- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

TA LÀ — KHI CÁI TÔI ĐỨNG DẬY TRƯỚC QUYỀN LỰC

18 Tháng Mười 202612:01 SA(Xem: 1394)



NgHuuLiem- TA LA
Tác giả Tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm
Buổi ra mắt sách: “ TA LÀ -Những Khúc Mắc Siêu Hình Học”



TA LÀ — KHI CÁI TÔI ĐỨNG DẬY TRƯỚC QUYỀN LỰC

MINH HẠO – Ghi chép và phiếm luận



Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ.

TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy.

Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông?

Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.

1. TA LÀ — hay tôi có quyền được là tôi?

Con người sinh ra không tự chọn gia đình, quê hương, dân tộc hay thời đại mình sống. Ngay từ thuở nhỏ, ta đã được trao cho một hệ thống những niềm tin, những chuẩn mực và những câu trả lời có sẵn.

Ta được dạy điều gì là đúng, điều gì là sai; điều gì đáng tự hào, điều gì đáng hổ thẹn; khi nào phải nói, khi nào nên im lặng. Phần lớn những điều ấy có thể cần thiết để một xã hội tồn tại.

Nhưng vấn đề bắt đầu khi những câu trả lời có sẵn trở thành những câu trả lời duy nhất được phép tồn tại.

Một đứa trẻ lớn lên có thể học cách vâng lời trước khi biết cách suy nghĩ độc lập. Một người trưởng thành có thể thuộc lòng những khẩu hiệu về tự do mà chưa từng được thực hành quyền tự do của chính mình. Một dân tộc có thể tự hào về lịch sử hàng nghìn năm, nhưng vẫn chưa giải quyết xong câu hỏi: mỗi con người trong dân tộc ấy có quyền sống cuộc đời của mình đến đâu?

Bởi nói rằng “tôi tồn tại” là một chuyện. Được quyền suy nghĩ, lựa chọn, phản biện và chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình lại là chuyện khác.

Cái Tôi trưởng thành không nhất thiết phải lớn tiếng. Nó chỉ cần đủ can đảm để không giao toàn bộ lương tri của mình cho người khác.

2. Khi tập thể trở thành một cái bóng khổng lồ

Không có cộng đồng nào tồn tại mà không cần sự hợp tác và hy sinh của các thành viên. Gia đình cần tình thương. Xã hội cần trách nhiệm. Đất nước cần những người sẵn sàng đóng góp cho lợi ích chung.

Nhưng hy sinh chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người có quyền hiểu, cân nhắc và lựa chọn điều mình hy sinh.

Nếu một cá nhân bị buộc phải hy sinh mà không được quyền chất vấn mục tiêu, không được quyền phản đối người nhân danh mục tiêu ấy, thì ranh giới giữa trách nhiệm và phục tùng bắt đầu trở nên mờ nhạt.

Tập thể, vốn được tạo ra để phục vụ đời sống con người, có thể biến thành một thực thể trừu tượng đứng cao hơn con người. Người ta nhân danh dân tộc để yêu cầu cá nhân im lặng; nhân danh đại cuộc để trì hoãn những quyền căn bản; nhân danh sự đoàn kết để xem mọi tiếng nói khác biệt là một mối đe dọa.

Điều đáng nói là tập thể không tự mình lên tiếng. Luôn có những người đứng ra nói thay tập thể, giải thích lợi ích của tập thể và đôi khi tự nhận mình có quyền quyết định ai đang phục vụ tập thể, ai đang chống lại tập thể.

Vậy ai giám sát những người tự nhận mình là đại diện cho lợi ích chung?

Ai kiểm tra xem sự hy sinh được yêu cầu có công bằng hay không?

Và tại sao người ở dưới phải từ bỏ quyền lợi của mình trong khi người ở trên lại có thể giữ nguyên những đặc quyền của họ?

Đây là nghịch lý mà mọi xã hội đề cao tập thể nhưng thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực đều cần tự trả lời.

3. Vô ngã không có nghĩa là vô quyền

Đến đây, ta cần phân biệt một điều quan trọng.

Trong Phật giáo, vô ngã không đơn giản là xóa bỏ cá tính, phủ nhận sự tồn tại của cá nhân hay trở thành một con người không có ý chí. Vượt qua sự chấp trước vào cái Tôi không đồng nghĩa với việc trao quyền quyết định cuộc đời mình cho một người khác.

Buông bỏ lòng kiêu ngạo không phải là buông bỏ phẩm giá.

