- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Chị Đẹp Nhất Làng

20 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 126327)
hue_ntlam_0-content

Chị đấy! Chị đang gánh mạ từ cánh đồng trở về nhà trong ráng chiều hôm chạng vạng.
Nắng cuối ngày làm khuôn mặt trái xoan xinh đẹp của chị ửng đỏ. Gió đồng lồng lộng tung bay làn tóc đen mượt mà ngang vai của chị. Nghe có tiếng người trò chuyện phía trước, chị ngước đôi mắt tròn, đen láy nhìn lên. Chị nở một nụ cười tươi tắn, hàm răng trắng đều tăm tắp khoe chiếc răng khểnh duyên dáng:
- Con chào hai cụ, hai cụ đi chợ về đấy ạ!
- Vâng, chào cô, cô đi cấy về đấy à?
- Dạ, vâng!
- Ối!
Chị quay đầu nhìn lại, một bà cụ bị vấp ngã, chị vội vã đặt gánh mạ xuống chạy lại đỡ bà cụ lên, miệng xót xa hỏi bà có bị làm sao không? Nhìn thấy ngón chân cái của bà bị mảnh chai đâm vào chảy máu, chị không ngần ngại đưa cánh tay áo bên trái lên miệng, tay phải cầm đầu tay áo xé toạc một miếng. Miếng vải nâu dời ra để lộ cánh tay thon thả hồng hào của chị. Chị cúi xuống buộc vết thương cho bà cụ, dặn bà về đến nhà rửa sạch vết thương bằng nước muối rồi bôi tí thuốc mỡ tra mắt vào để tránh nhiễm trùng.
Kẽo kẹt, kẽo kẹt; đôi chân trần xắn đến đầu gối phơi phong làn da trắng muốt của chị lại thoăn thoắt bước đi dưới cái nặng của chiếc đòn gánh trên vai. Gánh mạ nặng là vậy mà dáng chị vẫn mềm mại, uyển chuyển như đang tập múa ở sân đình. Chị đã đi được một quãng nhưng vẫn thấy văng vẳng bên tai lời hai bà cụ:
- Con bé đẹp người đẹp nết, thắt đáy lưng ong vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con thế mà vẫn không có ai lấy. Tội nghiệp nó!
Chị dừng bước, vừa thở vừa lấy tay gạt mấy giọt mồ hôi lấm chấm trên trán. Trời chiều mênh mang, gió chiều lồng lộng tạc vào lòng chị một nỗi buồn nhân thế.
 Mẹ chị, người đàn bà xấu nhất làng được sinh ra cũng từ một người đàn bà xấu nhất làng. Vì quá xấu, bà vốn đã bị người làng coi thường, nay lại không chồng mà chửa nên bà càng bị người làng khinh rẻ; bà đã đưa mẹ chị ra thẻo đất ở rìa làng dựng một ngôi nhà đất, lợp rạ để mẹ con sinh sống. Bà đi làm thuê, mót lúa, mò cua, bắt ốc để duy trì sự sống của hai mẹ con.
Càng lớn, mẹ chị càng trở nên xấu xí, cái xấu hội tụ cả của mẹ, cả của người đàn ông sinh ra mình. Biết thân phận mình là kẻ xấu xí, không cha nên mẹ chị chăm chỉ lam làm, hay giúp đỡ những người nghèo khó, kính trọng người già, hòa nhã với trẻ nhỏ hòng dùng cái nết đánh chết cái đẹp; kiếm được một tấm chồng dù cụt chân, mù mắt nhưng có cưới xin hẳn hoi để chấm dứt cái dòng dõi ” không chồng mà chửa” của gia đình song từ lúc dậy thì đến cái tuổi bốn mươi, mẹ chị không có một người đàn ông nào đến dạm hỏi. Thậm chí những câu trò chuyện bình thường mà đàn ông trong làng dành cho mẹ chị cũng có thể đếm được trên đầu ngón tay. Không đủ sức khỏe và lòng kiên nhẫn chờ đợi con mình có được một tấm chồng; vào một đêm mưa gió, bà chị đã lặng lẽ ra đi không một lời trăng trối.
