- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,512,148

Nice, Bến Xuân Với Những Họa Sĩ Matisse, Chagall, Vũ Cao Đàm, Lê Phổ

18 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 24229)

whopluu99-51_0_300x167_1Nice, thủ đô của Bờ Biếc (Côte d’Azur) là bến xuân trên Địa Trung Hải, là nơi hò hẹn của nước, nắng và hoa. Nice, vừa có những cá tính đặc biệt sống động, đầy mầu sắc của các thành phố miền Nam nước Pháp, vừa đứng riêng một cõi như một nàng tiên kiêu sa đài các, không lấm bụi trần. Nằm khuất trong Vịnh Thiên Thần (Baie des Anges), Nice nhờ các ngọn đồi che gió, kín đáo khỏa thân phơi nắng quanh năm. Nét phóng túng đoan trang ấy khiến Nice trở thành nàng thơ, thành thánh địa của cảm hứng nghệ thuật. Dòng sông cạn Paillon chia Nice làm hai: phía tây là Nice mới, phía đông là thành cổ và cảng nằm dưới chân tòa lâu đài ngự trị trên đỉnh đồi như trong các truyện cổ tích. 

Cổ thành Nice, do người Hy Lạp đến chiếm vùng Marseille xây từ năm 350 trước thiên Chúa, rất bé. Năm 125 sau Công nguyên, người La Mã, đánh chiếm từ vùng núi Alpes đến thung lũng sông Rhône làm thuộc địa gọi là Provincia Romana. Tên Provence có từ đó. Kẻ chinh phục tàn phá đồi Cimiez, thắng cảnh bậc nhất của Nice. Rồi sau họ, vết chân những «rợ» khác, đến người Hồi giáo, lần lượt thay phiên nhau càn quét Cimiez thành bình địa. Đến thế kỷ thứ X, Nice được bá tước Provence xây dựng lại.

 

Đến Nice, bạn chẳng thể không dừng chân ở đại lộ Promenade des Anglais - Lối dạo của người Anh, lộng lẫy, chạy dọc theo bờ biển, với những khách sạn sang trọng nhất Bờ Biếc. Đại lộ -hoành tráng với những hàng thốt nốt cao vút nằm chính giữa như những nhánh xương sống mọc lên trời- do cộng đồng người Anh, đến đây rất đông đầu thế kỷ XIX xây dựng. Nice còn là hội: hội hoa đăng, hội pháo bông, hội y phục giả trang... Nice còn là thi: thi xe hoa, thi hoa hậu, thi ca nhạc, thi khiêu vũ... Nice còn là festival: festival âm nhạc, cổ điển và hiện đại. Nice còn là món súp cá bouillabesse, đặc sản của miền Nam nước Pháp. Nhưng đối với người yêu hội họa, Nice thật quyến rũ với hai bảo tàng Matisse và Chagall, nhỏ nhưng độc đáo, tọa lạc trên đồi Cimiez, vùng đất cổ còn lưu lại những dấu vết xa xưa nhất của thành phố đáng yêu này.

 

Marc Chagall mang hình ảnh của người nghệ sĩ buồn, thành công trên đất Pháp, nhưng không bao giờ thoát khỏi mặc cảm «người ngoài», người ngoại quốc sống nhờ gửi tạm. Quê hương ông, nước Nga cộng sản đã không dung, không hiểu hội họa của ông khiến ông phải từ bỏ. Nhưng đất Nga, mồ Nga, luôn luôn trở về như những giấc mơ thiên thần, như cơn ác mộng điạ ngục, như phần đời thầm lặng vô âm, như tình yêu không bao giờ tắt, trong tác phẩm của người họa sĩ nhuốm bút thi ca này. Ở hẳn Pháp từ 1948, Chagall cũng như bao nhiêu họa sĩ khác đã chọn miền Nam làm nơi cư ngụ. Từ 1950, ông đến tỉnh Vence, gần Nice và ở lại. Năm 1973, thành phố Nice khánh thành bảo tàng viện Marc Chagall, tôn vinh ông như những họa sĩ hàng đầu của Pháp trong thế kỷ XX. Bảo tàng viện Chagall lưu trữ những tác phẩm đặc dị của họa sĩ về đạo Chúa. Dường như ông muốn vẽ hành trình độc đáo của Chúa khác với Thánh Kinh, một hành trình siêu thực đầy khổ đau, chiến tranh và ác mộng của thời này, trong những gam mầu rực rỡ, nên thơ, quyến rũ của miền địa đàng Trung Hải. Chúa trầm trong biển biếc Chagall rồi thăng thiên như một vì Chúa mới trong hội họa. Giáo đường Chagall, nằm khuất trong lòng bảo tàng viện với những vitraux (cửa sổ yểm kính vẽ) huyền diệu và bí mật trong mầu xanh thiên thần. Bước ra khỏi viện bảo tàng, mầu xanh Chagall sẽ còn theo bạn một thời gian dài.

