dân hay con cháu các di dân và các quan lại người Trung Hoa. Trường hợp của anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục là trường hợp điển hình, vì ông nội của hai người này, Khương Thần Dực, là thứ sử của châu Thư, được gửi sang kinh đô Trường An của Nhà Đường du học, do đó mới có dịp thi và đậu tiến sĩ.[19]

 

Về bản chất của việc truyền bá Nho học, những gì được ghi lại cũng rất mơ hồ. Tích Quang thì “đem lễ nghĩa dạy dân, Nhâm Diên thì “gửi thư đi các huyện trực thuộc, bắt đàn ông con trai từ hai mươi đến bốn mươi tuổi bằng đôi phải lứa phải lấy nhau”. Những quyết định nặng về truyền bá phong tục nhằm đồng hóa người Việt theo văn hóa Trung Hoa hơn là truyền bá Nho học. Về Sĩ Nhiếp, người sau này được tôn là Sĩ Vương và Nam Bang Học Tổ, thì từ phong cách đến hành động chẳng có gì cho phép người ta ghi nhận là đã có công truyền bá Nho học vào Cổ Việt, ngoại trừ căn bản học vấn của ông[20] và việc ông trọng đãi trí thức Trung Hoa sang nương tựa nơi ông. Việc giảng giải kinh truyện, chăm xem sách vở của Sĩ Nhiếp chỉ là những việc làm của ông khi rảnh việc quan và giới hạn trong hàng ngũ trí thức từ Trung Hoa sang và sống chung quanh ông hơn là được hướng vào dân bản xứ. Còn khi ra ngoài thì ông dùng tất cả những nghi vệ phiền toái với chuông khánh uy nghi, kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường lên tới mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe che kín, các con em cưỡi ngựa đi theo… Với cung cách như vậy khó mà ông có thể gần gũi với giới trí thức bản xứ, chưa nói tới quần chúng được. Chính vì vậy Tự Đức đã có lý khi nhà vua viết về họ Sĩ như sau:

“Sĩ Nhiếp chẳng qua là một thái thú nhà Hán, tùy thời nịnh hót, cầu sao cho mình được an toàn, chứ không có mưu lược, tài cán gì giỏi cả, đến nỗi truyền được hai đời đã mất, có gì đáng khen! Thế mà sử gia cũ cho rằng Úy Đà cũng không hơn được, chẳng cũng là lời khen quá đáng ư!”[21]

 

Ngay cả người Trung Hoa đồng thời với Sĩ Nhiếp như Lưu Ba cũng không chấp nhận nổi viên thái thú này. Lưu Ba người quận Linh Lăng, được Lưu Biểu mấy lần mời ra làm quan, chẳng chịu đến. Khi gặp loạn, ông chạy qua Giao Châu “cùng Sĩ Nhiếp bàn luận chẳng hợp ý, lại vào đất Thục, được Gia Cát khen ngợi dùng làm chức thượng thư. Lưu Ba tánh người thanh liêm kính cẩn, bao nhiêu xưng hiệu, sách mệnh của Tiên Chúa, đều do tay ông làm ra,”[22]

Những sự kiện như Lưu Hi, Hứa Tĩnh mở trường dạy học ở Luy Lâu và Long Biên có thể chỉ nhằm vào con cháu các quan lại, di dân người Trung Hoa chứ không phải nhằm truyền bá Nho học vào người dân bản địa. Cũng vậy với Ngu Phiên. Tất cả đều xảy ra trong thời Hán mạt, thời các sĩ phu chạy sang lánh nạn ở nước ta rất nhiều. Thêm vào đó, ta cũng nên để ý tới sự kiện là người Trung Hoa rất nặng tinh thần gia tộc. Họ không ra đi một mình mà đã mang theo gia đình đông đảo, kèm theo với một hy vọng trở về. Việc giáo dục nhắm vào giới trẻ trong hàng ngũ họ do đó đã trở thành một nhu cầu cần phải được đáp ứng chứ không phải nhắm vào dân bản xứ.