Bước sang cái tuổi bốn mốt, mẹ chị bắt đầu đi tìm kiếm cho mình một đứa con. Những người đàn ông trong làng xa lánh chị còn những người đàn bà trong làng thì cảnh cáo chị chớ có dụ dỗ chồng họ kẻo sẽ bị gọt đầu bôi vôi! Cứ đến thời kỳ giữa của chu kỳ kinh nguyệt, trong vai người đi mua đồng nát, mẹ chị đi đến các làng xa xôi, tìm đến những người đàn ông góa vợ để xin con nhưng vừa nhìn thấy khuôn mặt bèn bẹt với chiếc mũi tẹt dí, đôi mắt xếch, hàm răng vổ vàng khè như răng cải mả của mẹ chị, họ đã lắc đầu. Có lần đúng vào ngày trứng rụng, mẹ chị gặp một người đàn ông say rượu đang nằm một mình trong nhà, chân gã ghếch lên, cái “kia” thò cả ra ngoài quần đùi. Mẹ chị phát cuồng, lấy tiền cho gã mua rượu uống, xin gã thương tình đoái hoài đến mình. Gã cầm tiền đút vào túi rồi xua đuổi mẹ chị:” Xấu quá, xấu hơn cả Thị Nở, cút đi, cút đi!”. Đêm ấy, nước mắt mẹ chị ướt đầm chiếc gối, gần sáng mẹ chị nghĩ ra được một sáng kiến. Cả ngày hôm ấy mẹ chị thấp thỏm trong lòng, mong sao trời mau tối để thực thi cái sáng kiến của mình.
Chiều tối, lùa vội bát cơm vào bụng, mẹ chị đạp xe lên thị xã, tìm đến một gốc cây tối om trong công viên ngồi chờ. Người khách đầu tiên tìm đến là một gã đàn ông lùn tè lùn tẹt, gã hỏi mẹ chị đi ”tàu nhanh” giá bao nhiêu? Mẹ chị ngớ người không hiểu, hỏi lại gã tàu nhanh là gì? Gã văng tục:” Đ... mẹ, làm đĩ mà không biết tàu nhanh!”. Mẹ chị nói với gã lần đầu tiên đi bán mình nên chưa biết, gã giảng giải cho mẹ chị, đi tàu nhanh nghĩa là “làm” một cái thôi, giống như ăn bánh trả tiền, còn đi” tàu chậm” là qua đêm, “làm” bao nhiêu cái thì “làm”. Mẹ chị bảo với gã không cần trả tiền cũng được. Sự thật thà của mẹ chị đã không mang lại kết quả, giá như mẹ chị cứ phát ra một cái giá bằng mớ ốc mà mẹ chị vẫn bán ở chợ làng thì gã đàn ông thấy rẻ mà đồng ý ngay nhưng khi nghe mẹ chị nói không cần phải trả tiền cũng được thì gã nghĩ mẹ chị bị HIV! Gã chuồn thẳng.
Mẹ chị còn chưa kịp hiểu tại sao gã đàn ông lại vội vội vã vã chạy mất thì bị giật tóc, đấm đá túi bụi. Mẹ chị không kêu được một tiếng, chỉ mãi đến khi mẹ chị đổ gục xuống thì trận đòn mới dứt. “Lần đầu tao cảnh cáo, lần sau mà còn dám xâm phạm địa bàn làm ăn của chúng tao thì chúng tao xẻo l ...”, tiếng đe dọa của hai ả gái điếm chuyên nghiệp giúp mẹ chị hiểu rõ thì ra đi làm cái nghề nhơ nhấp này cũng có sự cạnh tranh!
 Mẹ chị lồm cồm bò dậy, dắt xe đạp ra khỏi công viên. Hai chân mẹ chị bị đá, bị quật đau nhức, mẹ chị gắng sức đạp nhưng cũng chỉ đến nửa đường thì cả người lẫn xe lao sầm ruộng lúa sắp gặt ven đường. Mẹ chị mê man. Nửa đêm, một người đàn ông đi xe máy phát hiện ra mẹ chị nhờ ánh đèn xe, ông vội vã nhảy xuống ruộng lay gọi mẹ chị. Mẹ chị tỉnh lại, người đàn ông hỏi chị có phải bị cướp không? Mẹ chị đáp không và kể lại tất cả. Người đàn ông thinh lặng, lúc sau quả quyết:” Tôi sẽ cho chị một đứa con”. Trong đêm tối, họ không nhìn thấy mặt nhau, mẹ chị cuống cuồng tụt quần ra. Người đàn ông đổ người lên người mẹ chị. “Mẹ ơi! Đau quá!”, mẹ chị thét lên.
