- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Phụng, trở lại với đời

17 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 119945)

st_tcp_1

Tôi điếng người sau cú phôn. Phôn của anh bạn ở Portland. Phụng dính ung thư gan! Tôi loanh quanh chẳng biết mình đang làm gì và đang muốn làm gì. Có lẽ nào! Đang khi không bỗng trời ập xuống. Cảm giác này tôi đã có khi nghe tin Trường Kỳ vừa vội vã ra đi. Khi Phụng sang Montreal là ba đứa tôi hàn huyên ríu rít. Cho tới bây giờ tôi không nhớ là tôi quen Kỳ lúc nào và quen Phụng lúc nào. Hình như tình thân có sẵn đó. Chưa bao giờ tới và chưa bao giờ đi. Chỉ có con người đi. Kỳ đã đi. Phụng bên bờ vực!

Anh bạn luôn sát cánh bên Phụng cho biết là bác sĩ cho Phụng cái hạn ba tháng. Biết mình chỉ còn ba tháng trên đời, Phụng tính những chi? Tôi băn khoăn mà không dám nhấc phôn hỏi. Tôi sợ sự sợ hãi. Phụng đang nằm trong sự sợ hãi của một kẻ bị dồn tới chân tường. Phôn rồi biết nói chi với Phụng. Ông khoẻ không? Vô duyên! Ông đang làm gì đó? Lại vô duyên. Phụng không còn cái yên ắng của những người chưa phải thấy cái hàng rào thời gian chặn trước mặt. Ba tháng để thu xếp một đời. Có ngắn quá không? Có dài quá không? Kỳ không có thời gian đối mặt đó. Ào một cái, Kỳ đi. Dứt khoát. Chẳng phải tính toán chi. Khỏe re!

Chuyện gì cũng vậy. Biết trước vẫn hơn. Không phải bất ngờ đưa đến những sai lầm của vội vàng. Nhưng chuyện đi, đi một đường thẳng, chắc có khác. Ba tháng của Phụng nhất định là ba tháng khốn khó. Tôi cũng thấy khó. Làm sao bấm được 8 con số để với tới Phụng. Loanh quanh mãi tôi cũng bấm được hàng số nằm thản nhiên trên chiếc phôn. Hàng số của anh bạn tâm giao với cả tôi và Phụng. Tôi quen anh bạn từ ngày dạy học ở Vũng Tầu. Hai đứa đều là giáo sư dân chính dạy giờ tại trường Thiếu Sinh Quân trong khi chưa xong nợ sách đèn tại Đại Học. Dạy học để có tiền đi học. Trên bãi biển Vũng Tàu, giữa tiếng sóng ầm ì, trong những đêm trăng sáng, mấy tên nhà giáo thứ thiệt có ngạch trật đàng hoàng, bên trường Trung Học Vũng Tầu, vẫn mắng chúng tôi là giáo…gian! Chẳng oan chút nào!

Dựa vào sự quen biết từ những ngày hàn vi xa lắc xa lơ, tôi vẫn dùng anh bạn làm cục kê trong những lần ngại gọi thẳng Phụng. Giao hả? Tôi thầm thì như sợ Phụng nghe thấy tuy nhà anh và nhà Phụng cách nhau tới cả giờ lái xe. Phụng ra sao? Tai tôi ghé sát ống nghe. Thì như moa đã mail cho toa. Bác sĩ đã có…phán quyết rồi! Tôi hụt hẫng. Toa thấy Phụng ra sao? Buồn lắm! Khoảng hai, ba năm trước Phụng đã một lần bị anh chàng ung thư thăm hỏi. Lần đó là ung thư túi mật. Theo chị Ái, bà xã của Phụng, chị thấy anh mất cân dần, mặt mày hốc hác nên vội đưa anh tới bệnh viện. Thử mới lòi ra bệnh. Dính chấu! Nhà thương vội mổ ngay. Cắt đứt cái túi phản bội trong con người anh. Tưởng rằng đã yên. Mà yên thật. Anh đã hát hò lại.