 

Matisse một thiên tài khác của hội họa, cũng đã gắn bó sâu sắc với Nice. Ngay từ năm 1917, nhân chuyến đi Marseille với Marquet, Matisse đã khám phá ra Nice, tìm thấy ánh sáng địa đàng của thành phố và ánh sáng ấy đã không ngừng chiếu rọi các tác phẩm của ông. Đường nét và mầu sắc bãi biển Nice cho ta cảm giác an lạc hạnh phúc như thể mình đang đứng trước cái đẹp thuần khiết tuyệt đối. Từ 1921, Matisse đã chọn Nice làm nơi sống và sáng tác tới 1954. Ông mất trên đồi Cimiez, và ông yên nghỉ trên ngọn đồi thơ mộng này, cạnh bảo tàng viện Matisse, như người và nghệ thuật bên nhau, mãi mãi. Ở đây, họa sĩ vĩnh viễn nhìn thấy ánh sáng địa đàng của Vịnh Thiên Thần nằm dưới chân ông.

Viện bảo tàng Matisse tổng kết hành trình hội họa một đời tìm kiếm và sáng tạo. Vào đây, bạn sẽ thấy như đang ở trong không khí gia đình cùng họa sĩ, đang nhìn ông sáng tác: đây là cái ghế thời danh ông đã dùng làm mẫu vẽ bức tranh này, kia là cái bàn nhỏ ông vẫn thường làm việc. Ở đây không hoành tráng, mà thân tình, như những bức tranh nhỏ, những phác họa, những gì ông đang làm dở, rồi bỏ đấy. Ở đây chưa phải là kiệt tác, chưa tiền rừng bạc biển, hoạ sĩ còn trong cảnh hàn vi thanh tịnh. Đó là những dấu ấn sâu đậm nhất mà bảo tàng viện Matisse để lại cho bạn.

 