Các nhà nghiên cứu sử học hiện tại cũng chia sẻ chung nhận định là Nho giáo chưa thể được coi là thịnh trong thời Bắc Thuộc được.[23] Các bằng chứng được nêu lên là số người tham gia thi cử và đỗ đạt đều thuộc tầng lớp trên của xã hội và không được là bao. Kèm theo là sự hạn chế số sĩ tử An Nam được thi tiến sĩ và minh kinh vào năm 845 dưới thời Nhà Đường: 8 người cho khoa tiến sĩ và 10 người cho khoa minh kinh.[24]

 

Điều ta cần phải phân biệt ở đây là việc học chữ Hán và các phong tục của người Trung Hoa dẫn xuất từ Nho giáo một bên và việc phổ biến Nho giáo như một học thuyết với các kinh điển riêng của nó nhằm đào tạo nhân tài cho chính quyền đô hộ một bên. Phân biệt như vậy, người ta sẽ thấy rõ hơn là dưới thời Bắc Thuộc chữ Hán như một văn tự dùng trong chính quyền đương thời và những điều lễ nghĩa, đúng hơn, phong tục, tập quán của người Trung Hoa, đã được truyền bá khá sâu rộng trong quần chúng bản xứ để sau này, trong buổi đầu của thời độc lập, người Việt đã có thể tự điều hành được chính quyền riêng của mình. Còn Nho Giáo thì đã bị hạn chế. Việc học ở trình độ này chỉ được phổ biến ở tầng lớp trên, đúng hơn trong hàng ngũ các di dân người Trung Hoa ngay từ thời Sĩ Nhiếp và sau này dưới thời Nhà Đường với anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục. Chính vì vậy mà trong suốt các triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê và đầu Triều Lý, vương quyền ở Việt Nam đã không mang những tính cách của Nho Giáo như trong các giai đoạn sau này và đã bị các Nho gia như Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên chỉ trích. Cũng chính vì thế mà Lê Long Đĩnh đã sai em là Minh Sưởng và chưởng lý là Hoàng Thành Nhã sang sứ Nhà Tống vào năm 1007 để xin Cửu Kinh của Nhà Nho và Kinh Đại Tạng của Nhà Phật.[25] Sự kiện xin kinh này có thể hiểu bằng hai cách. Cách thứ nhất là trước đó các kinh của Nhà Nho chỉ được phổ biến trong giới thống trị và di dân người Trung Hoa nên đã bị tiêu hủy mau chóng trong những ngày đầu của thời độc lập cùng với chính quyền thuộc địa. Cách thứ hai là việc học ở cấp cao để các học sinh có thể thông hiểu được các kinh sách đã không diễn ra ở Cổ Việt mà ở kinh đô của chính quốc. Chính vì vậy mà anh em họ Khương mới được gửi sang du học ở kinh đô Trường An của Nhà Đường.

Một sự kiện khác cũng cần phải được ghi nhận ở đây là việc Lê Đại hành đã dùng một nguời Trung Hoa thông hiểu kinh và sử của Đạo Nho làm thái sư.[26] Tại sao lại phải dùng một người Trung Hoa thay vì một người Việt? Phải chăng là vì không có ngưòi bản xứ thông hiểu các kinh sách này?

Về việc phổ biến chữ Hán, chúng ta cũng cần phải hiểu thêm là ngoài chính quyền đô hộ, các chùa của Phật Giáo và các đền của Đạo Giáo cũng đóng những vai trò vô cùng quan trọng do nhu cầu của chính những tôn giáo này. Qua các chùa và đền thờ chữ Hán mới ăn sâu vào quần chúng bản xứ. Cũng vậy với quan niệm vô vi trong chính trị của Lão Tử mà người viết sẽ trình bày trong một bài khác.

 

Tại sao Nho Giáo không được phổ biến sâu rộng ở Việt Nam dưới thời Bắc Thuộc?

 

 Ngô Tất Tố gián tiếp trả lòi câu hỏi này. Ông cho rằng đó là vì trong thời này dân ta chỉ học để giao thiệp với người Trung Hoa như đã dẫn ở trên. Các tác giả của Lịch Sử Việt Nam, tập I, xuất bản trong các năm 1971 và 1991 ở Hà Nội thì cho rằng đó là vì “kẻ thống trị nước ngoài chỉ nhằm đào tạo cho bộ máy cai trị của chúng một số thuộc viên làm tay sai mà thôi”[27]hoặc nếu kinh điển của Nho gia có được đem giảng dạy tại các trường thì “theo học các trường này là con em bọn quan lại, địa chủ Hán tộc và một số con em tầng lớp trên của xã hội mà kẻ ngoại xâm dựa vào để cai trị”. [28] Đi xa hơn nữa các vị này lại nhận định rằng “việc truyền bá Nho Giáo vào đất Việt trong những điều kiện đô hộ nhất định vấp phải sự chống đối (chống hỗn dung văn hóa) của người Việt và không thể phát triển một cách thuận lợi được.”[29] “Sự hưởng ứng của người Việt không có là bao vì nó tượng trưng cho sự kỳ thị và áp bức dân tộc.”[30] Nó tượng trưng cho “chính sách nô dịch nặng nề về tư tưởng, văn hóa đối với nhân dân ta. Đó là chính sách đồng hóa.”[31] Những nhận định này không phải là không có phần đúng nhưng quá đơn giản cần phải được xét lại.