Phụng rất mê hát. Đó là lẽ sống của anh. Nhớ trong lần tôi chở vợ chồng Phụng từ Toronto đi thăm thác Niagara, Phụng vừa hát vừa mở đĩa nghe mình hát suốt chặng đường. Anh say mê nhạc như say mê người tình. Nói như vậy sai bét. Phụng là người rất gọn gàng trong tình cảm. Người thương anh thiếu giống. Người yêu nhạc của anh và tác giả của nó cũng thiếu chi. Nhưng anh chàng văn nghệ này rất có trật tự. Văn nghệ thì được nhưng lai rai thì không. Vậy thì Phụng mê nhạc như điếu đổ. Cái thứ tương tư thảo Phụng mê thật. Mê trong lén lút. Thời buổi bây giờ người ta được khuyến khích phụ lòng thứ cỏ thơm. Phụng, cũng như các đệ tử của khói, chẳng thể lạc hậu được nữa. Nhưng dứt ngang thì chẳng đặng nên cứ lén lút thỉnh thoảng làm vài hơi. Tôi đã có lần nối giáo cho…bạn. Có chết thằng tây nào đâu!

Các bạn tôi nhiều người có tật. Các cụ đã phán là có tật có tài. Họ là những con cháu ngoan của các cụ. Có tài mà không có tật sẽ làm buồn lòng các cụ. Tài họ đã có thì tật dĩ nhiên cũng phải có. Ông nhà thơ Hoàng Xuân Sơn cư ngụ cùng một thành phố với tôi, có lần đau cổ mất tiếng. Nhà thơ kiêm nhà…hát mà mất tiếng thì còn ra làm sao nữa! Y chang! Ông sang Boston dự ra mắt thơ của ông Phan Xuân Sinh. Dĩ nhiên ông bị điệu lên micro. Xui làm sao bữa đó tôi cũng có mặt tại chỗ. Chàng nhà thơ họ Hoàng thoái thác không được. Nghe tiếng hát lạ tai tôi muốn biến mất trên cõi đời phiền muộn này. Mang chuông đi đánh xứ người! Phiền cái chuông rè này quá. Không biết có phải vì vết nứt của chuông không mà bạn tôi chịu đi bệnh viện cho bác sĩ coi cái cần cổ. Trước khi đi, bạn tôi dõng dạc đặt điều kiện với vợ. Nếu đúng là ung thư thì phải cho chàng hút thuốc thả cửa từ giờ tới chết. Thiệt xui cho bạn tôi! Không phải ung thư!

Ông bạn Du Tử Lê, bạn ông Từ Công Phụng và là người có nhiều thơ được ông Phụng phổ nhạc, cũng nặng khói thuốc. Nhưng ông này vốn là…du tử họ Du nên chẳng care chi ai. Ông chỉ care lũ cầm quyền. Khi sang Montreal. Lúc các quán cà phê còn được cho phép thả khói thuốc mịt mù, ông khen. Cái xứ này văn minh thiệt!

Chuyện mê khói mà sánh với chuyện mê nhạc là đúng chỉ số. Toàn là thứ sống chết cả! Cuối cùng tôi cũng sống chết phải phôn. Nhấc cái phôn, quay số, chuông reo. Bên kia đầu giây là chị Ái. Cuộc chuyện trò đẫm nước mắt. Người bệnh đã xong phần cam chịu của người bệnh. Người đầu ấp tay gối có cái đau khác. Cái đau không ở trong người nhưng da diết ruột gan. Phụng đang nằm đâu đó trong nhà. Chị Ái đưa phôn cho Phụng. Tôi chờ một giọng trầm buồn nhưng lại được nghe một giọng…bạt mạng. Nó đánh mình thì mình đánh lại! Bạn mình khá, tôi nghĩ.