Nice còn nhiều duyên nợ với hội họa, riêng đối với những họa sĩ đầu tiên của Việt Nam sang đây từ những năm ba mươi của thế kỷ trước như Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, Lê Thị Lựu, Nice là nơi hẹn của họ thời trẻ. Năm 1926, Vũ Cao Đàm vào học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương -do họa sĩ Victor Tardieu vận động chính phủ bảo hộ thành lập năm 1924. Các hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh, Mai Thứ, Lê Phổ... tốt nghiệp khoá đầu: 1925-1930. Vũ Cao Đàm, khoá thứ nhì- ông tốt nghiệp năm 1931 cùng với Tô Ngọc Vân. Lê thị Lựu theo khoá thứ ba. Năm đầu tiên, Vũ Cao Đàm học cả ba môn: phác họa, hội họa và điêu khắc, nhưng sang năm thứ nhì, chuyển sang điêu khắc. Ông kể: «Thầy Tardieu thấy tôi có khả năng về điêu khắc và tôi đã nặn tượng bán thân cho cha tôi, ông khen đẹp. Cho nên năm thứ nhì, tôi học thẳng sang ngành điêu khắc và tôi rất thích, sau đó tôi chuyên về chân dung». Vũ Cao Đàm đã tạc tượng Bảo Đại và Hồ Chí Minh. Ra trường, ông được học bổng đi Pháp học Ecole du Louvre. Rồi ông lại chuyển từ tượng sang tranh. Tại sao? Ông kể lại: «Trong thế chiến thứ hai (39-45), tôi chuyển sang hội hoạ, bởi vì ở thời điểm ấy rất khó tạc tượng vì thiếu chất liệu. Việc đổ khuôn đồng bị cấm trong chiến tranh. Người Đức tịch thu tất cả và tôi phải nặn tượng bằng đất nung đánh bóng, như bức chân dung thi sĩ Jean Tardieu con của thầy tôi, và bà Marie Laure, vợ nhà thơ. Tôi tìm tòi và đào sâu thêm về hội họa, bầy tranh tại các phòng của tư nhân ở Paris như Automne và Tuilerie». Vũ Cao Đàm là người có công tìm tòi, khai phá chất liệu về tranh lụa và sơn dầu. Từ 1943 đến 1952, ông vẽ tranh lụa. Sau 52, chuyển sang sơn dầu. Vì có căn bản về điêu khắc, tranh Vũ Cao Đàm mang tính chất xác thực trong sự khảo sát cơ thể con người, có những đường cong tuyệt mỹ. Hỏi ông về việc tại sao lại chuyển sang tranh sơn dầu, hoạ sĩ cho biết: «Vì tính hiếu kỳ khiến tôi hay tìm hiểu sâu thêm về hội hoạ và tôi thấy tranh lụa bị giới hạn bởi kích thước của bức tranh, vì có miếng kính che gìn giữ cho lụa, cho nên không thể vẽ to được. Hơn nữa, ngay từ thời còn đi học, chúng tôi vẫn ao ước được vẽ tranh ấn tượng và vẽ theo những trường phái mới, mà không quên tất cả vẻ đẹp của nghệ thuật Đông phương». Năm 1938, Vũ Cao Đàm lập gia đình với cô Renée, một nhạc sĩ dương cầm.

Họa sĩ Vũ Cao Đàm xuống miền Nam Pháp trước nhất: năm 1950, vì yếu phổi, ông phải xuống sống ở miền Nam để dưỡng bệnh, ở Vence nơi Chagall cùng «xuống», tỉnh nổi tiếng nghệ sĩ và nghệ thuật. Từ 1950 đến 1958, ông sống và vẽ ở Vence. Nhưng những triển lãm ở Vence thường chỉ bán được một vài bức. Vì chủ phòng tranh từ chối khách mua, muốn dìm họa sĩ xuống để mua đứt cả collection với giá rẻ. Ông lên triển lãm ở Saint Paul de Vence, một danh lam thắng cảnh của vùng và lần này bán được, sau này Saint Paul trở thành làng hội họa. Tình cờ, kiếm được một bà hàng xén ở Saint Paul cần tiền để trả nợ, cho vài họa sĩ chung tiền thuê cửa hàng để trưng bày tranh, không ngờ tranh bán chạy và từ đó ông nổi tiếng, bán tranh cho hai galerie ở Bỉ và ở Pháp. Từ năm 1962, bán thẳng tranh cho galerie Findley ở Mỹ. Từ năm 1959, ông mở galerie riêng tại căn nhà số 43, Phố Lớn (Rue Grande), Saint Paul de Vence. Địa chỉ sau này trở thành phòng triển lãm của con ông. Trong năm mươi năm, mỗi du khách Việt yêu nghệ thuật lên thăm làng hội họa Saint Paul, không thể không đi qua «nhà Vũ Cao Đàm» ở Phố Lớn, như một địa chỉ thân quen, một nhà Việt để ngắm những bức tranh Phật, tranh gà, tranh Kiều, màu Đàm biếc, giao thoa giữa Chagall-Cao Đàm và biển cả trong tâm hồn thiền Việt.