 

Trước hết trong danh sách các quan lại Trung Quốc được cử sang cai trị Cổ Việt và được ghi lại trong An Nam Chí Lược của Lê Tắc gồm 153 người từ Đặng Huân đến Cao Biền, Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp, Đỗ Tuệ Độ mà các nhà khảo cứu thường nhắc tới, nguời ta thấy chỉ có Mã Tổng làm An Nam đô hộ đời Đường Hiếu Tông (806-820) và Mã Thực làm đô hộ đời Đường Văn Tông, đầu niên hiệu Khai Thành (836) là có những biện pháp phổ biến văn hoá Trung Quốc vào nước ta. Mã Tổng được ghi là đã “dùng Nho thuật giáo hóa, dân mọi được yên”, còn Mã Thực thì “lấy văn nhã trau dồi.” [32] Con số các quan lại Trung Hoa để ý đến việc truyền bá văn hóa Trung Hoa cho dân chúng bản dịa phương nam như vậy có thể đếm trên đầu ngón tay sau suốt hơn mười thế kỷ Bắc thuộc cho phép người ta nghi ngờ chính sách đồng hóa của họ. Phải chăng trong suốt thời gian này ngưòi Trung Hoa mới chỉ có đủ khả năng để đồng hóa miền đất mới gần hơn với bản địa của họ. Đó là miền đất căn bản của Triệu Đà. Đối với Cổ Việt, chính sách cốt yếu của họ chỉ là làm sao duy trì được chính quyền đô hộ và giữ cho dân chúng khỏi nổi loạn mà thôi. Chánh sách này thành công hay không tùy thuộc vào khả năng và tư cách của các thứ sử, thái thú và sau này là các đô hộ cũng như sự hiện diện và thái độ của của các di dân từ phương bắc tới mà Bùi Quang Tung đã nêu lên trong bài nhận định về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng của ông.[33] Tựu trung nó đã bị thất bại. Từ sự lạc quan, phấn khởi buổi đầu, coi Cổ Việt là những quận huyện của Trung Quốc, sự thiết lập An Nam Đô Hộ Phủ thời Nhà Đường đã nói lên sự thất bại này. Cổ Việt dưới thời Nhà Đường đã trở thành một xứ miền Nam đối với Trung Quốc, tương tự như các miền Liêu Đông hay các xứ của người Mông Cổ và các dân du mục khác ở phía tây của đế quốc Trung Hoa. Từ các châu, quận, huyện, Cổ Việt đã trở thành phần đất ngoại vi của Trung Quốc. Cổ Việt đối với Nhà Đường không phải là Trung Quốc.[34] Nỗ lực đồng hóa của người Trung Hoa ở Cổ Việt do đó chỉ là nỗ lực hiếm hoi của một thiểu số vô cùng nhỏ bé của các quan lại của họ được cử sang cai trị nước ta. Nó được hỗ trợ bởi các di dân của họ ở vào một vài thời điểm đặc biệt thay vì là một nỗ lực liên tục và trường kỳ. Chính vì vậy nó chỉ giới hạn ở việc phổ biến chữ Hán và một số phong tục, tập quán thay vì Hán học hay Nho học hiểu theo đúng nghĩa của những từ ngữ này, và phổ biến ở những lỵ sở hành chánh.

 

Nhận định kể trên có thể được củng cố hơn nếu ta để ý tới ý kiến của các quan lại Trung Quốc về Cổ Việt trong các sớ tấu về triều đình của họ. Có thể nói là tất cả các nhân vật này đều có chung một nhận định là Giao Chỉ, sau này là Giao Châu, là một miền đất quá xa với triều đình Trung Quốc, khí hậu lại độc địa, dân chúng hay nổi loạn, bên ngoài thì người Chàm và các dân tộc khác lại thường xuyên cướp phá. Điển hình trong số các quan lại này là Tiết Tống, Đào Hoàng, Lưu Thiện, Châu Xưởng, và Chu Thặng với các bài sớ của họ được Lê Tắc ghi lại trong tác phẩm An Nam Chí Lược của ông.

