- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,732

Hãy Chết Đi, Nguyễn Huy Thiệp...

22 Tháng Tư 201212:00 SA(Xem: 85643)



nhavan_nguyenhuythiep_2-content

Cách đây hai tuần, trong khi đang tập nhị khúc, một bộ môn bắt buộc của Taekwondo, tôi bỗng phát hiện ra ngực mình nổi lên một cục nhỏ như khối u. Khối u rất kỳ dị. Ngự ngay giữa phần hõm của lõm ngực. Chính xác, đầu hơi chếch về bên phải một chút. Đụng vào nhói đau và khi ấn nó đã chạy như có chân. Sự phát hiện bất ngờ làm tôi tê điếng. Dù rất hoảng hốt, tôi vẫn không nói với ai. Chỉ thận trọng theo dõi. Cảm giác đầu tiên ập vào tôi và đánh chiếm lớn dần sau đó là những gương mặt đã chết vì căn bệnh ung thư. Thời gian vừa qua tôi đã tiễn đưa khá nhiều bạn bè và có người thân yêu đến mức sau đó tôi buộc phải gác lại tất cả công việc riêng để ngồi vào bàn thực hiện Di cảo để lại theo lời trăn trối của họ. Không lẽ bây giờ tới lượt mình sao? Tôi không dám nghĩ về điều đó. Vậy khối u chạy trong ngực là gì?



Trước cái chết hiển dụ, tôi thấy mình chưa chuẩn bị được gì và quá bỡ ngỡ. Vợ dại, con thơ, nợ nần, cơm áo… là những “nỗi đau” trần thế nhưng lúc này nghe nhói lòng nếu mình có vé bị loại khỏi cuộc chơi, không còn quyền “can dự” nữa! Ôi cái cuộc đời dã man, mật ngọt, đau đớn và phù du. Nó là cái gì mà chúng ta cứ níu kéo, chì chiết mãi thế? Không thể dứt bỏ!... Nó bí ẩn khôn khuây, tuyệt vọng và tàn bạo! Nó như cái thế giới hỗn loạn được xây dựng và cắt ra từ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Đó là Quỷ ở với người, Cún, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Chảy đi sông ơi, Thương nhớ đồng quê, Thương tất cả cho đời bạc [1]...

Trong thời gian đấu tranh để có thể đủ cam đảm đến bệnh viện xét nghiệm, tôi đã phải đối mặt với các câu hỏi những gì đã từng thụ hưởng về văn hóa trong cuộc đời quá ngắn này liệu còn ý nghĩa? Kẻ lên đường sau bao nhọc nhằn “chiến đấu” những gì mang theo và ai mới là người đáng kể? Thật bất ngờ ở “điểm chết” này tôi đã nhận ra tầm vóc hết sức lớn lao trong những ẩn ngữ văn chương của Nguyễn Huy Thiệp. Y, con phù du lớn nhất. Một tên ngoại hạng. Một tay ngoại cỡ. Một bút pháp điếm loạn viết về cái ác mà không ghê tay. Có thể xem y như người viết về cái ác thành công nhất từ trước đến nay của văn chương chúng ta. Y có thể làm nổi khùng và chửi toáng lên với bất cứ bậc khả kính nào khi đọc văn y nhưng sau đó lại lặng lẽ tẩm ngẩm tầm ngầm đi tìm những tác phẩm mới của y để quét không sót một chữ! Với tôi, trước cái chết, y là tay đáng kể duy nhất và cuối cùng. Vệt sao băng quét qua cuộc đời...

