- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

NGHE SẦU RIÊNG CHÍN TỚI

07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 4357)

tran kiem doan

NGHE SẦU RIÊNG CHÍN TỚI

*** viết cho sinh nhật mình***

Tùy bút TRẦN KIÊM ĐOÀN

 



Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.

Việt Nam và nước Mỹ cách nhau mười bốn múi giờ; còn tôi, suốt hơn nửa đời người, vẫn sống giữa hai múi giờ của quê hương và hoài niệm.

Nghe tôi nhắn tin và gọi điện thoại cho bằng hữu cùng khách mời để đinh hoãn cuộc “Hội Ngộ Mùa Thu” kỳ niệm sinh nhật 80 tuổi của tôi đã được chuẩn bị khá chu đáo vào ngày 10 tháng Tám, “chiếc dép bên kia” của tôi bất ngờ lên tiếng muốn kéo tôi đồng hành về quê thăm người thân đang hấp hối. Tôi đồng ý không điều kiện vì không có suối nguồn tình cảm nào dâng trào mãnh liệt hơn điểm hẹn của dấu mốc bên này và bên kia thế giới.

Rồi qua 15 giờ bay liên tục từ San Francisco về Tân Sơn Nhất; đợi 8 tiếng để nối chuyến bay tiếp lên Buôn Ma Thuột nghĩa là mất liên tục 24 tiếng đồng hồ cho một vòng đi. Tôi đến nơi, điểm giao đời giữa hai đầu sống chết đã làm dịu đi cái vất hành trình.

Buôn Ma Thuột, một vùng đất cao nguyên rất hào hiệp và bao dung của suốt dòng lịch sử Nam tiến. Nơi đây là vùng đất tụ cho những dòng người lập nghiệp đến từ khắp mọi miền đất nước.

Đây là lần thứ năm tôi ghé đến vùng đất này trong gần nửa thế kỷ tha phương. Bốn lần trước, đây vẫn là vùng đất Cà (người địa phương gọi gần gũi thay cho Cà - Phê); nhưng lần này mùi cà phê ngan ngát đường phố và núi rừng đã thoảng mùi nồng ngọt mà ngai ngái hăng hăng làm nhăn mũi người chưa quen của sầu riêng vì đang ở thời cao điểm của mùa thu hoạch.

Tám mươi năm tuổi đời, nếu đem đếm bằng ngày tháng thì dài; nhưng khi đứng giữa một vườn sầu riêng đang mùa trái chín trên cao nguyên Đắk Lắk, nhìn những cành cây oằn xuống vì quả, tôi bỗng thấy đời người cũng chỉ như một mùa cây trái: nảy mầm, xanh lá, trổ hoa, kết quả, rồi một ngày lặng lẽ trả tất cả lại cho đất trời.

Năm nay, người trồng sầu riêng trên cao nguyên vui vì hai phần ba đất đồn điền cà phê đã chuyển sang trồng sầu riêng từ năm, bảy năm trước nay được mùa, sai trái.

Đi qua những vùng ngoại ô Buôn Ma Thuột, những khu vườn nối tiếp nhau, màu xanh thẫm trải dài dưới bầu trời mùa mưa. Trên cành, từng trái sầu riêng gai góc, nặng trĩu, được buộc dây cẩn thận. Gai nhọn là sự lỡ tay của thiên tài tạo hóa nên nhân gian đã được đền bù bằng những múi ngọt bên trong.

Buôn Ma Thuột cũng đang chuẩn bị cho lễ hội Sầu Riêng giữa thành phố. Đây là lần đầu tiên sản phẩm sầu riêng trở thành sức mạnh kinh tế vượt trội hơn cả sản phẩm cà phê đã hàng trăm năm qua có vai trò chủ lực trong hàng nông phẩm của vùng cao nguyên Đặk Lắk Buôn Ma Thuột.

 

SẦU RIÊNG.

Một cái tên nghe buồn quá!

Sầu đã buồn, lại còn riêng e cũng lẻ loi.

Nhưng trái sầu riêng thì chẳng có vẻ gì buồn cả. Nó lớn lên giữa nắng gió nhiệt đới, vỏ đầy gai nhọn, bên trong lại mềm, vàng, thơm và ngọt. Đến mùa, nó làm vui cả nhà vườn, thương lái, người mua kẻ bán; thậm chí trở thành một sản vật có giá trị của vùng đất cao nguyên.