Tuổi của lũ chúng tôi bây giờ là tuổi vàng. Nghe yếu xìu. Thân thể của chúng tôi bây giờ là vùng oanh kích tự do của tật bệnh. Chúng muốn lui tới lúc nào cũng được. Ông bạn thân của Từ Công Phụng và tôi, nhà thơ Du Tử Lê, đã thấm sự…mở cửa của mình. Ngày 30 tháng 4 vừa qua, trong một cuộc phỏng vấn của cô Thuý Anh trên đài Văn Nghệ Thúy Nga, Du Tử Lê đã cho biết: “Tôi may mắn được qua cơn bệnh hiểm nghèo là bệnh ung thư ruột. Theo nguyên tắc, các bác sĩ nói, khi qua được 5 năm thì coi như bệnh nhân không còn bị đe dọa bởi cơn bệnh nữa. Tuy nhiên chưa kịp vui trọn thì các bác sĩ lại khám phá trong phổi tôi có một cái bướu…Nhỏ thôi. Sau nhiều lần CT Scan vẫn không thấy cái bướu tăng truởng, nên bác sĩ Lê Trần Hoàng, người theo dõi tình trạng phổi của tôi, cho hay, ông hy vọng không phải là một di căn của cancer. Kết luận tạm thời của bác sĩ Hoàng là một kết luận tốt. Vì tôi cũng mong là được như vậy. Tuy nhiên nếu có là cancer thì mình cũng vui thôi!”.

Niềm vui ung thư, đó là tên một truyện ngắn của nhà văn bác sĩ Trần Long Hồ. Niềm vui trong truyện là niềm vui của ông Parker, bệnh nhân ung thư phổi của bác sĩ Trần. Ông chán nản phải chịu đựng căn bệnh nên tung hê hết. “Tôi đẩy cửa [phòng vệ sinh] bước vào. Ông Parker đang ngồi trên bồn cầu, đầu ông dựa ngửa ra sau nhưng mắt ông nhắm nghiền. Trên môi ông còn ngậm điếu thuốc cháy dở. Bàn tay ông đặt trên đùi còn nắm chặt tấm hình trần truồng của [bà vợ] Nancy. Cái đầu trọc lốc vẫn tựa vào vách. Tôi nhìn kỹ lại thấy mạch của ông không còn đập và ông đã ngưng thở”. Ông Parker này cũng là đệ tử của khói và cũng biết thưởng thức thứ văn nghệ trần truồng của bà vợ. Kể cũng nòi...cự phách! Cự Phách là tên cúng cơm của ông Du Tử Lê. Niềm vui của ông bạn này…vui hơn nhiều. Ông bay từ Cali qua Portland thăm ông Phụng. Ông ung thư ruột thăm ông ung thư gan. Coi video cuộc trùng phùng của hai tác giả bản nhạc “Giữ Đời Cho Nhau”, một ông làm thơ, một ông đặt nhạc, tôi chỉ thấy tiếng cười. Trước đây, ông bạn Lê Đình Điểu, cũng ung thư, khi sắp ra đi, còn gửi thư cho bạn bè cho biết rất bằng lòng với số phận vì dù sao cũng đã có mặt trên đời được một hoa giáp. Một hoa giáp là sáu chục năm. Tuổi đó, cả hai ông Từ Công Phụng và Du Tử Lê đã qua cầu. Vậy thì có chi mà care! Cũng trong cuộc phỏng vấn trên, ông Du Tử lê đã hiên ngang: “…Sau khi tôi trải qua một cơn bệnh ngặt nghèo và, tôi sống được đến ngày hôm nay, tôi cho đó là một điều may mắn. Một sự kỳ diệu. Nên, mỗi ngày được sống thêm, tôi đều tận hưởng nó, như một bonus, với tất cả lòng biết ơn đời sống. Biết ơn trời đất. Biết ơn gia đình. Biết ơn vợ con. Biết ơn bằng hữu. Nên, tôi luôn thấy mình hân hoan. Mỗi buổi sáng, khi mở mắt ra, thấy mình còn sống, tôi lại nói: “Cám ơn Trời Đất đã cho con sống thêm một ngày”. Và tôi mỉm cười với gia đình, với vợ con chung quanh sau câu cám ơn ấy”.