Lạy ơn trên, thật may mắn, khối u của tôi sau gần một tuần đấu tranh đến bệnh viện và siêu âm xét nghiệm kỹ chỉ là vấn đề nhỏ trong y học. Đó là chiếc xương “xương lưỡi kiếm” ẩn sâu trong ngực mà tên Adam nào cũng có. Khi bạn tập tành quá sức như luyện võ, cử tạ… tự khắc nó sẽ “cộm” lên. Sau đó tự khắc nó sẽ lặn đi! Lưỡi kiếm ơi là lưỡi kiếm! Nhưng rõ ràng là tôi không còn bình yên được nữa! Một lưỡi kiếm của Nguyễn Huy Thiệp đã xẹt ngang hồn tôi…

***

Nhiều nhà phê bình vẫn phàn nàn Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn không có tim hay không có lương tâm. Sao y có thể say mê tẩn mẩn tỉ mỉ về cái ác đến bệnh hoạn vậy? Tôi thực sự nghĩ rằng đó là vì tấm lòng và tình yêu cuộc sống quá lớn của ông! Trong tác phẩm mới nhất, Vong bướm cũng thể hiện rất rõ điều ấy!

Người bạn vong niên của Nguyễn Huy Thiệp là nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh, có nói về tính sa đọa của Thiệp gần đây. “Bạn có để ý hai tác phẩm mới của Thiệp không? Toàn ăn chơi, toàn chim bướm! Đó là dấu hiệu của kẻ sắp rời bỏ và tiếc nuối cuộc trần gian này…”. Giăng lưới bắt chim [2] - tập tiểu luận phê bình và Vong bướm - kịch bản chèo, liệu điều ấy có thực không?

Trước hết, phải nhìn nhận khi viết Vong Bướm quan niệm về thi sĩ và nghiệp văn với Nguyễn Huy Thiệp vẫn là hết sức nhăng nhố. Là người từng gây ra những cuộc tranh luận dữ dội “Trò chuyện với hoa thủy tiên” ông đã chỉ trích thẳng về thói rẻ rúng và đốn mạt của bọn làm thơ bằng mấy câu lục bát của Nguyễn Bảo Sinh “Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ / Hôm qua nó bảo dí thơ vào l…/ Vợ tôi nửa dại nửa khôn / Hôm nay lại bảo dí l… vào thơ”. Và đây, ông viết “Tôi không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó; nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa…” [3].

Và ông rất tâm đắc với ghi chú của một viên cò người Pháp về nghề văn - từ một tư liệu tìm thấy trong hồ sơ của nhà văn Giông tốSố đỏ nổi tiếng: - “Viên cò thời Pháp thuộc ghi vào hồ sơ Vũ Trọng Phụng “Vô nghề nghiệp”. Từ trạng thái vô nghề nghiệp chuyển sang trạng thái lưu manh ranh giới chỉ là một cái tặc lưỡi…” [4].


vongbuom-content

Với Vong bướm, rõ ràng là Nguyễn Huy Thiệp vẫn theo đuổi cách nhìn phúng dụ và tinh quái ấy! Cách viết ám chỉ bọn vô công rồi nghề, than mây khóc gió, chỉ rặt tài vặt móc méo chặt câu bẻ chữ dăm câu vần vè xuôi ngược làm trò và rốt cuộc, cuộc đời cuộc đời của đám lưu manh, du thủ du ấy thực chẳng ra gì! Đáng thương thay! Có vẻ như Thiệp muốn dạy bọn làm thơ “không cẩn thận là chuốc vào danh hão, hại thân, thân khổ đấy!...” [5]. Kiểu của Thiệp xưa nay vẫn thế khi viết về các nhà thơ, và đặc biệt là thơ Việt Nam!