Về đến nhà, mẹ chị mò mẫm bao diêm, thắp hương lên bàn thờ mẹ, khấn:” Mẹ ơi! Hãy phù hộ cho con đẻ được một đứa con trai. Còn nếu là con gái thì nó giống một người xinh đẹp nào đó bên đằng cha nó để nó lấy được một tấm chồng có cưới xin hẳn hoi!”. Lời cầu khấn của mẹ chị đã ứng nghiệm; chín tháng, ba ngày sau, chị được sinh ra bụ bẫm và đẹp đẽ như trong tranh.
Lại không chồng mà chửa! Đúng là dòng dõi tổ tông! Không chịu được những lời miệt thị của người làng, cộng với ước vọng xóa bỏ được cái dớp mà mẹ mình và bản thân mình đã từng gánh nạn; một đêm, mẹ chị bế chị ra khỏi nhà, lấy ra một ít đồ đạc rồi châm lửa đốt ngôi nhà, lửa cháy đùng đùng, thiêu rụi tất cả. Mẹ chị đặt bát hương mẹ, hai cái soong nồi, bốn cái bát, ba bộ quần áo và năm bơ gạo lên cái thúng bên này; đặt con lên cái thúng bên kia rồi gánh ra cái chòi vó bè bỏ hoang ở cạnh bãi tha ma làng, sửa chữa nâng cấp thành nhà để mẹ con có chỗ chui ra chui vào.
 Ở cạnh người chết, mẹ chị nghiệm ra rằng chỉ có người sống mới hay nói xấu, ganh tỵ với người sống và cả với người chết nữa còn người chết thì không nên mẹ con chị rất bình yên. Mẹ chị tận dụng những mảnh đất đầu thừa đuôi thẹo quanh các ngôi mộ để cấy lúa, trồng khoai. Khi chị chưa biết bò, mẹ chị lấy cái quần vải cũ buộc chị trên lưng mỗi khi cấy lúa, làm cỏ; xa xa nhìn mẹ con chị nhấp nhổm như con cua đồng đang bò trên ruộng. Lúc chị biết đi, chị tha thẩn bên những ngôi mộ, bắt cào cào, châu chấu; chị lấy cả xôi, thịt, chuối trên những ngôi mộ mới chôn để ăn. Lần đầu nhìn thấy, mẹ chị sợ tái mặt, vả vào mồm chị mấy cái, bóp cổ để chị lè thức ăn ra rồi dẫn chị đến ngôi mộ mà chị lấy cắp thức ăn, quì lạy người chết tha thứ. Từ đấy, chị sợ mẹ nên không dám bén mảng đến những ngôi mộ nữa.
Nó thèm được ăn thịt? Không có thịt thì mẹ chị lội xuống con sông cạnh nhà, cạnh bãi tha ma để mò cua, bắt ốc và tôm tép. Để phòng tránh chị không bị ngã xuống sông, mẹ chị lấy sợi dây vải buộc chân chị vào gốc thông hay phi lao; vừa mò, mẹ chị vừa trông chừng chị chơi trên bờ. Hết đoạn sông này, mẹ chị lại lên bờ dẫn chị đến đoạn sông khác, lại buộc chân chị vào gốc cây rồi tiếp tục mò mẫm sự sống nơi đáy sông. Một lần, có con cá trê to bằng cổ tay chui ở trong hang, nó trơn quá, lại có ngạnh nhọn nên mẹ chị phải lừa lựa để bắt được nó; mải mê với cá, đến lúc bắt được con cá trê thì mẹ chị kinh hoàng khi thấy chị đã biến khỏi mặt đất! Chị nhặt được một cái liềm ở gốc cây thông, ra sức cứa đứt sợi dây buộc chân; sợi dây đứt, chị hả hê bò xuống sông tìm mẹ!
Mẹ chị lao lại phía sau cuống cuồng mò tìm con. Túm được tóc chị, mẹ chị bế chị lên bờ, cầm hai chân chị dốc ngược lên vai vừa chạy quanh bãi tha ma vừa gào khóc; tiếng gào rách cả cổ họng, trào cả máu. Nước từ miệng chị ồng ộc tuôn ra. Chị khóc thét lên một tiếng, mẹ chị sung sướng đặt bừa chị lên một ngôi mộ mới chôn, chất đầy vòng hoa tươi rồi rập đầu khấn vái người dưới mộ hãy cứu sống con chị. Từ đấy, mẹ chị sợ không dám đi ra sông mò cua, bắt ốc nữa và chính mẹ chị lại là người tiếp tục tranh phần ăn của người chết.