 

Hoạ sĩ Lê Phổ kể lại rằng: «Đại chiến thứ hai bùng nổ, năm 1939, tôi và các bạn Mai Thứ, Phạm Duy Khiêm, Bửu Hội... đầu quân đánh Đức, trong vòng trên dưới một năm, rồi Đức chiếm Pháp, tôi giải ngũ về Nice cuối năm 39. Ở Nice, triển lãm cùng Mai Thứ và Vũ Cao Đàm ở galerie của một người thích hội họa Đông Phương. Một hôm, tình cờ, có người bán tranh tên là Romanet đến gặp chúng tôi và đề nghị với chúng tôi nên đem tranh sang triển lãm ở Alger, vì ở Alger có nhiều khách mua tranh lắm. Tôi và Mai Thứ tổ chức một buổi triển lãm lớn ở Alger với Romanet, bao nhiêu tranh bán được hết, lúc ấy là năm 1941. Chúng tôi ở lại Alger 6 tháng và tại đó tôi gặp Foujita, Marquet, Mainsieux... Nhưng ở Nice, tôi gặp được Matisse, nhờ một chuyện tình cờ không liên can gì đến hội hoạ. Lúc đó, vừa được giải ngũ, tôi đến Nice, làm việc với một người bán tranh của Matisse. Người này rất tốt đã giúp tôi rất nhiều khi tôi mới chân ướt chân ráo đến Nice. Một hôm tôi đề nghị với ông ta: «Ông có muốn tôi giúp gì không?». Lúc ấy đang chiến tranh, thức ăn thiếu thốn, ông ấy tâm sự ngay: «Nếu anh giúp tôi tìm được một miếng bơ cho ông Matisse thì tốt quá, ông ấy thèm lắm. Nếu tìm được thì anh gói vào giấy báo ẩm, rồi mang đến cho Matisse». Tôi trả lời: «Sẵn sàng». Tìm được bơ, tôi điện thoại cho Matisse, ông ấy thích quá. Tôi đến nhà ông ấy, biệt thự tên là Villa des Rêves, biệt thự Mộng Du. Cô thư ký bỏ ngay bơ vào tủ lạnh. Rồi Matisse cho tôi xem tranh và giải thích ông vẽ ra sao. Ông kể cho tôi nghe một điều mà báo chí lúc đó chưa bao giờ nói đến: «Tôi vẽ, sau đó bảo cô thư ký xoá hết bằng ét xăng và ngày hôm sau tôi vẽ lại, cũng bức tranh đó cũng đề tài đó». Vì thế, tôi được biết thủ pháp của Matisse. Ông là một bậc kỳ tài nhưng thực là khiêm nhượng. Tôi nói với Matisse: «Tôi rất thích hội họa của Bonnard». Ông ấy đề nghị ngay: «Để tôi điện thoại cho Bonnard. Bonnard ở Le Cannet, gần Cannes». Lúc đó tôi chỉ là một hoạ sĩ trẻ , mới bước vào nghề, đối diện với hoạ sĩ lừng danh Bonnard. Ông Bonnard rất cao lớn, đang vẽ tranh cho cuốn sách của Montherlant, ông ấy treo trên tường khoảng hơn trăm bản phác hoạ. Khi tôi về, ông ấy còn hẹn lần khác đến chơi, nhưng rồi sau đó tôi về Paris, không gặp lại nữa. Matisse tôi còn gặp lại hai, ba lần. Lúc đó Matisse đang cắt dán những mô hình. Đó là vào những năm 40, 41, 43 và phải nói rằng lúc đó tôi chưa hiểu rõ hội họa Matisse, tôi thích lối vẽ của Bonnard, mãi sau này, tôi mới thực hiểu và yêu Matisse. Khi làm việc với Gallerie Findley, tôi đi Mỹ mỗi năm và có dịp xem bức tranh La Danse của Matisse ở lâu đài Barnes, lúc đó tôi mới thực sự hiểu Matisse».

 

Nơi những họa sĩ tài ba, điểm đầu tiên họ bộc lộ là sự thành thực và khiêm nhượng hiếm thấy trên đời. Ở tuổi tám mươi, Lê Phổ nói «lúc đó tôi chưa hiểu Matisse» một cách tự nhiên với nụ cười hiền hoà của một vị tiên, tóc trắng. Khi hỏi Vũ Cao Đàm: «Bác có nhắn gì cho những họa sĩ trẻ không?», ông ôn tồn bảo: «Kiên trì học tập, ngay khi không bằng lòng với chính mình. Đừng bao giờ chán nản. Cố gắng đào sâu thêm, ngay khi vẽ không ra gì cả, cũng đừng ngần ngại, đừng buồn».