Vậy tại sao lại gọi là “sầu riêng”?

Câu hỏi tưởng nhỏ ấy bỗng theo tôi suốt mấy ngày trên vùng đất này.

Người ta kể nhiều truyền thuyết rất đẹp về một mối tình dang dở, về người mất kẻ còn, để rồi “sầu riêng” trở thành nỗi sầu của riêng một người.

Truyền thuyết có dấu ấn đậm nét trong lòng tôi là câu chuyện của một mối tình nghèo thuở ban đầu trái sầu riêng du nhập vào nước ta. Đó là thời kỳ khi những nhóm người Việt bắt đầu đặt chân và định cư tại vùng đất Nam Bộ từ khoảng cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII. Phần lớn họ là những lưu dân từ Thuận Hóa, Quảng Nam và vùng Ngũ Quảng, đi về phương Nam để tránh chiến tranh, tìm đất sinh sống và khai khẩn.

Có thể ghi nhớ ba giai đoạn chính:

Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII những nhóm lưu dân người Việt đầu tiên đến vùng Mô Xoài, tức Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay, rồi dần tiến về Đồng Nai, Bến Nghé và Sài Gòn. Thời ấy có anh thương lái Khmer yêu cô gái Việt và hẹn hò trao chiếc xuồng chở đầy quả “mít gai” mà đất phương Nam chưa có. Cuộc hẹn hò trên bến Tiền Giang đã thành nỗi sầu vạn cổ khi tới gần bờ, thuyền lật úp và chôn vùi người con gái không thể bám vào gai nhọn của loại trái cây mới mẻ đó nên đã bị dìm chết đuối.

Không lâu sau đó có một giống cây lạ mọc trên bờ đất Việt. Chàng trai chung tình qua bao năm vẫn nhở và đến ôm gốc cây gọi tên “THU-RIEN” (gốc tiếng Khmer gọi trái sầu riêng nghe như SẦU RIÊNG)!

Tôi thích câu chuyện ấy với tư cách một người làm văn.

Nhưng nếu nhìn bằng con mắt ngôn ngữ học, có lẽ phải đi xa hơn.

Ở Mã Lai và Indonesia, trái này được gọi là “durian”, từ “duri”, nghĩa là gai. Sang những vùng lân cận, âm thanh ấy biến đổi: người Khmer có cách gọi gần với “thurén”; tiếng Thái có “thurian”; tiếng Lào cũng có âm gần “thu-rian”.

Durian.

Thurén.

Thurian.

Thu-rian.

Rồi đến Việt Nam:

Sầu riêng.

Tôi không dám quả quyết rằng “sầu riêng” nhất định là hậu thân của một trong những âm ấy. Ngôn ngữ học cần chứng cứ lịch sử, văn bản cổ và những quy luật chuyển âm chặt chẽ hơn một sự giống nhau nghe bằng tai.

Nhưng tôi vẫn thấy chữ “riêng” của chúng ta đứng cạnh những âm “-rian”, “-rien” của các dân tộc láng giềng là một điều đáng suy nghĩ.

Biết đâu trên con đường thiên di của một giống cây, cái tên của nó cũng đã đi qua nhiều bến bờ?

Từ những khu rừng nhiệt đới Mã Lai - Indonesia, qua đất Khmer, Thái, Lào, rồi vào miền Nam nước Việt, mỗi dân tộc nghe một cách, gọi một cách. Đến tai người Việt, một chuỗi âm thanh xa lạ có thể đã được uốn lại thành những tiếng quen thuộc với tâm hồn mình.

Và người Việt vốn là một dân tộc thi ca, rất hay “nghe” cuộc đời bằng tình cảm.

Thế là từ một tiếng gọi ngoại lai nào đó, nếu quả thực có cuộc chuyển âm ấy, dân gian đã nghe thành hai tiếng đẹp đến nao lòng:

Sầu riêng!

Rồi khi đã có hai chữ ấy, trí tưởng tượng của con người bắt đầu dệt nên những chuyện tình, những cuộc chia lìa, những nỗi nhớ.

Đó cũng là một cách ngôn ngữ trở thành văn hóa.

Tôi vốn là người Huế.

Huế của tôi cũng có nhiều chữ “sầu”.

Mưa Huế sầu đông.