 

Tiết Tống là thái thú Giao Chỉ và Hợp Phố đời Ngô, người đã cùng với Lữ Đại đánh dẹp Sĩ Huy. Khi Lữ Đại biệt triệu về Trung Hoa, Tiết Tông dâng sớ về triều đình nhà Ngô trần tình về tình trạng Giao Chỉ và đề nghị nếu Lữ Đại không được trở lại nữa thì viên thứ sử mới phải là người tài giỏi, có mưu trí, có kế hoạch mới cai trị nổi xứ này. Trong sớ ông đã miêu tả Cổ Việt là “sông núi dài mà xa, tập tục không giống nhau, người không có tôn ty, dân không biết lễ nghĩa, dù có đặt quan cai trị cũng xem như không có.”[35]

Đào Hoàng là thứ sử Giao Châu dưới thời nhà Ngô. Khi nhà Ngô mất, nhà Tấn lên thay, ông đã dâng thư lên vua Tấn yêu cầu ngưng triệt hết quân lính ở xứ này. Nhận định của ông về Giao Châu là châu này “là giải đất chưa mở mang, ở một phương trời xa cách, phải hai ba lớp thông ngôn mới hiểu, liên tiếp với mấy hòn đảo giữa biển, ngoài cách nước Lâm Ấp chỉ vài ngàn dậm, tướng Mọi là Phạm Hùng trốn chỗ hiểm trở, làm giặc đã mấy đời, tự xưng làm vua, hay xâm phạm nhân dân; địa giới gần với Phù Nam, chủng loại rất đông, phân chia nhiều phe đảng, nương nhau chỗ hiểm yếu, không chịu qui thuộc; hồi trước thuộc họ Ngô, họ hay cướp bóc lương dân, giết hại quan trưởng lại.”[36] Không những thế, khí hậu ở đây lại độc địa. Quân đội đưa sang sau hơn chục năm ba phần chết mất quá hai. “Ban đầu số quân lính do tôi thống suất là 8.000 người. Nhưng Nam thổ ẩm thấp và nhiều khí độc, vả lại thường năm phải đánh giặc, khiến cho nhiều quân lính bị chết, hao mòn rất dông, hiện chỉ còn 2.400 người thôi.”[37]

Đời nhà Tề, thái thú hai quận Hoài Nam và Tuyên Thành là Lưu Thiện cũng dâng biểu trần tình về vấn đề Giao Châu, mở đầu bằng câu: “Đất Giao Châu ở ngoài cõi hoang nhàn mà hiểm trở…”[38]

Trước đó Châu Xưởng là thái thú Giao Chỉ trong năm Vĩnh Hoà thứ 6 (141) nhà Hán cũng nhấn mạnh đến tính cách xa xôi của Giao Chỉ.[39]

Chu Thặng cũng vậy. Ông này còn diễn tả một cách bi thảm hơn. Theo ông: “Giao Châu là nơi tuyệt thực, tập tục tham ô, các họ hào cường thì gian dối, các trưởng sử thì bạo ngược, hà hiếp, bóc lột nhân dân.”[40]

 

Dưới thời nhà Tống, khi Tống Thái Tông dấy binh đánh Giao Chỉ, không được thắng lợi, Chinh Nam Mã Bộ Quân Chuyển Vận Sứ Hứa Trọng Tuyên, xuất thân tiến sĩ, đã dâng sớ điều trần, phản kháng. Theo Hứa Trọng Tuyên “Giao Chỉ oi bức độc địa, quân lính chưa giao chiến mười phần đã chết mất hai ba”.[41]

 