 

Với những kỷ niệm của Chagall, Matisse, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm... trên đây, lần sau đến Nice, chắc bạn sẽ thấy thành phố này đáng yêu bội phần hơn. Một lần khác tôi sẽ kể cho các bạn nghe chuyện biển biếc trong mắt xanh Lê Thị Lựu.

Thụy Khuê

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Tư 20191:46 SA(Xem: 5830)
Tôi không có tham vọng sẽ viết được hết về ba tôi, tôi chắc chắn không có đứa con nào có thể viết hết được về tình yêu của cha mẹ dành cho mình. Cái cách người đàn ông đó, lặng lẽ đi qua cuộc sống, vật lộn với nó, vắt kiệt mình cho công việc và để nuôi lớn một đàn con cháu, thật lạ lùng và kỳ diệu. Cái quá khứ âu yếm mà lặng lẽ của ba tôi, cuối cùng chỉ còn là những mảng ký ức.
31 Tháng Ba 201911:38 SA(Xem: 6724)
Mảnh giấy không đề tên người nhận, cũng chẳng ký tên người viết, song tôi thuộc tuồng chữ của Thiện, cái tuồng chữ với những phụ âm d, đ, t, th, k, kh, vân vân... đâm thẳng lên trời và cao hơn bình thường như muốn nổi loạn, và những nguyên âm thấp, cam phận, tự nén. Bên dưới hai câu thơ là dòng chữ vỏn vẹn: "Nếu không đoán được ai là tác giả của hai câu thơ trên thì sẽ không về nữa."
20 Tháng Hai 20198:42 CH(Xem: 8230)
Hôm nay, một ngày đầu năm, nơi tôi ở trời lấm tấm mưa và sương mù còn giăng mắc mặc dù đã 10 giờ sáng. Có lẽ không hạnh phúc nào bằng ngồi trước lò sưởi với ly cà phê và vài cuốn sách -- chính xác thì phải nói là với mấy Web sites sách điện tử, hay e-book, trên cái iPad. Bằng hữu ở xa, giờ già cả cũng ít hoặc hết còn đi thăm nhau được. Ngoài trao đổi điện thư ngày một thưa thớt, chỉ còn cái thú làm bạn với sách. Thú thật chưa bao giờ tôi đọc sách báo nhiều như những lúc về sau này.
25 Tháng Giêng 20198:02 CH(Xem: 8168)
Từ Huế ra đến Quảng Trị mấy ngày đầu năm 2019 là những ngày ủ dột mưa. Sau bài viết: Đi tìm bức tượng Mẹ và Con, tác phẩm bị lãng quên của Mai Chửng ở Hải ngoại. VOA 07.06.2018, tôi có ước muốn trở lại thăm Nhà thờ Đức Mẹ La Vang Quận Hải Lăng Quảng Trị, nơi đã từng có một quần thể tượng nghệ thuật tôn giáo của Giáo sư điêu khắc Lê Ngọc Huệ cùng đám môn sinh trong đó có Mai Chửng với chủ đề Mười Lăm Sự Mầu Nhiệm Mân Côi. (3)
03 Tháng Giêng 201910:50 CH(Xem: 6441)
Đêm ấy, một đêm Giáng Sinh rất lạ, sau ngày giải phóng đất nước một năm.1976. Là đêm Giáng Sinh thứ ba, tính luôn cái năm tôi đi sư phạm xa nhà, tôi không còn cùng bát phố với lũ bạn ngoại đạo trong cái thành phố nhỏ nhoi yêu mến tôi đã sống; nhưng vẫn da diết nhớ Giáng Sinh với những chiếc xe hoa lấp lánh, diễn hành dưới màn mưa lạnh, quanh mấy con phố nhỏ; những cỗ xe luôn mang đến một không gian tượi mới và tràn trề hy vọng. Khi còn hy vọng, là người ta còn mơ ước. Khi còn mơ ước,là người ta còn tin yêu cuộc sống này.Và người ta luôn trông chờ điều đó.