Sông Hương sầu: Hương giang nhất phiến nguyệt. Kim cổ hứa đa sầu - ND (Mảnh trăng vằng vặc sông Hương. Sầu dâng hiện bóng vẫn thường xưa nay. )

Nhưng sống đến tám mươi tuổi, tôi mới hiểu rằng sầu không nhất thiết là khổ.

Có những nỗi sầu làm cho đời người sâu hơn.

Có những chia lìa làm cho ta biết quý một cuộc gặp.

Có những năm tháng xa quê làm cho một buổi trở về trở nên đa diết.

Và cũng có những cái “riêng” tưởng là của một mình mình, cuối cùng lại gặp được cái riêng của biết bao nhiêu người khác.

Tám mươi năm đời tôi cũng vậy.

Từ một miền quê làng Liễu Cốc Hạ xứ Huế, qua chiến tranh, ly tán, những cuộc ra đi, những chân trời xa lạ; từ quê nhà sang đất Mỹ rồi nhiều lần trở lại Việt Nam; mỗi đoạn đường tưởng như một câu chuyện riêng. Nhưng càng về cuối cuộc hành trình đời mình, tôi càng thấy chẳng có gì thật sự riêng.

Đời mình nằm trong đời người. 

Nỗi vui buồn của mình nằm trong vui buồn của quê hương. 

Và quê hương, lạ thay, đôi khi không hiện về bằng những điều lớn lao mà chỉ là những sợi mưa tình hoài niệm.

Nó có thể chỉ là một cơn mưa Buôn Ma Thuột như chiều nay tôi đi một mình trên đường Y jut!

Một con đường đất đỏ chiều qua quanh vùng chợ chiều Đạt Lý.

Một khu vườn sau cơn mưa.

Một người nông dân đứng dưới tàng cây nhìn mùa trái chín.

Hay một trái sầu riêng vừa được bổ ra, năm múi vàng ươm, thơm nồng đến mức người thích thì mê mà người không quen phải chạy xa.

Tôi bật cười.

Quả thật, sầu riêng cũng giống cuộc đời.

Bên ngoài gai góc.

Bên trong mềm.

Mùi vị lại chẳng chiều lòng tất cả mọi người.

Có người yêu, có người ghét.

Có người vừa gặp đã tránh xa; có người ăn một lần rồi nhớ mãi.

Con người sống tám mươi năm có lẽ cũng thế.

Không cần mong tất cả mọi người đều hiểu mình.

Cũng không cần mong mọi người đều thích mình.

Chỉ cần qua bao nhiêu mùa mưa nắng, bên trong lớp vỏ đã chai sần theo năm tháng vẫn còn giữ được một chút ngọt lành thuần khiết để chia cho người khác, thế là đủ.

Ngày 10 tháng 8 năm 2026, tôi bước vào tuổi tám mươi.

Tạm biệt Sacramento và tiệc mừng sinh nhật.

Tôi có một mùa sầu riêng đang chín trên cao nguyên.

Có đất đỏ dưới chân.

Có trời Buôn Ma Thuột trên đầu.

Có một quê hương mà sau bao nhiêu năm đi xa, mỗi lần trở lại vẫn còn đủ sức làm cho mình xúc động.

Và tôi chợt thấy cái tên “sầu riêng” hôm nay mang một nghĩa khác.

Sầu; nhưng không bi lụy.

Riêng; nhưng không đơn độc.

Bởi đến tuổi này, nỗi sầu riêng của một đời người, nếu biết mở lòng ra, cũng chỉ là một giọt nhỏ trong biển vui buồn vô tận của nhân gian.

Tám mươi tuổi, đứng giữa mùa trái chín, tôi không muốn đếm những gì đã mất.

Tôi muốn nhìn những gì vẫn còn.

Còn một buổi sáng để thức dậy.

Còn một con đường để đi.

Còn một quê hương để trở về.

Còn một mùa sầu riêng để nhớ.

Và, may mắn thay, còn một chút chữ nghĩa khiêm tốn và dòng tâm tư nhớ nhớ quên quên để ghi lại đôi điều trước khi tất cả cũng trở thành kỷ niệm.