Không ích kỷ không có nghĩa là không có quyền lợi.

Không cố chấp không có nghĩa là không được phản biện.

Và sống vì người khác không có nghĩa là phải chấp nhận mọi điều người khác áp đặt lên mình.

Một người có thể không bị nô lệ bởi lòng tự tôn, nhưng vẫn kiên quyết bảo vệ quyền tự do của mình. Người ấy có thể không xem mình là trung tâm của vũ trụ, nhưng cũng không chấp nhận để bất kỳ ai tự đặt mình vào vị trí trung tâm của cuộc đời người khác.

Nếu đọc TA LÀ qua lăng kính ấy, câu chuyện về cái Tôi và vô ngã mở ra một hướng suy ngẫm đáng chú ý: làm sao vượt qua sự ích kỷ của bản ngã mà không đánh mất khả năng tự quyết định? Làm sao sống có trách nhiệm với cộng đồng mà không đánh mất tiếng nói riêng?

Đó không chỉ là một vấn đề triết học. Đó còn là bài toán của đời sống công dân.

4. Một dân tộc có thể hy sinh quá nhiều mà vẫn chưa tự do?

Tại buổi giới thiệu sách, theo lời thuật lại của người tham dự, Nguyễn Hữu Liêm đã đưa ra những nhận xét gay gắt về người Việt, về sự hy sinh cho tập thể và về tình trạng tự do của cá nhân trong lịch sử.

Những nhận xét ấy có thể gây tranh cãi, thậm chí khiến người nghe khó chịu. Nhưng thay vì vội đồng ý hay phản đối, có lẽ nên tách riêng từng vấn đề để suy xét.

Một dân tộc đã trải qua chiến tranh, mất mát và nhiều thế hệ hy sinh có quyền tự hào về sức chịu đựng của mình. Tuy nhiên, sự hy sinh trong quá khứ không thể tự động trở thành lý do để đòi hỏi những thế hệ sau phải từ bỏ quyền tự do trong hiện tại.

Lịch sử có thể giải thích vì sao một cộng đồng coi trọng sự đoàn kết. Nhưng lịch sử không nên trở thành giấy phép vô thời hạn để bất kỳ quyền lực nào đòi hỏi sự phục tùng.

Một đất nước không chỉ cần những con người biết hy sinh. Đất nước ấy còn cần những con người biết đặt câu hỏi, biết nói không khi cần thiết, biết phân biệt lợi ích công cộng với lợi ích của những người đang nắm quyền.

Bởi nếu người dân luôn được nhắc nhở về nghĩa vụ, còn quyền lực không phải chịu sự chất vấn tương xứng, thì sự hy sinh có nguy cơ trở thành một con đường một chiều.

Người dân hy sinh cho đất nước.

Nhưng ai bảo đảm quyền lực hy sinh đặc quyền cho người dân?

Đây mới là câu hỏi cần được đặt ra một cách nghiêm túc.

5. Triết học có thể trở thành một câu hỏi chính trị

Có người sẽ cho rằng đọc một cuốn sách siêu hình học theo hướng chính trị là áp đặt ý nghĩa bên ngoài lên tác phẩm. Sự thận trọng ấy có lý. Không thể chỉ từ những trang viết về bản thể, cái Tôi hay vô ngã mà khẳng định tác giả đang bí mật kêu gọi một cuộc vận động chính trị.

Cũng không thể xem việc một tác giả bị từ chối nhập cảnh là bằng chứng đầy đủ về mục đích chính trị của cuốn sách.

Nhưng điều đó không có nghĩa người đọc phải giới hạn mình trong những khái niệm trừu tượng.

Một tác phẩm có thể được đọc ở nhiều tầng nghĩa. Ý định của tác giả là một vấn đề; những câu hỏi mà tác phẩm gợi ra trong đời sống người đọc lại là một vấn đề khác.

Khi một cuốn sách đặt vấn đề về sự trưởng thành của cá nhân, về ý thức độc lập và về việc thoát khỏi những ràng buộc vô thức của đám đông, người đọc hoàn toàn có thể đặt những câu hỏi xã hội tương ứng.

Liệu con người có thực sự trưởng thành nếu chỉ biết lặp lại điều mình được dạy?

Liệu một cộng đồng có thực sự đoàn kết nếu mọi người đều phải che giấu những bất đồng?

Và liệu một xã hội có thể gọi mình là tự do nếu quyền lực được quyền định nghĩa thế nào là yêu nước, thế nào là phản bội, thế nào là một công dân tốt?