Những ngày đầu, mẹ chị cũng sợ lắm, trời vừa sập tối mẹ chị đã cửa đóng then cài. Mỗi tiếng gió lay, cửa động, mẹ chị lại thon thót ôm chặt chị vào lòng, lầm rầm khấn rằng, mình phận xấu xí, hèn kém không cạnh tranh được với người sống nên đành tranh phần với người chết; mong hồn ma tha thứ! Mọi cái rồi cũng thành quen, thấy ma không bắt, thấy con ăn ngon, ngủ ngon, mẹ chị cũng hết sợ hãi. Mỗi khi có đám ma, ngày giỗ, ngày tết hoặc ngày thanh minh, mẹ chị lấy ra những đồng tiền cũ nát đêm đếm trước mắt chị, nhốt chị trong nhà, khóa trái cửa lại rồi cắp thúng đi chợ! Mẹ chị đi đến những ngôi mộ, thấy có xôi, có thịt, có chuối, mẹ chị chắp tay khấn xin rồi bỏ thức ăn vào thúng đi về; xôi thì hấp lên, thịt thì thái ra kho mặn. Rồi mẹ chị mở rộng địa bàn kiếm ăn, mò tìm đến những bãi tha ma, nghĩa địa làng khác, xã khác xin lộc của người chết. Để tránh người sống phát hiện, và để tránh cả sự cạnh tranh mà mẹ chị đã có bài học trả giá bằng trận đòn thừa sống thiếu chết ở công viên năm nào, mẹ chị thường đi vào những lúc giữa trưa vắng người hoặc vào lúc đêm tối.
Thời buổi bây giờ, cõi dương đang lấy lòng cõi âm nên người ta đua nhau xây mộ tổ, mộ ông, mộ bà, mộ bố, mộ mẹ thật nguy nga tráng lệ; cúng giỗ thật linh đình để tỏ lòng thương nhớ mặc dù khi còn sống, người chết bị người sống mong cho chết nhanh đi để họ còn được thừa kế tiền bạc, đất đai, nhà cửa. Nhờ vậy mà mẹ chị cũng được thường xuyên cắp thúng “đi chợ”. Cõi âm đã nuôi chị phổng phao, mỗi ngày mỗi xinh đẹp nhưng cõi âm cũng góp phần làm cho nỗi buồn nhân thế của chị tăng lên. Một trưa bị mẹ đánh, chị đã chui vào ngôi mộ cụ tổ họ Trịnh do con cháu ở Hà Nội về xây; ngôi mộ hình tháp nhọn kiểu châu Âu, xây bằng đá cẩm thạch có giá trị gấp hai mươi lần ngôi nhà của mẹ con chị đang ở; nó sạch sẽ, mát mẻ quá, thế là chị ngủ quên trong đó đến tận chiều, mấy đứa trẻ trâu nhìn thấy tưởng ma, kêu ré lên chạy về làng thông báo. Người làng lại bảo bà nó xấu xí, mẹ nó xấu xí còn nó lại đẹp như hoa hậu, chắc nó là con ma hoặc hồ ly tinh!
Là dòng giống “không chồng mà chửa”, là con ma, là hồ ly tinh nên mặc dù chị càng lớn càng xinh đẹp và nết na; chị cũng là người thông minh sáng dạ, năm học nào chị cũng là học sinh giỏi song nhà nghèo không có tiền đi thi đại học nên học xong cấp ba chị ở nhà để lấy chồng theo nguyện vọng của mẹ chị; thanh niên, đàn ông trong làng đều thầm yêu, trộm nhớ nhưng không ai dám cưới chị làm vợ. Không dám lấy chị nhưng họ cũng không cho chị đi lấy chồng; họ sợ mất chị, mất đi biểu tượng sắc đẹp ở làng!
Chị gánh mạ sắp về đến nhà thì bắt gặp một người thanh niên và một đứa trẻ từ bãi tha ma đi ra, nhìn thấy chị, người thanh niên sững sờ trước vẻ đẹp hương đồng gió nội của chị.
- Này em, em có lửa không cho xin tí, anh ra thắp hương cho các cụ mà quên bật lửa!- Người thanh niên kiếm cớ.
- Dạ, nhà em kia, để em về lấy diêm cho anh!- Chị dịu dàng đáp lời.
- Thôi để anh vào lấy.