Buôn Ma Thuột, mùa sầu riêng 2026

TRẦN KIÊM ĐOÀN

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Chín 20189:07 CH(Xem: 48467)
Sáng nay vừa ra khỏi ngân hàng, tôi ghé vào siêu thị mua tấm thiệp sinh nhật cho ba chồng. Dòng chữ được giác bạc ngoài tấm thiệp đề "For a great Dad..." đầy yêu thương, trân trọng. Vừa lúc đó tôi nhận được điện thoại từ chị gái. Linh cảm bất ổn vì lúc đó đã 10 giờ tối ở VN. Giọng chị hớt hãi "Yến ơi, Ba đi rồi...". Trên tay tôi vẫn cầm tấm thiệp. Vài giây trước đó khi đứng chọn tấm thiệp vừa ý nhất, tôi chợt nghĩ "Vì sao mình chưa bao giờ có được may mắn tặng cho ba mình tấm thiệp nào có nội dung như vậy. Vì sao ba mình không là một người great Dad như bao nhiêu người vẫn tự hào tặng thiệp cho ba họ trong ngày sinh nhật như chồng mình vẫn làm mỗi năm?".
24 Tháng Tám 20187:38 CH(Xem: 52799)
Tôi khởi viết những trang Nhật Ký Cuối Đời này, từ đầu năm 2016, sau ngày mẹ tôi từ trần tại Los Angeles, CA, ngày 27/11 Ất Mùi, tức Thứ Tư, 6/1/2016. Mẹ sinh ngày 7/3 Mậu Ngọ [7/4/1918], tại Phụng Viện thượng, Bình Giang, Hải Dương, thọ 99 tuổi ta. Cha tôi, sinh ngày 27/3 Mậu Ngọ [27/4/1918], mất sớm, ngày 8/3 Kỷ Mùi [4/4/1979], khi mới 62 tuổi, ở Sài Gòn. Khi gia đình ly tán—tôi lưu vong ra hải ngoại, anh trai tôi bị đưa ra bắc “cải tạo”—thuật ngữ tuyên truyền xảo quyệt của những người tự nhận Cộng Sản, dù chẳng hiểu Cộng Sản là gì, và trên thực chẩt, chỉ vẹt nhái theo Trung Cộng, vì Karl Marx và Friedrich Engels không hề nói đến góp chung tài sản, mà chỉ hoang tưởng ngợi ca một xã hội nguyên thủy công hữu [communism].
17 Tháng Bảy 20182:02 CH(Xem: 49578)
Có thể nói Luật Đặc Khu và cuộc trấn áp ngày 17/6 đã biến những người dân VN bình thường trở thành những nhà hoạt động. Và đó là khởi đầu một “cuộc chiến” mới. Trong cuộc chiến này, nhà cầm quyền Hà Nội sẽ phải đương đầu với một sức mạnh mà họ thầm hiểu rằng với nó; quân đội, súng ống, xe tăng,… hỏa lực dù mạnh thế nào cũng chỉ là bùn đất!
23 Tháng Năm 20182:17 SA(Xem: 50643)
Thuở ấy, ông Nghè Tân (Bắc Kỳ Thanh Tra Đại thần, Tiến sĩ Nguyễn Quý Tân) nhân một hôm đi ngang cánh đồng Phủ Bình Giang thấy một người đàn bà đang mếu máo, nhớn nhác tìm kiếm một vật gì. Gặng hỏi thì được biết người đàn bà này góa chồng, có một con trâu mới chết, bà đã đóng 2 quan tiền cho lý trưởng làm đơn, đóng triện để lên trình quan phủ. Vội vàng làm sao bà đánh rơi mất tờ đơn. Nay đường về làng thì xa, trong cái ruột tượng xác xơ kia chỉ còn 6 quan tiền để lễ quan phủ và nha lại lấy đâu ra tiền để nhờ người viết đơn!
16 Tháng Năm 20181:22 SA(Xem: 57220)
Tôi rời Hà Nội vào Nam rất sớm. Năm 1951 tôi đã theo bố tôi và người chị cả vào định cư ở Sài Gòn trong khi mẹ tôi và các anh chị tôi vẫn còn ở Hà Nội cho đến ngày di cư. Vào Nam ba bố con tôi ở chung với gia đình người bác ở đầu đường Hồng Thập Tự gần sở thú Sài Gòn. Thời gian chúng tôi ở đó tôi thường theo các anh họ tôi đạp xe đi tắm ở hồ bơi mà hồi đó chúng tôi gọi là "đi pít-xin". Hồ bơi ở xa lắm, mãi tuốt trong Chợ Lớn. Tôi nhớ là để tới hồ bơi chúng tôi phải dắt xe đi ngang một con đường sắt, rồi lại phải băng qua một bãi đất trống rất rộng mấp mô đầy những mồ mả.