Trong hoàn cảnh như vậy, các quan lại Trung Quốc được cử sang trấn nhậm Cổ Việt khó mà có được tinh thần đem văn hóa Trung Quốc sang truyền bá cho dân bản địa đến nơi đến chốn. Trường hợp của Tích Quang, Nhâm Diên, Đỗ Tuệ Độ…chỉ là những trường hợp hiếm hoi. Nhiều người như Lư Tổ Thượng, tài kiêm văn võ, tính tình liêm bình, công trực, đầu niên hiệu Trinh Quán (627) được Đường Thái Tôngcho làm đô đốc Giao Châu, đã nhận lời, sau lại từ chối. Vua sai người khuyên dỗ. Tổ Thượng vẫn từ chối. Vua lại nhờ anh vợ của ông là Châu Phạm dụ rằng: “Kẻ thất phu hứa vói nhau vẫn còn giữ tín. Khanh đã hứa trước mặt trẫm, há được ăn năn, nên hãy sớm đi qua, ba năm ắt có chiếu triệu về. Khanh chớ thối thác, trẫm quyết chẳng nuốt lời.”Thượng tâu rằng: “Lĩnh Nam nhiều chướng khí, đã đi không trở về.” Đường Thái Tông nổi giận phán rằng: Ta khiến ngươi không chịu đi, làm sao làm việc nước cho đặng?” Bèn khiến chém ngay ở trước triều đường.[42] Một trường hợp khác là trường hợp của Lý Đạo Hưng. Hưng là tôn thất nhà Đường, được phong làm Quảng Ninh Vương, sau vì có lỗi bị giáng xuống làm Huyện Công và năm Trinh Quán thứ 9 (635) làm đô đốc Giao Châu. Vì ở đây khí hậu độc, Hưng lo lắng và chết trong lúc làm quan.[43]

 

Trường hợp của Lý Đạo Hưng là trường hợp của rất nhiều quan lại Trung Quốc được cử sang cai trị Cổ Việt. Miền đất xa xôi, độc địa, đầy bệnh tật đối với người Trung Hoa và dân chúng thường xuyên nổi loạn này đã trở thành đất của những kẻ bị lưu đầy hay bị biếm hoặc bị lỗi lầm phải đổi. Trước thời nhà Đường số người bị đầy qua nước ta tương đối ít và được Lê Tắc kể chung với những người sang cư ngụ ở đây. Ba người được kể tên là Cố Đàm, nguyên làm thượng thư bị vu tội phải đầy qua Giao Chỉ cùng với em là Cố Thừa và Trương Hưu, cùng thời với Cố Đàm. Cố Thừa bị kết tội là công thự gian dối, bị đầy qua Giao Châu và sau đó bị vua giáng chiếu bắt tự tử. [44]Dưới thời nhà Đường số người bị biếm, bị đầy hoặc bị lỗi lầm và bị đổi sang Giao Châu nhiều hơn gấp bội. Các nhân vật được Lê Tắc ghi lại trong tác phẩm của ông gồm có Cao Kiện, Bùi Kiền Thông, Vương Phúc Trĩ, Lý sào, Lý Hữu, Thẩm Thuyên Kỳ, Hàn Tư Ngạn, Lư Tàng Dụng, Tống Tấn Khanh, Lý Càn Hựu, Nghiêm Thiện Tư, Đậu Sâm, Lý Nhân Quân, Bùi Di Trực, Dương Thu, Trần Bàn tẩu, Lưu Chiêm[45], Đỗ Chính Luân, Chử Toại Lương, Sài Triết Uy, Lang Dư Khánh, Tống Chi Đễ.[46]

 

Đối với các trí thức Trung Hoa sang tị nạn ở nước ta mà niều người cho là đã góp phần không nhỏ vào việc ruyền bá Nho Học cho người bản xứ, vấn đề cũng còn cần phải được xét lại kỹ càng hơn vì một số không nhỏ những người này sau đó đã trở về Trung Quốc. Nhiều người trong thời gian ở Giao Chỉ đã có thái độ tiêu cực, ẩn mình không làm gì như Hồ Cương, cháu bốn đời của thái phó Nhà Hán là Hồ Quảng, là người khí tiết thanh cao. Gặp lúc Vương Mãng soán ngôi, ông đã treo mũ ở cửa phủ mà đi. Lưu lạc ở Giao Chỉ, ông ẩn mình làm hàng thịt, đến khi Vương Mãng bị thất bại mới trở về Trung Hoa.[47] Hứa Tĩnh thời Tam Quốc cũng chạy qua Giao Chỉ nương náu nơi Sĩ Nhiếp, sau lại về Trung Hoa, phục vụ Tiên Chúa của nước Thục, được cử làm thái thú, rồi tư đồ.[48] Lưu Ba, như đã dẫn trên, cũng vậy. Còn Trương Dung thời Tống Văn Đế thì nói rằng “ăn cá khô mà về được quê nhà lọ cầu ăn nem thịt mà làm gì?”[49] Thái độ này chắc chắn không thể nào đưa họ tới những nỗ lực truyền bá Nho học ở nơi họ tạm trú được. Công việc dạy dỗ của họ nếu có chỉ là nhắm vào con cháu trong nhà hay bạn bè hay con cháu những người chứa chấp và nâng đỡ họ trong thời gian họ luân lạc mà thôi. Quân chúng bản xứ khó mà có dịp tiếp xúc với họ, chưa kể tới chuyện họ có học tiếng bản xứ hay không.