Tuy nhiên khi đọc Vong bướm, một lần nữa tôi nhận ra Thiệp là người ít tìm được khoái cảm khi làm tình, lúc chim bướm (!). Trong văn xuôi của ông thể hiện nghiêm trọng điều ấy. Bởi những cuộc tình của ông thường nghiêng về âm mưu, chớp nhoáng, chiếm dụng, cưỡng đoạt, cộc cằn, tục tằn, nóng nảy, thô bạo… thể hiện cái phần thú, phần xác nhiều hơn phần hồn. Mà tình yêu đích thực vẫn do sự thăng hoa của cả hai phần thể xác và tâm hồn cộng lại!Vong bướm tập hợp rất nhiều “gái” - cánh bướm - trên sân khấu nhưng không có cuộc “làm tình” nào ra trò (!). Bởi cốt còn bầm dập, khốn nạn chẳng ăn thua gì huống là vong! Tôi nhớ nhà văn Tô Hoài từng vẽ chân dung thi sĩ Nguyễn Bính, một người bạn cùng thế hệ ông như sau: "thấy gái như ếch vồ hoa, quạ vào chuồng lợn” [6]. Nguyễn Huy Thiệp viết về Nguyễn Bính nhưng lại chia đôi Đạo - Đời và hoàn toàn không thấy say đắm, khoái thú vì tình yêu để nguyện nếu chết thì cũng sẽ hóa thân thành bươm bướm bay lượn trên những giấc mơ ái ân cũng chính là cách "đạt đạo" vậy! Cái vẻ bao dung dáng dấp đại ca về vẻ "đáng thương", "nhầm lẫn" theo cách nhìn "cần được giáo dục cho sáng mắt ra" của Nguyễn Huy Thiệp có vẻ thích hợp cho một trại cải huấn tình dục tuổi mới lớn hơn những nghệ sĩ dấn thân.

 

Vì thế, tôi không thích lắm cái Đạo thuần khiết hay quá tỉnh táo mà ông đặt ra trong Vong bướm. Khi mà trước đó chính ông nhận ra cái chớp mắt sắc sắc không không, vô thường của nó: “Mê mê sảng sảng bon chen hận thù” hay cắt gọt không thừa thãi nén trong mấy câu lục bát quá đỗi tài hoa về cái thói đời nhăng nhố “Ốm đau tử biệt sinh ly / Chợ chiều băm mặt cười khì thế nhân / Đời người giấc mộng phù vân / Chuyến tàu ga xép dừng chân nơi nào…”. Ở điểm này đã phá tan các lớp ngôn ngữ “giải chấp” những sai lầm, trầm luân, khổ đau của kiếp người nghệ sĩ - mà theo cách giải thích của Thiệp - chính là phiên bản cuộc đời của thi sĩ Nguyễn Bính.

Để làm gì? Theo tôi đây là cuộc “giải cứu” vô nghĩa. Theo tôi, cái “đạo” lớn nhất của Nguyễn Bính là đã “phấn đấu” cho dù truân chuyên, bầm dập, “dưới đáy địa ngục”… để trở thành một cánh bướm chấp chới tuyệt đẹp trong vườn dâu (bể) của thi ca Việt Nam. Đạo và đắc đạo chính là chỗ ấy chứ không nằm ở những biện minh, kiểu cảnh, duy lý Điệp Lang ký khế ước với Ma vương làm bạn với bốn con quỷ Tửu (rượu chè), Sắc (trai gái), Yên (ma túy), Đổ (cờ bạc) bốn ngọn núi Sinh - Lão - Bệnh - Tử đến với ánh sáng Chân - Thiện - Mỹ.

Tôi vẫn thích cái “ấm ớ” hơi lơ ngơ lẩn ngẩn của Trang Chu, hỏi một giấc mộng mình hóa bướm hay bướm đã hóa mình. Vong bướm còn chưa thuyết phục tôi ở sơ đồ thân trò hay tích trò đòi hỏi những điểm yếu, điểm mạnh khi xây dựng một cấu trúc chỉnh thể lý tưởng về chèo như chính Thiệp đã viết, “miếng cháo văn hóa tinh thần cho người ốm yếu”, vì hầu hết kịch bản chèo cổ chỉ truyền khẩu chứ không lưu giữ bằng văn tự.

Nhưng thực sự, tác phẩm đã ru hồn tôi bằng những câu thơ oán thán rất “khả năng” của một nhà văn danh tiếng trên văn đàn, cho thấy khả năng “vần vè” của ông xuất chúng, thượng thừa: “Thương thay số kiếp con người / Trầm luân bể khổ cuộc đời đa đoan” hay “Vong này đích thực vong tình / Xem ra vong bướm ở mình ở ta / Đạo nào tất cả cũng là / Âm dương đực cái đàn bà đàn ông”… Rõ ràng cái còn lại của Vong bướm không phải bản chất như tác giả cố tình lý giải mà chỉ là hiện tượng. Sự xuất thần của những câu thơ!