07 Tháng Năm 20184:58 CH(Xem: 52543)
Một sợi dây dừa nối hai sinh linh tật nguyền để tạo thành một sinh thể thống nhất, mang tính bù đắp, tối ưu của thích nghi nhưng không thoát khỏi vẻ dị hình, sự mất định hướng đến vụng về của một phần cơ thể mù lòa được kéo lê phía sau. Nhìn họ di chuyển như hình ảnh một con sâu đo, bị chiếp dép quằn nát khúc giữa, ngúc ngắt vô vọng nhưng trong đó là cả hai thân phận con người và tự thân, chừng như họ cũng đang quằn quại với nỗi đau mưu sinh. _ Lại cho chú thương phế binh kia năm chục đi con! Là một người suốt đời sống với cái chợ, má tôi thường nói với tôi khi nhìn thấy hai con người thống khổ ấy. Tôi cầm tờ giấy bạc, chạy tới, bỏ vào cái cà mèn và đáp lại, luôn là một tiếng “Cám ơn” nhẹ nhàng, của những con người có tâm hồn thật tử tế. ... "
30 Tháng Tư 20189:14 CH(Xem: 48094)
Trung Quốc đang khống chế không chỉ Biển Đông mà còn trên toàn Lưu Vực Sông Mekong, Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn, giới cầm quyền VN thì lệ thuộc về chính trị vào Trung Quốc và do đó hoàn toàn bị động. Cho dù Việt Nam thỉnh thoảng có lên tiếng phản đối yếu ớt nhưng thực tế không có chiến lược gì cụ thể và hầu như không làm được gì để bảo vệ sự sống còn của hơn 17 triệu cư dân ĐBSCL và cũng là vựa lúa của cả nước. Đó là một sự thật.
31 Tháng Ba 20181:21 SA(Xem: 56896)
Đúng 14G40, tàu chuyển bánh. Chúng tôi nô nức nhìn sang hai bên đường, quan sát cảnh vật. Sài Gòn vẫn đỏ rực màu cờ và biểu ngữ, dấu tích của những cuộc “diễu hành” và “diễu binh” mừng “đại thắng mùa Xuân 1975,” “giải phóng miền Nam” từ Bắc chí Nam suốt một tháng qua—với chi phí khá lớn, hẳn có thể sử dụng một cách tốt đẹp hơn cho các kế hoạch an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, với tiêu chuẩn phân chia giàu nghèo 150,000 đồng mỗi tháng. Nhưng những chính quyền chuyên chính—hay, “dân chủ tập trung,” nếu muốn—thường dành cho ngành tuyên truyền ngân khoản lớn...
25 Tháng Ba 201812:47 SA(Xem: 55703)
Thời gian trôi nhanh, trên nửa thế kỷ qua đi, tôi vẫn không quên kỷ niệm cuộc “hành quân”đầu tiên trong đời binh nghiệp tại làng 13Bis. Hình ảnh những thi hài dù được thu lượm về hay còn nằm phơi mình dưới nắng mưa ngoài trận địa, hoặc được chôn vùi một cách đơn sơ trong rừng sâu khiến tôi tự hỏi tất cả những hy sinh của họ đã được đền bù xứng đáng chưa? Đem thể xác yếu như “cây sậy” của họ thách thức bom đạn, để phục vụ một lý tưởng nào quá xa xôi và mơ hồ, liệu có tàn nhẫn không? Những danh hiệu, những mỹ từ, những truy phong, truy tặng v.v có đủ để đánh đổi mạng sống của họ hay chăng? Dù gì đi nữa, một điều chắc chắn là thân xác những người đã hy sinh ấy nay đã thành “cát bụi”…Và không biết ba mươi năm chiến tranh Việt Nam 1945-1975 mà nhiều người gọi là cuộc chiến tranh “phúc đức”, có bao nhiêu triệu người dân Việt trở thành cát bụi ?
04 Tháng Ba 20182:00 CH(Xem: 53320)
"Không Cần Phải Đốt Sách để phá huỷ một nền văn hoá, Chỉ Cần Buộc Người Ta Ngừng Đọc mà thôi." "You don't have to burn books to destroy a culture. Just get people to stop reading them." Ray Bradbury phát biểu câu trên cách đây mới có 24 năm khi trả lời phỏng vấn của Misha Berson, của tờ The Seattle Times (12 March 1993)