 

Cuối cùng, nhìn vào trường hợp của người đi học. Vì việc mở mang việc học của các thứ sử, thái thú, sau này là đô hộ, chỉ nhằm huấn luyện những lại thuộc chứ không phải là để đào tạo nhân tài nên người bản xứ và luôn các con cháu các quan lại và di dân đã trở thành bản xứ muốn học đến nơi đến chốn và nhất là sau này dự thi, phải sang Trung Hoa và đến tận kinh đô mới đạt được nguyện vọng. Sự hy sinh và chịu đựng gian khổ cũng như sự tốn kém chắc chắn đã vượt xa khả năng của dân bản xứ nghèo nàn, chưa kể tới nạn kỳ thị của vua tôi người Trung Hoa ở chính quốc.[50] Ta không có thật đầy đủ chi tiết nhưng cứ nhìn vào những sự kiện xảy ra chung quanh các trí thức được sử sách ghi lại cũng được rõ một phần nào. Chắc chắn không phải người nào cũng có cái may mắn của anh em nhà họ Khương. Còn về đường xá xa xôi, ta có trường hợp của Liêu Hữu Phương là trường hợp điển hình. Từ Giao Châu đến Trường An, họ Liêu phải đi đường sông rồi dọc theo bờ biển 250 dặm, sau đó 1.200 dặm đượng bộ.[51] Họ Khương đã vượt được con đường thiên lý xa xôi, hiểm trở đó. Họ Liêu cũng đã thành công. Nhưng còn có biết bao nhiêu người khác đã không bao giờ dám mơ ước tới hay đã ráng sức mình nhưng nửa đường phải bỏ dở hay bỏ xác dọc đường hoặc đem thân làm mồi cho cá mà sử sách không bao giời biết tới? Cái học trong thời Bắc thuộc như thế chắc chắn không hấp dẫn đối với người dân bản xứ. Giới trẻ Cổ Việt trong thời gian này đã đi tìm tương lai trong những phạm vi hoạt động khác hơn là cắp sách đến trường. Do đó người ta phải đợi đến đến phần tư thứ ba của thế kỷ XI, dưới thời Nhà Lý, Nho học ở nước ta mới thực sự có dịp phát triển.

 

Tiến sĩ Phạm Cao Dương

 (California)

(Hợp Lưu 117)

 

 



[1] Ủy Ban Khoa Học Xã Hội. Lịch Sử Việt nam, tập I. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1971, tr. 104 và 107.

 

[2] Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Minh. Lịch Sử Việt Nam, tập I. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Đại Học và Giáo Dục Chuyên Nghiệp, 1991, tr. 316.

 

[3] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản dịch của Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo chứng, tập I. Hà Nội: Nhà Xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1967; bản dịch của Ngô Đức Thọ. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1993.

 

[4] Việt Sử Tiêu Án, bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên lạc văn Hóa Á Châu. Sai Gon: Văn Hóa Á Châu, 1960.

 

[5] Bản dịch của Viện Khảo Cổ Saigon, các quyển đầu, nhất, nhì và ba. Saigon: Viện Khảo Cổ, 1060-1970; bản dịch của Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp (Tổ Biên Dịch) Viện Sử Học, tập I. Hà Nội: Viện Sử Học, 1998.

 

[6] Việt nam Sử Lược. Saigon: Tân Việt, in lần thứ bảy, 1964. Saigon: Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu, 1971, Đại Nam tái bản ở Hoa Kỳ, không đề năm ấn hành.

 

[7] Việt Nam Văn Học Sử yếu. Saigon: Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu tái bản lần thứ mười, 1968.

 

[8] Le Vietnam, Histoire et Civilisation. Paris: Ed. de Minuit, 1955;  Histoire du Vietnam des Origines à 1858. Paris: Sudeatasie, 1981.

 

[9] đã dẫn.

 

[10] đã dẫn.

 

[11] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản dịch của Cao huy Giu, đã dẫn, tr. 89;

 

[12] Viện Đại Học Huế, 1961, tr. 178.