Cũng trong cuốn video cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn văn nghệ, Phụng, với chiếc mũ nồi sùm sụp trên đầu, vẫn hào hứng chỉ dẫn cho một người bạn hát cho đúng một bản nhạc của anh. Đôi khi anh hát làm mẫu với tiếng đàn tây ban cầm. Giọng anh không còn là giọng trên sân khấu nhưng mắt anh vẫn ngời ngời say sưa. Bệnh tật không lấy đi được âm nhạc của anh tuy nó đã quật anh te tua bằng cách ăn cắp của anh một vài ký thịt, một nhúm tóc muối tiêu. Có một lúc anh đã giở chiếc mũ ra, nắm một nhúm tóc, vê vê trên tay, giơ ra cho mọi người thấy.

Tóc của Phụng, đó là một mái tóc bồng bềnh rất nghệ sĩ. Nhất định không thể là Phụng nếu không có mái tóc đó. Vậy mà cũng tới lúc anh phải buông bỏ. Những cú phôn của chúng tôi, trước hay sau khi Phụng vướng bệnh, đều là những tiếng cười. Khi đã trải qua mấy lần làm chemo, trong một lần Phụng cười nghiêng ngả trong phone, anh đã bảo tôi: “Thôi ông, tôi cười đau cái bụng quá!”. Lần đó, Phụng cho biết anh đã xuống tóc. “Nó rụng hàng nắm, cạo trọc luôn cho khỏi rắc rối!”. Chiếc đầu bình vôi đó tôi đã được chiêm ngưỡng. Phụng có khác đi nhưng cũng không đến nỗi nào. Phụng đã quen với bệnh thì bạn bè cũng phải quen với cái đầu không tóc của Phụng. Như Mai Thảo đã thơ. Bệnh ở trong người thành bệnh bạn / Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân / Gối tay lên bệnh nằm thanh thản / Thành một đôi ta rất đá vàng. Bạn tôi đang phải thù tiếp ông bạn không hẹn mà đến, không mời mà ngồi lỳ không chịu đi đó.

Ông bạn bệnh tinh quái đã thay đổi hình hài của người nhạc sĩ tài hoa lịch lãm. Nhớ, ngày vợ chồng tôi cùng vợ chồng Phụng lang thang trên đường phố Vancouver. Trời hây hây lạnh. Phụng khoác chiếc áo dạ nâu dài, thả hững hờ chiếc khăn choàng sọc nâu đỏ dài xuống tới thắt lưng. Đường phố vào thu. Những chiếc lá vàng lăn tăn chạy theo gió. Chúng tôi lang thang suốt ngày. Thường thì sau mỗi lần trình diễn, vợ chồng Phụng trở về liền. Lần đó, chúng tôi hẹn nhau. Phụng từ Portland tới, tôi từ Montreal sang. Sau ngày trình diễn, vợ chồng Phụng ở lại để rong chơi với vợ chồng tôi. Lũ chúng tôi xác xơ dần, mỗi lần gặp nhau là một lần khó. Ngày vui càng lúc càng hiếm.