Những câu hỏi ấy không chứng minh rằng TA LÀ được viết như một bản tuyên ngôn chính trị. Chúng cho thấy triết học, khi đi vào đời sống, có thể khiến những điều tưởng như hiển nhiên phải được xem xét lại.

Đôi khi, câu hỏi nguy hiểm nhất đối với một hệ thống không phải là câu hỏi về ai đang nắm quyền, mà là câu hỏi vì sao con người phải chấp nhận để người khác suy nghĩ thay mình.

6. Tự do bắt đầu từ một con người biết mình có quyền lựa chọn

Một cá nhân tự do không phải là người muốn làm gì thì làm, bất chấp người khác. Tự do đòi hỏi trách nhiệm, sự tôn trọng quyền của người khác và khả năng chấp nhận hậu quả từ lựa chọn của mình.

Nhưng tự do cũng không thể chỉ tồn tại như một món quà do quyền lực ban phát, có thể được thu hồi bất cứ lúc nào.

Nó cần được thừa nhận như một phẩm giá của con người, được bảo vệ bằng quyền, luật pháp và những giới hạn thực chất đối với quyền lực.

Có lẽ vì thế, câu hỏi “TA LÀ” không nên dừng lại ở việc xác định bản thể của một cá nhân. Nó còn có thể dẫn ta đến câu hỏi: tôi có quyền trở thành con người mà tôi lựa chọn hay không, miễn là tôi không tước đi quyền ấy của người khác?

Một dân tộc không thể thực sự tự do nếu mỗi cá nhân chỉ được phép hy sinh cho tập thể, trong khi những người nhân danh tập thể lại không phải hy sinh bất cứ đặc quyền nào của chính mình.

Và một con người cũng không thực sự trưởng thành nếu phải từ bỏ lương tri của mình để chứng minh lòng trung thành với bất kỳ ai.

Bởi cuối cùng, câu hỏi không chỉ là “TA LÀ AI?”

Mà còn là:

Ai có quyền quyết định tôi phải là ai?

— MINH HẠO

____________________________________ 

GHI CHÚ THÊM CỦA MINH HẠO

1. Về cách đọc và cảm nhận

Bài viết này là cảm nhận và diễn giải riêng của Minh Hạo sau khi đọc TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm. Những nhận định trong bài không nhất thiết phản ánh đầy đủ, hoặc trùng khớp với, thông điệp mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc. Minh Hạo trình bày cách tiếp cận của mình như một lời mời cùng suy ngẫm, không phải lời khẳng định về chủ đích cuối cùng của tác giả.

2. Về tác phẩm 

BÌA SÁCH TA LA-NHL
Ành bìa
“ TA LÀ -Những Khúc Mắc Siêu Hình Học”

 

Bạn đọc quan tâm có thể tìm mua sách qua Nhà xuất bản Nhân Ảnh để trực tiếp tiếp cận tác phẩm và tự hình thành nhận định của mình.

TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học là một công trình triết học xoay quanh các vấn đề về bản thể, ý thức, cái Tôi, vô ngã và hành trình trở thành một cá nhân có ý thức tự chủ. Theo phần Lời nói đầu, tác giả đối thoại với nhiều nguồn tư tưởng khác nhau, từ Cựu Ước, Tân Ước và Phật giáo đến Aristotle, Hegel, Gurdjieff, Ken Wilber và Ludwig Wittgenstein.

Có thể xem đây là nỗ lực suy tư liên ngành, kết nối những câu hỏi của triết học phương Đông về bản ngã và vô ngã với những vấn đề của triết học phương Tây về bản thể, chủ thể, ý thức và sự hình thành cái Tôi. Tuy nhiên, đây là cách khái quát để định hướng người đọc; không nên hiểu rằng toàn bộ tư tưởng Đông phương hay Tây phương đều có thể quy về một hệ thống thống nhất trong cuốn sách.

Đọc TA LÀ, vì thế, không chỉ là tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi “Ta là ai?”, mà còn là cơ hội để mỗi người tự chất vấn về ý thức cá nhân, trách nhiệm với cộng đồng và ý nghĩa của tự do trong đời sống con người.