- Vâng, mời anh vào!
Thấy có khách là đàn ông , mẹ chị mừng lắm, chào đón khách như người thân ở xa mới về. Người thanh niên giới thiệu tên là Tân, cháu ông Thoại, anh đang sống với bố mẹ ở Sài Gòn, lâu rồi mới có dịp về thăm quê. Ai chứ ông Thoại thì mẹ con chị chả lạ gì, ông là cán bộ huyện mới về hưu, ông vừa xây ngôi nhà to và đẹp nhất làng. Duyên số trời se chăng? Mẹ chị khấp khởi trong lòng. Tân cao to, đẹp trai, lại có học thức, làm kỹ sư ở thành phố văn minh, chắc không có cái nhìn lạc hậu như người ở quê. Con gái chị đẹp, ngoan, thật là đẹp đôi. Chỉ thoáng qua, mẹ chị cũng biết là Tân đã phải lòng con gái mình.
Những cuộc đến thăm hàng ngày của Tân càng làm cho mẹ chị hy vọng sẽ dứt bỏ được quá khứ “không chồng mà chửa” của gia đình. Tân cũng đã thề rằng nếu không lấy được chị thì bãi tha ma kia sẽ có một chỗ dành cho Tân. ấy là Tân thề lúc gia đình ông Thoại chưa biết Tân đến tìm hiểu chị, đến khi biết tin, cả gia đình ông Thoại đã họp, đã gọi điện thoại vào cả Sài Gòn cho cha mẹ Tân để khuyên răn Tân từ bỏ cái tình yêu sét đánh điên rồ của mình.
Trước hôm bay vào Sài Gòn, Tân đến nhà chị, vòng vo một lúc, Tân hỏi chị:
- Bà em, mẹ em đều không có chồng à?
- Vâng!- Chị đáp.
- Thế em có biết bố em là ai không?
- Không!
Tân thở dài, lúc sau nói lời đau khổ:
- Anh rất yêu em nhưng bố mẹ anh không cho anh lấy vợ ở quê! Nếu em cũng muốn có được một đứa con như bà em, như mẹ em, anh luôn sẵn sàng. Gì thì gì anh cũng là một trí thức, con chúng ta sẽ thông minh như anh và đẹp đẽ như em. Hàng tháng anh sẽ gửi tiền về nuôi con, đây anh gửi em trước mười triệu.
- Bốp!- Một cái tát của chị làm Tân tối tăm mặt mũi. Tân rít lên:
- Dòng dõi nhà đĩ lại còn làm phách!
Chị đi ra bờ sông, bỏ mặc Tân một mình. Chị buồn nhưng không đau khổ, những người đàn ông như Tân cũng như nhiều người đàn ông ở làng không đáng để chị bận tâm. Gió từ mặt sông thổi lên mát rượi làm chị sực nhớ đã đến giờ chị phải đi vào trong làng, đến những nhà có các em bị tàn tật vì chất độc da cam để dạy các em phục hồi việc đi lại và cả học chữ nữa. Chị làm việc này một cách tự nguyện, chị cảm phục trước sự hy sinh của bố mẹ các em, chị thương các em vô tội nhưng vì bị di truyền chất độc da cam từ người bố nên các em bị câm điếc, mù lòa, bại liệt, thần kinh.
Khi Tân về đến nhà thì cũng là lúc giọng nói trong trẻo của chị cất lên:
- Bờ a ba huyền bà!
- Bờbờ a a baba khuềnh bàbà- Con bé Tâm méo mồm đánh vần theo chị. Chị lại kiên trì, từng chữ, từng chữ. Đến lần thứ bảy thì con bé đọc được hẳn chữ bà tròn trịa, chị xoa trán khen nó giỏi lắm. Con bé cười tít mắt. Gọi nó là con bé vì thân hình nó còm nhom, tay bị khòe, mắt trái chỉ là một cái hõm sâu, đầu óc ngẩn ngẩn ngơ ngơ, chứ thật ra nó đã bước vào cái tuổi mười tám; nghĩa là cái tuổi đủ để đi lấy chồng nếu nó không bị nhiễm chất độc da cam từ bố. Bố nó là anh Bấc, anh đi bộ năm 1972, đóng quân ở Quảng Trị. Anh bị nhiễm chất độc da cam do uống nước suối đã bị máy bay Mỹ rải thảm chất độc hóa học. Ngày hòa bình, anh Bấc về quê, anh cưới chị Nhãn, một người con gái khỏe mạnh, đảm đang. Những tưởng hạnh phúc của họ sẽ nhân lên khi anh chị sinh đứa con trai đầu lòng nhưng lên ba tuổi, đứa con đang hồng hào, khỏe mạnh của anh chị bị teo cơ chân, cơ tay rồi nằm liệt trên giường. Đứa con trai thứ hai của anh chị cũng bị bệnh giống như người anh. Anh chị cầu trời, khấn phật xin một đứa con thứ ba khỏe mạnh để có người nối dõi tông đường và chăm sóc hai người anh khi anh chị chết đi nhưng đứa con gái thứ ba là cái Tâm bây giờ.