Nhớ, lần Phụng qua Montreal trình diễn. Ngày hôm trước Phụng hát ở Montreal. Ngày hôm sau, Luân Hoán, oaàng Xuân SơnHHoàng Xuân Sơn và tôi ra mắt sách ở Toronto. Chương trình sơ khởi do Lê Hân tổ chức chỉ là một chương trình hát tình ca phụ diễn. Tôi phone qua Phụng từ vài tuần trước hỏi Phụng có chơi văn nghệ với anh em, xuống Toronto hát chùa trong buổi ra mắt sách không? Phụng…chơi ngay. Vui là chính. Đêm hôm trước, trong khi Phụng hát ở Montreal, vợ chồng Luân Hoán và vợ chồng tôi lái xe xuống Toronto trước. Nửa đêm mới vãn hát, sáng sớm ngày hôm sau, từ khi mặt trời chưa thức dậy, vợ chồng Phụng đã khăn gói ra phi trường. Hơn một giờ bay, Phụng tới Toronto, Lê Hân và tôi đã có mặt tại phi trường Pearson của Toronto đón. Buổi ra mắt sách dự định vào cửa tự do đã phải đổi thành tặng vé vào cửa. Khán giả sẽ phải tới lấy vé tặng nơi ban tổ chức. Nếu không, chắc rạp hát sẽ bể vì lượng người tuôn tới. Đây là lần đầu tiên Phụng hát ở Toronto. Một tập nhạc đã được Lê Hân in cấp tốc để Phụng cũng ra mắt sách cho vui. Phụng mang thêm một số đĩa nhạc qua. Khán giả xúm xít vào nơi Phụng ngồi ký sách và băng nhạc. Vui ơi là vui. Trên sân khấu, trong phần giới thiệu Phụng, tôi lên tung hứng với Phụng trong một màn không sửa soạn, không tập dượt nhưng đầy cảm hứng. Nhạc sĩ Trường Sa ngồi ở hàng ghế đầu cũng được móc lên giới thiệu với khán giả. Ông khóc vì cảm động. Đã lâu Từ Công Phụng và Trường Sa không gặp nhau. Có lẽ từ khi hai người, mỗi người một cách, mỗi người một thời gian khác nhau, bỏ nước ra đi.

Nhớ, ngày tôi bắt xe đò từ Seattle qua Portland thăm Phụng. Những buổi sáng, cà phê do Phụng pha (Tôi pha cà phê ngon nức tiếng đó ông!) ngay trên lan can phía trước căn nhà cổ của Phụng, chuyện miên man, từ chuyện viết lách, văn nghệ lan qua tới cả chuyện tâm linh. Phụng có niềm tin tôn giáo rất vững vàng. Chính niềm tin đó đã cứu rỗi Phụng qua những ngày bệnh ngặt nghèo.

Bệnh cứ bệnh, sống cứ sống, bạn tôi vẫn cười với đời. Khóc chăng là chị Ái, người đã từng trải bao gian nan trong cuộc sống. Cú gian nan này xem ra cũng không làm nhụt được ý chí của người đàn bà đã từng bao lần vươn vai đứng dậy. Chị cuống cuồng giữ hơi thở của chồng. Chemo cứ chemo, ai chỉ bài thuốc nào chị cũng lăn ra làm. Người Phụng là nơi tiếp nhận đủ cả đông y tây y. Từ những thang thuốc bổ tới lá đu đủ, từ linh chi tới măng tây, cọng sả, hay bất cứ thứ lá lẩu nào có thể làm quê anh ung thư. Bệnh Phụng khi trồi khi sụt. Có lần tôi phone qua, Phụng mệt không nói được. Có lần Phụng nhanh nhẹn tán chuyện liên chi hồ điệp. Hỏi thăm về bệnh, Phụng coi nhẹ: “Mình đánh nó, nó đánh lại mình, nó thua thì nó chạy, mình thua thì mình lui. Lui tới chân tường là cùng!”. Nhiều khi ngại không biết bây giờ bệnh Phụng ra sao (bây giờ tháng mấy nhỉ?) tôi lại đi đường vòng phone cho Giao hỏi thăm tình hình trước. Nếu không vui thì để Phụng nghỉ, cứ mang bệnh ra mà tán chán chết, cho cả tôi và Phụng. Nếu nghe thấy Phụng khỏe, phone qua Phụng ngay, chia nhau những nụ cười, tiếp chút sức cho bạn. Có lần Phụng cao hứng nói huyên thuyên, cười đã, lại còn hát hỏng coi xem còn được không. Hát được có lẽ nhờ những tô phở gà của chị Ái. Phụng ưa ăn phở. “Bi chừ tôi đâu có ăn được phở bò! Ăn để tiếp đạn cho quân địch sao? Thịt đỏ là thứ anh cancer thích lắm. Cứ phở gà mà chơi”. Phở gà của chị Ái là thứ phở tinh khiết, không mỡ màng, thứ được chọn lọc cẩn thận, Phụng ăn vào là an toàn. Tình trạng của Phụng được tính theo phở. Ít ra là với đệ tử của phở như tôi. Cứ hỏi những bát phở Phụng ăn là biết được sức khỏe của Phụng. Từ đầu năm, tình trạng của Phụng lên dần. Và chót hết lên tới…đỉnh bình yên. Giao mail qua cho tôi. Phụng đã ăn hết bay hai tô phở một lúc. Vui mừng phone qua Phụng, chàng xác nhận vết ung trong gan đã teo lại. Quân ta thắng.