04 Tháng Mười Hai 201811:05 CH(Xem: 7230)
Từ một vùng đất hoang vu của dân tộc thiểu số thuộc bộ tộc K'Ho hiện nay, sau khám phá của bác sĩ Yersin (tháng 6 năm 1893), người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên thành phố Đàlạt. Đàlạt trở thành một trung tâm du lịch và giáo dục của Đông Dương trong nửa đầu thế kỷ 20.
11 Tháng Mười 201811:48 CH(Xem: 8305)
Lễ Quốc Tang của Chủ tịch nước Trần Đại Quang dù được tổ chức trọng thể tại cả ba nơi Sài Gòn, Hà Nội, Ninh Bình; và mặc dù nghĩa trang của ông rất lớn, nó chiếm một diện tích lên đến gần 30,000 m2, chúng ta vẫn thấy sự ra đi của ông rất mờ nhạt.
07 Tháng Mười 20189:13 SA(Xem: 9149)
Sinh ngày 6/10 Nhâm Ngọ, tức 13/11/1942, tại thôn “Me Vừng,” làng Phụng Viện thượng Hải Dương, Bình Giang, Hải Dương—nhưng trên khai sinh, đề ngày 6/0/1942—tôi có một lá tử vi khá kỳ lạ. Giáo sư Nguyễn Bỉnh Tuyên—một lãnh tụ Đại Việt Quốc Xã, thày dạy kèm chữ Pháp cho tôi trong hai năm Đệ Tam, Đệ Nhị (1957-1959)—nói tôi có số “ở tù;” nên “ở lính” có thể giải thích như ở tù. Mãi tới năm 1971, bác Phan Vọng Húc—bạn cha tôi ở Hải Dương, phụ thân nhà thơ Phan Lạc Giang Đông—mới đưa ra lời giải đoán khá chính xác: Tôi có số “Ngựa Trời,” sẽ xuất ngoại, đỗ đại khoa, và thọ tới hơn 70.
13 Tháng Chín 20189:07 CH(Xem: 8430)
Sáng nay vừa ra khỏi ngân hàng, tôi ghé vào siêu thị mua tấm thiệp sinh nhật cho ba chồng. Dòng chữ được giác bạc ngoài tấm thiệp đề "For a great Dad..." đầy yêu thương, trân trọng. Vừa lúc đó tôi nhận được điện thoại từ chị gái. Linh cảm bất ổn vì lúc đó đã 10 giờ tối ở VN. Giọng chị hớt hãi "Yến ơi, Ba đi rồi...". Trên tay tôi vẫn cầm tấm thiệp. Vài giây trước đó khi đứng chọn tấm thiệp vừa ý nhất, tôi chợt nghĩ "Vì sao mình chưa bao giờ có được may mắn tặng cho ba mình tấm thiệp nào có nội dung như vậy. Vì sao ba mình không là một người great Dad như bao nhiêu người vẫn tự hào tặng thiệp cho ba họ trong ngày sinh nhật như chồng mình vẫn làm mỗi năm?".
24 Tháng Tám 20187:38 CH(Xem: 9497)
Tôi khởi viết những trang Nhật Ký Cuối Đời này, từ đầu năm 2016, sau ngày mẹ tôi từ trần tại Los Angeles, CA, ngày 27/11 Ất Mùi, tức Thứ Tư, 6/1/2016. Mẹ sinh ngày 7/3 Mậu Ngọ [7/4/1918], tại Phụng Viện thượng, Bình Giang, Hải Dương, thọ 99 tuổi ta. Cha tôi, sinh ngày 27/3 Mậu Ngọ [27/4/1918], mất sớm, ngày 8/3 Kỷ Mùi [4/4/1979], khi mới 62 tuổi, ở Sài Gòn. Khi gia đình ly tán—tôi lưu vong ra hải ngoại, anh trai tôi bị đưa ra bắc “cải tạo”—thuật ngữ tuyên truyền xảo quyệt của những người tự nhận Cộng Sản, dù chẳng hiểu Cộng Sản là gì, và trên thực chẩt, chỉ vẹt nhái theo Trung Cộng, vì Karl Marx và Friedrich Engels không hề nói đến góp chung tài sản, mà chỉ hoang tưởng ngợi ca một xã hội nguyên thủy công hữu [communism].