- ẹc, ẹc, ẹc!
Tiếng lợn kêu? Không đó là tiếng kêu của người anh cái Tâm báo hiệu muốn trở mình. Chị Nhãn đã ra đồng, còn anh Bấc được giao nhiệm vụ trông con, cậy có chị nên anh tranh thủ cho lợn ăn. Đàn lợn kêu rống lên eng éc, nhảy bổ ra cửa chuồng để chào đón chậu cám của anh Bấc. ẹc, ẹc, eng, éc, tiếng người và tiếng lợn hòa quyện vào nhau, dội vào trái tim thương người của chị một nỗi nghẹn ngào. Nước mắt chị ứa ra, chị vội đứng dậy đi đến bên chiếc giường kê bên cửa sổ, bế thân hình còm nhom, cứng đơ của người thanh niên đặt nghiêng sang bên trái rồi tiến hành xoa bóp đôi chân teo tóp của cậu.
 Có tiếng người ồn ào ở ngoài sân, chị nhìn ra, thấy anh Bấc tay còn đang lấm lem cám lợn dẫn mấy người Việt Nam và một ông người Mỹ đi vào. Bốn người kia là cán bộ của Sở, của Phòng Lao động & Thương binh- xã hội, người phiên dịch và ông chủ tịch xã, còn người đàn ông Mỹ là tiến sỹ Jonh, anh sang Việt Nam để nghiên cứu về ảnh hưởng của chất độc da cam do quân đội Mỹ đã rải thảm xuống Miền Nam Việt Nam. Bố Jonh đã từng là người lính tham chiến ở Tây Nguyên; được tận mắt chứng kiến những cái chết vô tội của người dân và sự tàn phá khủng khiếp của bom đạn; lại được một người dân cứu sống khi ông bị thương và bị đồng đội bỏ rơi, khi về Mỹ ông mắc chứng bệnh trầm uất. Trước khi chết, ông đã trăn trối với Jonh hãy làm một cái gì đó để tạ lỗi và tạ ơn người dân Việt Nam. Và giờ đây, Jonh đang đứng chứng kiến chị xoa bóp cho người con của anh Bấc. Lúc đầu Jonh tưởng chị là vợ anh Bấc nhưng sau nghe giới thiệu, Jonh à lên một tiếng đầy ngạc nhiên, thán phục.
Một người con gái tuyệt đẹp, đẹp về cả hình thể lẫn nhân cách! Đó là suy nghĩ đầu tiên của Jonh về chị. Jonh hỏi chị rất nhiều về bệnh tình của những người con của vợ chồng anh Bấc. Có sao chị nói thế còn Jonh vừa mở máy ghi âm vừa ghi ghi chép chép. Rồi Jonh chụp ảnh, đủ các góc độ. Trước lúc ra đi, Jonh bất ngờ hỏi chị bằng một câu tiếng Việt lơ lớ:
- Chị...chị có c..ó mong ước gì hông?
Không cần suy nghĩ, chị đáp ngay:
- Em mong ước có một ngôi nhà, có đủ phương tiện để chữa bệnh và phục hồi chức năng cho thanh thiếu nhi bị tàn tật vì chất độc da cam và cả bị bẩm sinh, bị tai nạn.
Jonh khen sáng kiến của chị rất hay rồi hỏi chị tiếp nếu có cái trung tâm đó thì hoạt động thế nào? Suy nghĩ một lúc, chị bảo trước hết phải đi xuống tận những gia đình có các em bị chất độc da cam rồi phân loại bệnh tật, thần kinh, chân tay, câm điếc; tùy theo loại bệnh mà có phác đồ điều trị và phục hồi chức năng riêng. Bệnh của các em là bệnh kinh niên, khó chữa nên ngoài chữa tây y phải trồng cây thuốc đông y trong vườn để chữa lâu dài. Bệnh nhân đông thì cũng nên có sự ưu tiên, em nào gia cảnh khó khăn và có khả năng phục hồi nhanh thì tuyển trước, đợt này ra, đợt khác vào. Ngoài ra cũng cần dậy thêm văn hóa và cả dậy nghề cho những em có khả năng lao động. Nghe chị nói, Jonh liên tục gật đầu. Chiều tàn, Jonh và mọi người ra đi, chị cũng tất tưởi về nhà.