Trong số quân ta có những người yêu nhạc của Phụng. Có lần Phụng bi quan nới với tôi khi anh cho biết có người không biết anh bệnh nên mời anh đi hát: “Hát hò chi nữa. Chắc kiếp sau!”. Kiếp sau thì xa quá. Mà lúc đó biết Phụng ở đâu mà tìm tới nghe. Phụng vốn galant đâu có làm buồn người ái mộ đến vậy. Giờ, đánh cho anh chàng bệnh lui, Phụng phải hát lại. Anh phone qua tôi. Anh sẽ “Tạ Ơn Đời”. Đó là chủ đề và cũng là lý do mà Phụng sẽ gặp lại khán giả.

Khi tôi đến nơi đây nắng rực rỡ ngoài khoang trời xa, và lòng tôi thấy rộng mở những thiên đường…Phụng đã trở lại với đời. Bởi vì anh vẫn còn nợ đời! Hay đời còn nợ Phụng?

 

SONG THAO

05/2011

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Mười 20189:13 SA(Xem: 53052)
Sinh ngày 6/10 Nhâm Ngọ, tức 13/11/1942, tại thôn “Me Vừng,” làng Phụng Viện thượng Hải Dương, Bình Giang, Hải Dương—nhưng trên khai sinh, đề ngày 6/0/1942—tôi có một lá tử vi khá kỳ lạ. Giáo sư Nguyễn Bỉnh Tuyên—một lãnh tụ Đại Việt Quốc Xã, thày dạy kèm chữ Pháp cho tôi trong hai năm Đệ Tam, Đệ Nhị (1957-1959)—nói tôi có số “ở tù;” nên “ở lính” có thể giải thích như ở tù. Mãi tới năm 1971, bác Phan Vọng Húc—bạn cha tôi ở Hải Dương, phụ thân nhà thơ Phan Lạc Giang Đông—mới đưa ra lời giải đoán khá chính xác: Tôi có số “Ngựa Trời,” sẽ xuất ngoại, đỗ đại khoa, và thọ tới hơn 70.
13 Tháng Chín 20189:07 CH(Xem: 48294)
Sáng nay vừa ra khỏi ngân hàng, tôi ghé vào siêu thị mua tấm thiệp sinh nhật cho ba chồng. Dòng chữ được giác bạc ngoài tấm thiệp đề "For a great Dad..." đầy yêu thương, trân trọng. Vừa lúc đó tôi nhận được điện thoại từ chị gái. Linh cảm bất ổn vì lúc đó đã 10 giờ tối ở VN. Giọng chị hớt hãi "Yến ơi, Ba đi rồi...". Trên tay tôi vẫn cầm tấm thiệp. Vài giây trước đó khi đứng chọn tấm thiệp vừa ý nhất, tôi chợt nghĩ "Vì sao mình chưa bao giờ có được may mắn tặng cho ba mình tấm thiệp nào có nội dung như vậy. Vì sao ba mình không là một người great Dad như bao nhiêu người vẫn tự hào tặng thiệp cho ba họ trong ngày sinh nhật như chồng mình vẫn làm mỗi năm?".
24 Tháng Tám 20187:38 CH(Xem: 52547)