Kịch bản chèo Truyền thuyết tìm vua theo tôi là sắc sảo hơn, đúng chất Nguyễn Huy Thiệp hơn khi ông trở về đề tài quen thuộc của mình đó là chính trị. Nếu so sánh về tâm - lực, tôi nghĩ ông đầu tư và gửi gắm vào vở chèo này nhiều hơn Vong bướm. Tuy viết về một câu chuyện lịch sử còn lưu lại trong Sử ký, xảy ra từ thế kỷ 16, “nhà Lê suy vong, nhà Mạc truất ngôi, Mạc Đăng Dung khởi chuyện động giời, giết Cung Hoàng tiếm ngôi Hoàng đế”. Tướng quân Nguyễn Kim đi tìm chúa Chổm, giọt máu của nhà Lê để tìm vua hành đạo. Tuy chèo cổ nhưng qua ngòi bút tài hoa của nhà văn, dấu nối giữa truyền thống và hiện đại rất mạch lạc, biến hóa, nhuần nhuyễn. Nhân vật, lớp lang, đối thoại, chữ nghĩa… được “dụng công” nhiều hơn.

Có những tiểu xảo mạnh bạo như Nguyễn Huy Thiệp đã cho các nhân vật là Hề và Thầy bói phát ngôn như sau:“HỀ: Ông ơi, ông có thấy Rồng đen quấn cột ở đâu đây không? THẦY BÓI: Tìm ai thì bỏ tiền vào cái đĩa này tôi mách cho! HẾ: Thế bỏ bao nhiêu?-THẦY BÓI: Thôi cứ tùy tâm! Cứ bỏ 100 đô-la Mỹ là được!- HỀ: (nhảy dựng lên) Chết! Ta đang ở trong vô minh lịch sử sao lại tiêu tiền hiện đại thế này? - THẦY BÓI: Lịch sử chẳng qua chỉ là cặn bã của người xưa thôi! Lịch sử mà không có lợi cho “cái đang là” thì nghĩa lý gì! Nào bỏ tiền vào đây!... ”. Dấu ấn và thế lực của đồng tiền lúc nào rõ rệt, làm ngả nghiêng thời đại. “Lịch sử là cặn bã của người xưa” đó là một cái nhìn táo bạo.

Tuy nhiên ở một đoạn khác khi Nguyễn Huy Thiệp đòi “chém phăng lịch sử” thì bông phèng và tếu táo: “HỀ: Gian nan mới tỏ chí anh hùng. Lịch sử giao cho toàn việc nặng. Tớ mà tóm được, phải giết phăng - TIẾNG ĐẾ: Giết phăng ai đấy? HỀ: Giết phăng lịch sử. TIẾNG ĐẾ: Sao lại giết phăng lịch sử? - HỀ: Lịch sử là thằng đéo nào? Giao toàn việc nặng cho tao thế này? Không bắt, không giết phăng đi thì để làm gì?...”. Chữ Đạo đặt ra khi tướng quân Nguyễn Kim đi tìm chúa Chổm như tìm một đấng minh quân, một lý tưởng để ký thác ý nghĩa cuộc sống. Nhưng hành trình đi tìm “vua” đã được xây dựng trên bốn đạo quân Vô Dụng, Vô Đức, Vô Sản, Vô Nhân. Nhà văn đã cho nhân vật nói “Ta lấy hưng quốc dấy nghĩa! Thế là bọn họ tìm đến mà thôi!...”. Câu hỏi như câu trả lời “sao Vô Dụng còn mà Hữu Dụng chết?” như nỗi trêu ngươi muôn đời và thách thức kẻ tri thức và người nghệ sĩ. Nó còn được đúc kết bàng bạc trong câu lục bát “Nay hoàng hôn mai hôn hoàng / Tử sinh thôi cũng chẳng màng dở hay…”.