Cuộc gặp gỡ và trò chuyện với Jonh lùi dần trong tâm trí chị vì chị bận phải cày cấy, chăm mẹ ốm, chăm những đứa trẻ bị tàn tật. Nhưng Jonh thì không quên; dáng hình chị, mong ước của chị mỗi ngày mỗi đầy đặn lên trong tâm trí Jonh. Ngay sau khi về nước, Jonh rút tài khoản cá nhân; đi quyên góp các tổ chức xã hội, các cá nhân có tấm lòng hảo tâm được gần ba trăm ngàn đô la. Jonh bay ngay sang Việt Nam.
Chị đi làm đồng về, thấy chiếc xe hơi sang trọng đỗ ở trước nhà, ngỡ là xe của ai ở thành phố về thăm mộ, nào ngờ Jonh đến. Vừa nhìn thấy chị, trái tim Jonh đã đập mạnh, còn chị thì đỏ mặt khi thấy quần mình xắn cao tít trên đùi. Chị vội vã ra bờ sông rửa ráy chân tay.
Sau vài câu thăm hỏi, Jonh vào cuộc ngay, anh thông báo cho chị biết cái ước mong của chị đã thành sự thật. Tỉnh, huyện, xã đã đồng ý cho xây dựng một khu nhà hai tầng trên diện tích hai ngàn m2 để làm nơi chữa bệnh và phục hồi chức năng cho thanh thiếu niên bị tàn tật do chất độc da cam trong tỉnh và Jonh đề nghị chị làm giám đốc trung tâm.
- Làm giám đốc?- Chị sửng sốt- Tôi chỉ biết cấy cày, trông nom người ốm chứ biết giám đốc là gì?
Jonh bảo anh đã kể về chị cho nhiều người nghe, họ nói nên chọn chị làm giám đốc trung tâm, đây là trung tâm nhân đạo chứ không phải là kinh doanh vì vậy trước hết phải có tấm lòng nhân ái. Còn những việc khác như quản lý con người, tài chính, điều hành các hoạt động, Jonh cũng đã từng làm nhiều giám đốc dự án nên anh sẽ giúp chị. Nếu trung tâm hoạt động có hiệu quả, sẽ có nhiều tổ chức tài trợ thêm. Những cán bộ đi theo cũng động viên chị nên nhận chức giám đốc để giúp đỡ các em bị tàn tật, duy có ông chủ tịch xã là bằng mặt mà không bằng lòng. ai đời lại đi lấy một người có dòng dõi chửa hoang làm giám đốc?
Thuyết phục và chờ đợi mãi, chị cũng chỉ dám nhận chức phó giám đốc trung tâm còn chức giám đốc, Sở Lao động & Thương binh- xã hội tỉnh điều một người thương binh đang công tác ở Sở về làm giám đốc.
Ngày cắt băng khánh thành trung tâm cũng là ngày mà Jonh ngỏ lời cầu hôn chị. Jonh phải chờ đợi và nhằm vào đúng cái ngày trọng đại này của chị để cầu hôn thì mới mong thành công. Sống ở Việt Nam nhiều năm, Jonh hiểu văn hóa tình yêu ở phương Tây có nhiều điểm khác phương Đông. Người phương Tây yêu đương tự do hơn nhưng sự bền vững của tình yêu và tổ ấm gia đình cũng lỏng lẻo hơn; người ta đang trả giá cho cái sự tự do này và đang mong muốn học theo truyền thống phương Đông. Đã nhiều lần Jonh muốn ngỏ lời cầu hôn với chị nhưng Jonh sợ sự vội vã sẽ làm chị nghi ngờ tình yêu của mình.