 

[13] đã dẫn

 

[14] Việt Sử Tiêu Án, đã dẫn, tr. 38.

 

[15] Việt Nam Sử Lược, đã dẫn, tr. 43.

 

[16] đã dẫn, tr. 54.

 

[17] Việt Nam Văn Học, Văn Học Đời Lý. Houston, Texas: XuânThu tái bản, không đề năm.

 

[18] - nt-.

 

[19] Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Lịch Sử Việt Nam, tập I, đã dẫn, tr. 127; Keith Taylor. The Birth of Vietnam. Berkeley: University of California Press, 1983, tr. 217-218. Trên mạng, Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia lại ghi Khương Thần Dực là thứ sử Châu Ái, tương xứng với vùng Thanh Hoá hiện tại.

 

[20] Ông này hồi trẻ đi du học ở kinh đô, đậu hiếu liêm, sau lại đỗ mậu tài, ham đọc Xuân Thu Tả Truyện.

 

[21] Việt Sử Thông Giám Cương Mục, đã dẫn, tr. 99, Lời phê của Vua Tự Đức.

 

[22] Lê Tắc, An Nam Chí Lược,bản dịch của Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam, Viện Đại Học Huế. Huế, 1961, tr. 178.

 

[23] Ủy Ban Khoa Học Xã Hội, Lịch Sử Việt Nam, tập I. đã dẫn, tr. 127.- Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Vă n Tấn, Lương Minh, Lịch Sử Việt Nam, tập I, đã dẫn, tr. 316.

 

[24] Ủy Ban Khoa Học Xã hội, Lịch Sử Việt Nam, Tập I, đã dẫn, tr. 127.- Lê Tắc, An Nam Chí Lược, đã dẫn, tr. 251.

 

[25] Việt Sử Cương Mục. đã dẫn, tr. 251.

 

[26] Ngô Sĩ Liên, đã dẫn, tr. 173. – Ngô Thời Sỹ, đã dẫn, tr. 97. – Ngô Thời Sỹ chép tên người này là Hồng Du.

 

[27] bản 1971, đã dẫn, tr. 94.

 

[28] -nt-.

 

[29] bản 1991, đã đẫn, tr. 252.

 

[30] -nt-, tr. 316.

 

[31] bản 1971, tr. 94.

 

[32] Lê Tắc, An Nam Chí Lược, đã dẫn, tr. 166-167. Về dnh sách các quan lại Trung Quốc đã từng sang cai trị Cổ Việt, xin đọc cùng tác phẩm, tr. 139-169. Cũng vậy, trong Việt Sử Lược, Trần Quốc vượng dịch và chú giải. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Văn Sử Địa, 1960, tr. 19-39.

 

[33] Bùi Quang Tung, “Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng Dưới Mắt

 

Sử Gia”, trong Đại Học, Tạp Chí Nghiên Cứu của Viện Đại Học Huế, số 10, tháng 7 năm 1959, tr. 1-16.

 

[34] Phạm Cao Dương, Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam, Quyển I: Thời Kỳ Lập Quốc. Fountain Valley, California: Truyền Thống Việt, 1987, tr. 13.

 

[35] đã dẫn, tr. 112.

 

[36] -nt-, tr. 114.

 

[37] -nt-.

 

[38] -nt-, tr. 115.

 

[39] -nt-, tr. 141.

 

[40] -nt-

 

[41] -nt-, tr. 255.

 

[42] -nt-, tr. 161.

 

[43] -nt-, tr. 162.

 

[44] -nt-, tr. 178.

 

[45] -nt-, tr. 180-183.

 

[46] -nt-, tr. 162-163.

 

[47] -nt-, tr. 176.

 

[48] -nt-.

 

[49] -nt-, tr. 179.

 

[50] Trường hợp của Tinh Thiều, một cộng sự viên của Lý Bôn là một trường hợp điển hình.

 

[51] Taylor, sách đã dẫn, tr. 219.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 835)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 858)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1159)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1021)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1235)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1349)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1308)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1180)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1748)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 1897)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9311)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16143)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15162)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15503)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 835)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1159)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1235)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1747)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3488)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5285)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4824)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5449)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1020)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1346)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1667)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1659)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1301)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1179)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1456)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1512)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12187)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28570)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35067)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34968)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9694)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11919)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 858)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1159)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1747)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 1896)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2204)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6937)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6345)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8299)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.