Tôi khởi viết những trang Nhật Ký Cuối Đời này, từ đầu năm 2016, sau ngày mẹ tôi từ trần tại Los Angeles, CA, ngày 27/11 Ất Mùi, tức Thứ Tư, 6/1/2016. Mẹ sinh ngày 7/3 Mậu Ngọ [7/4/1918], tại Phụng Viện thượng, Bình Giang, Hải Dương, thọ 99 tuổi ta. Cha tôi, sinh ngày 27/3 Mậu Ngọ [27/4/1918], mất sớm, ngày 8/3 Kỷ Mùi [4/4/1979], khi mới 62 tuổi, ở Sài Gòn. Khi gia đình ly tán—tôi lưu vong ra hải ngoại, anh trai tôi bị đưa ra bắc “cải tạo”—thuật ngữ tuyên truyền xảo quyệt của những người tự nhận Cộng Sản, dù chẳng hiểu Cộng Sản là gì, và trên thực chẩt, chỉ vẹt nhái theo Trung Cộng, vì Karl Marx và Friedrich Engels không hề nói đến góp chung tài sản, mà chỉ hoang tưởng ngợi ca một xã hội nguyên thủy công hữu [communism].
17 Tháng Bảy 20182:02 CH(Xem: 49337)
Có thể nói Luật Đặc Khu và cuộc trấn áp ngày 17/6 đã biến những người dân VN bình thường trở thành những nhà hoạt động. Và đó là khởi đầu một “cuộc chiến” mới. Trong cuộc chiến này, nhà cầm quyền Hà Nội sẽ phải đương đầu với một sức mạnh mà họ thầm hiểu rằng với nó; quân đội, súng ống, xe tăng,… hỏa lực dù mạnh thế nào cũng chỉ là bùn đất!
23 Tháng Năm 20182:17 SA(Xem: 50447)
Thuở ấy, ông Nghè Tân (Bắc Kỳ Thanh Tra Đại thần, Tiến sĩ Nguyễn Quý Tân) nhân một hôm đi ngang cánh đồng Phủ Bình Giang thấy một người đàn bà đang mếu máo, nhớn nhác tìm kiếm một vật gì. Gặng hỏi thì được biết người đàn bà này góa chồng, có một con trâu mới chết, bà đã đóng 2 quan tiền cho lý trưởng làm đơn, đóng triện để lên trình quan phủ. Vội vàng làm sao bà đánh rơi mất tờ đơn. Nay đường về làng thì xa, trong cái ruột tượng xác xơ kia chỉ còn 6 quan tiền để lễ quan phủ và nha lại lấy đâu ra tiền để nhờ người viết đơn!
16 Tháng Năm 20181:22 SA(Xem: 57061)
Tôi rời Hà Nội vào Nam rất sớm. Năm 1951 tôi đã theo bố tôi và người chị cả vào định cư ở Sài Gòn trong khi mẹ tôi và các anh chị tôi vẫn còn ở Hà Nội cho đến ngày di cư. Vào Nam ba bố con tôi ở chung với gia đình người bác ở đầu đường Hồng Thập Tự gần sở thú Sài Gòn. Thời gian chúng tôi ở đó tôi thường theo các anh họ tôi đạp xe đi tắm ở hồ bơi mà hồi đó chúng tôi gọi là "đi pít-xin". Hồ bơi ở xa lắm, mãi tuốt trong Chợ Lớn. Tôi nhớ là để tới hồ bơi chúng tôi phải dắt xe đi ngang một con đường sắt, rồi lại phải băng qua một bãi đất trống rất rộng mấp mô đầy những mồ mả.
07 Tháng Năm 20184:58 CH(Xem: 52351)
Một sợi dây dừa nối hai sinh linh tật nguyền để tạo thành một sinh thể thống nhất, mang tính bù đắp, tối ưu của thích nghi nhưng không thoát khỏi vẻ dị hình, sự mất định hướng đến vụng về của một phần cơ thể mù lòa được kéo lê phía sau. Nhìn họ di chuyển như hình ảnh một con sâu đo, bị chiếp dép quằn nát khúc giữa, ngúc ngắt vô vọng nhưng trong đó là cả hai thân phận con người