Chị ngượng ngùng đón nhận cái hôn đầu tiên trong cuộc đời. Những lần được cùng Jonh đi xuống cơ sở, chị đã chứng kiến nhiều việc làm bất ngờ của Jonh; Jonh đã từng rửa đít cho một em gái bị liệt trong khi đó những cán bộ đi cùng thì bịt mũi, nôn ọe; Jonh đã từng cõng một em bị sốt chạy bộ hai cây số lên bệnh viện huyện để điều trị. Jonh cũng hay bóng gió xa xôi với chị rằng, Jonh rất yêu mảnh đất, con người Việt Nam, anh muốn có một người vợ Việt Nam để được gắn bó cả đời với Việt Nam. Nhiều lúc chỉ có hai người, Jonh nắm lấy bàn tay chị, nhìn vào mắt chị chờ đợi. Chị đã yêu Jonh từ những việc làm cao cả của anh; còn mẹ chị thì bảo đấy là cái duyên cái số!

Trước đây mẹ chị và chị chỉ cầu mong có một người làng lấy chị làm vợ có cưới xin hẳn hoi, chẳng cần mâm cao cỗ đầy, vài ba mâm cơm rau dưa mời họ hàng là được; chỉ thế thôi là mẹ và chị đã mãn nguyện lắm rồi. Thế nhưng thanh niên, đàn ông trong làng chỉ thích ngủ với chị mà không thích hoặc thích nhưng không dám cưới chị vì sợ dư luận. Thế mà Jonh- một nhà khoa học người Mỹ giàu có lại khát khao cưới được chị làm vợ! Chị xúc động lắm, nhưng chị cũng không muốn phải xa cái nơi chôn nhau cắt rốn của mình; nó còn nghèo khó, còn nhiều điều thị phi nhưng chỉ một làn gió đồng quê, chỉ một ánh mắt em thơ trong veo là cõi lòng chị lại yên ả! Jonh hiểu chị, anh bảo nếu chị đồng ý, Jonh sẽ đưa tiền cho chị đứng tên mua một căn nhà trên Hà Nội để tiện cho công tác của anh và sẽ xây cho mẹ con chị một ngôi nhà đẹp nhất làng để ở. Jonh sẽ xin hẳn sang Việt Nam làm việc để cùng chị làm dịu bớt đi nỗi đau của chiến tranh.
...
Đám cưới của chị và Jonh được tiến hành ngay tại trung tâm chữa bệnh và phục hồi chức năng cho thanh thiếu niên bị tàn tật vì chất độc da cam. Hơn bảy mươi em tàn tật, lần đầu tiên trong cuộc đời được mời dự đám cưới, được ăn cỗ, chúng sung sướng lắm, luôn mồm gọi cô dâu là mẹ. Các em cười, chị cười, Jonh cười.
 Do trung tâm mới được thành lập, công việc còn bề bộn nên tuần trăng mật của chị và Jonh dự định diễn ra ở New- York, quê hương của Jonh thì lại được thay đổi ở ngay tại làng.
Bà chị từng thèm khát bảo với mẹ chị, đêm tân hôn, đêm hạnh phúc nhất của đời người. Mẹ chị từng thèm khát bảo với chị, đêm tân hôn, đêm người con gái hiến dâng cái cao quí nhất của mình cho người đàn ông mà mình yêu thương; đêm tân hôn, đêm sẽ đi vào ký ức con người như một kỷ niệm vĩnh hằng. Cả hai người đàn bà mà chị kính yêu đều không có đêm tân hôn. Chị xúc động nghĩ, phải chăng họ đã dồn hạnh phúc của hai đêm tân hôn của mình cho đêm tân hôn của chị!
Trong căn phòng tân hôn, gió đồng lồng lộng thổi tung rèm cửa sổ; trăng thượng tuần tưới ánh sáng vàng tươi lên tấm thân mềm mại của chị. Jonh run lên, chị run lên vì hạnh phúc. Lúc sau, trong không gian tĩnh lặng của đêm quê, vọng lên tiếng kêu của chị- tiếng kêu giống hệt tiếng thét sung sướng của mẹ chị trên ruộng lúa ven đường hơn hai mươi năm về trước.
Vũ Đảm
(Hà Nội)
 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 104)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 62)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 64)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 171)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 852)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 930)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1509)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1749)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1451)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2219)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 171)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10948)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17611)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16659)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 104)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 64)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1749)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2379)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 62)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2204)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2058)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2636)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 852)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 930)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1451)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2218)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1508)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2108)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3963)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 4109)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2995)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14325)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30410)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36641)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12095)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13436)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3684)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5533)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5292)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 5856)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6458)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8895)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8190)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11151)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.