Hãy đọc để hiểu thêm cách nhìn và từ đây ngẫm nghĩ cách hư cấu của Nguyễn Huy Thiệp khi viết về những nhân vật lịch sử hay có liên quan đến lịch sử: “Kho tàng truyện cổ ở ta đầy rẫy những thằng ngốc, thằng khù khờ nhưng rốt cuộc đều “ăn nên làm ra”…Những anh hùng thì bị chém cổ mà phụ nữ thì đức hạnh tuyệt vời. Giữa cái thế giới người trong truyện cổ và thế giới người của đời thực gây nên nỗi hoang mang dịu ngọt…” [7].

***

Dù sao đi nữa, Vong bướm vẫn cho thấy tài năng, cốt cách nghệ sĩ lớn ở Nguyễn Huy Thiệp. Ông là người có đạo đức, luôn ý thức và đã giữ được phẩm hạnh của mình. Đó là luôn thể nghiệm trên địa hạt chữ nghĩa, cày xới đắc lực trên cánh đồng văn chương. Thiệp là người duy nhất hiện nay cho thấy sự nặng ký, tầm cỡ, đa dạng của ngòi bút ở nhiều thể loại truyện ngắn, kịch, tiểu luận phê bình, tiểu thuyết… và bây giờ là chèo.

Và cũng chính vì lẽ đó mà tôi cũng mong muốn Nguyễn Huy Thiệp cần phải… chết đi! Bởi lẽ từ khi ông xuất hiện, văn đàn không có nhân vật nào đáng kể nữa! Tôi cho rằng Thiệp là người của trời. Sự có mặt của ông trong làng văn chương hôm nay là một biến thiên của trời đất, vũ trụ, nó là duyên nghiệp, không phải muốn là được. Bởi ông viết gì cũng hay, cũng quyến rũ. Cái hay của một bậc thức giả, thâm thúy, thâm nho và thay mặt Thượng đế đánh thức một phía tối nào đó trong tâm hồn chúng ta. Ông đã rắc ánh sáng vào vết thương, vào sự tối tăm của mê lộ, một hành trình chênh vênh của kiếp người u u minh minh, giữa trần gian và địa ngục. Ông lặn sâu vào những vỉa kinh hoàng nhất của đời sống để tạc vào câu chữ.

Để tạm khép lại bài này, tôi nhắc lại một khái niệm về Muối, trong một tiểu luận đã viết của Nguyễn Huy Thiệp: “Trong tác phẩm của mình những nhà văn giỏi bao giờ cũng có một chút muối rắc đâu đó trên từng trang viết. Muối xát lòng người đọc một thì xát lòng người viết ra nó mười lần. Văn học ở ta rất ít muối…” [8].

Cám ơn nhà văn. Một lần nữa trên hành trình sáng tạo, ông đã gửi đến cho chúng ta niềm tin vào khát vọng ngày mai tươi đẹp dẫu hôm nay còn quá nhiều giả dối. Vong bướm, là một tác phẩm có nhiều Muối!

Sài Gòn, tháng 3/2012

[1] Tên những truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.
[2]
 Tiểu luận Nguyễn Huy Thiệp - Nxb. Thanh Niên & Phương Đông, 7.2010
[3]
 Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn (bài 3) - Tiểu luận Nguyễn Huy Thiệp
[4]
 Một góc sơ xuất trong thế giới nội tâm nhà văn - Tiểu luận Nguyễn Huy Thiệp.
[5]
 Truyền thuyết tìm vua - kịch bản chèo Nguyễn Huy Thiệp.
[6]
 Cát bụi chân ai – Hồi Ký Tô Hoài (Nxb. Hội Nhà Văn 2005)
[7]
 Nhà văn và bốn trùm “mafia” - Tiểu luận Nguyễn Huy Thiệp.
[8]
 Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn - Tiểu luận Nguyễn Huy Thiệp.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5813)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5799)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13157)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30002)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81104)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 323)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”