và tự thân, chừng như họ cũng đang quằn quại với nỗi đau mưu sinh. _ Lại cho chú thương phế binh kia năm chục đi con! Là một người suốt đời sống với cái chợ, má tôi thường nói với tôi khi nhìn thấy hai con người thống khổ ấy. Tôi cầm tờ giấy bạc, chạy tới, bỏ vào cái cà mèn và đáp lại, luôn là một tiếng “Cám ơn” nhẹ nhàng, của những con người có tâm hồn thật tử tế. ... "
30 Tháng Tư 20189:14 CH(Xem: 47951)
Trung Quốc đang khống chế không chỉ Biển Đông mà còn trên toàn Lưu Vực Sông Mekong, Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn, giới cầm quyền VN thì lệ thuộc về chính trị vào Trung Quốc và do đó hoàn toàn bị động. Cho dù Việt Nam thỉnh thoảng có lên tiếng phản đối yếu ớt nhưng thực tế không có chiến lược gì cụ thể và hầu như không làm được gì để bảo vệ sự sống còn của hơn 17 triệu cư dân ĐBSCL và cũng là vựa lúa của cả nước. Đó là một sự thật.
31 Tháng Ba 20181:21 SA(Xem: 56704)
Đúng 14G40, tàu chuyển bánh. Chúng tôi nô nức nhìn sang hai bên đường, quan sát cảnh vật. Sài Gòn vẫn đỏ rực màu cờ và biểu ngữ, dấu tích của những cuộc “diễu hành” và “diễu binh” mừng “đại thắng mùa Xuân 1975,” “giải phóng miền Nam” từ Bắc chí Nam suốt một tháng qua—với chi phí khá lớn, hẳn có thể sử dụng một cách tốt đẹp hơn cho các kế hoạch an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, với tiêu chuẩn phân chia giàu nghèo 150,000 đồng mỗi tháng. Nhưng những chính quyền chuyên chính—hay, “dân chủ tập trung,” nếu muốn—thường dành cho ngành tuyên truyền ngân khoản lớn...
25 Tháng Ba 201812:47 SA(Xem: 55518)
Thời gian trôi nhanh, trên nửa thế kỷ qua đi, tôi vẫn không quên kỷ niệm cuộc “hành quân”đầu tiên trong đời binh nghiệp tại làng 13Bis. Hình ảnh những thi hài dù được thu lượm về hay còn nằm phơi mình dưới nắng mưa ngoài trận địa, hoặc được chôn vùi một cách đơn sơ trong rừng sâu khiến tôi tự hỏi tất cả những hy sinh của họ đã được đền bù xứng đáng chưa? Đem thể xác yếu như “cây sậy” của họ thách thức bom đạn, để phục vụ một lý tưởng nào quá xa xôi và mơ hồ, liệu có tàn nhẫn không? Những danh hiệu, những mỹ từ, những truy phong, truy tặng v.v có đủ để đánh đổi mạng sống của họ hay chăng? Dù gì đi nữa, một điều chắc chắn là thân xác những người đã hy sinh ấy nay đã thành “cát bụi”…Và không biết ba mươi năm chiến tranh Việt Nam 1945-1975 mà nhiều người gọi là cuộc chiến tranh “phúc đức”, có bao nhiêu triệu người dân Việt trở thành cát bụi ?