______________________________________  

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Chín 201510:14 CH(Xem: 77243)
Về những nhà văn quân đội nổi tiếng với những tác phẩm (thơ cũng như văn) của họ, có thể kể những tên tuổi về thơ, như có Tường Linh, Phạm văn Bình, hay Linh Phương... Cả hai nhà thơ sau, đều nổi tiếng nhờ có thơ được cố nhạc sĩ Phạm Duy soạn thành ca khúc. (Phạm Văn Bình với ca khúc “Chuyện tình buồn,” và “Mười hai tháng anh đi”; Linh Phương với “Kỷ vật cho em”) (1). Về văn có thể kể Văn Quang (lớp trước). Lớp sau vài năm, có thể kể tới Trần Hoài Thư, Đào Vũ Anh Hùng, Huỳnh Văn Phú... Nhưng, nổi bật hơn cả, theo tôi vẫn là Nguyên Vũ (truyện) và, Phan Nhật Nam (bút ký, phóng sự).
08 Tháng Chín 201511:47 SA(Xem: 57621)
"Đời sống bên này có cái thực tế khắc nghiệt là vậy. Càng khắc nghiệt tôi càng trầm tĩnh. Nghiệm ra một điều: hãy làm hết sức mình cho một công việc tốt, cũng có lúc bù đắp lại. Những tấm tranh cũng đã từng nuôi sống tôi, tôi không thể bỏ vẽ được". (Đinh Cường)
20 Tháng Tám 201512:50 SA(Xem: 60282)
Bùi Nhật Tiến, bút hiệu Nhật Tiến sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội. Năm 1946 mới 10 tuổi Nhật Tiến đã phải theo gia đình rời Hà Nội đi tản cư qua những tỉnh như Sơn Tây, Việt Trì, Hưng Hoá, Phú Thọ
02 Tháng Tám 20152:00 SA(Xem: 60101)
Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học
05 Tháng Bảy 20151:57 SA(Xem: 57179)
Linh Bảo là một tên tuổi văn học của Miền Nam từ những năm 1950s. Các tác phẩm của Linh Bảo được lần lượt xuất bản tại Miền Nam từ 1953 tới 1975. Chỉ có Mây Tần là tuyển tập đoản văn duy nhất được xuất bản ở hải ngoại (1981). Sau 1975, không có một tác phẩm nào của Linh Bảo được in ở trong nước.
21 Tháng Sáu 20151:37 SA(Xem: 57769)
Mặc Đỗ nhà văn, nhà báo, dịch giả là một trong những tên tuổi của văn học Miền Nam trước 1975. Sau 1975, sang Mỹ tỵ nạn ở cái tuổi 58 còn tràn đầy sức sáng tạo nhưng anh đã chọn một cuộc sống quy ẩn, chữ của Mai Thảo. Mặc Đỗ gần như dứt khoát không xuất hiện hay có tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương ở hải ngoại -- [biển ngoài, chữ của Mặc Đỗ], thái độ chọn lựa đó khiến tên tuổi anh hầu như rơi vào quên lãng.
23 Tháng Năm 20153:54 SA(Xem: 62753)
Nền văn chương minh họa và phải đạo bén rễ sau thời Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) kéo dài hơn hai mươi năm bỗng hóa thân vào thời đầu Đổi Mới năm 87- 89 với những tác phẩm vượt trội. Xin tri ân tướng Trần Độ. Xin cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc. Cả hai vị này đã phà duỡng khí hồi sinh vào thây ma của thứ văn chươngvô hồn rập khuôn chính sách văn hóa Liên-Xô đã tạo ra những Quần Đảo Ngục Tù ( goulag) rồi còn lại kẹp thêm tính Mao-nhiều &Mao-ít hậu phong kiến đội tên giả là xã hội chủ nghĩa.
22 Tháng Năm 20153:47 SA(Xem: 74549)
Xung quanh câu chuyện Nguyễn Thị Lộ (NTL) và mối hoạ chu di của dòng họ Nguyễn Trãi quả đã không ít giấy mực bàn cãi, kể cả lý luận, nghiên cứu cho đến văn , thơ, kịch... đã có đến hàng trăm bài viết. Nhìn chung các loại ý kiến chưa thật thống nhất và tính thuyết phục chưa thật cao (1)...Chúng tôi xin được bàn thêm đôi điều về nghi án này với quan điểm không để tình cảm, thiên kiến lấn át sự thật.
13 Tháng Năm 20155:54 CH(Xem: 61947)
Với Nguyên Ngọc và Văn đoàn Độc lập, vấn đề còn nguyên. Làm gì với tự do đã giành lại sau khai trừ rồi ly khai? Làm gì với mục đích độc lập tách rời ra khỏi Hội? Ra khơi, lên đường, hay lo ngại “phạm pháp” sẽ khiến nhòa nhòa trong vận hành của hệ thống? Tháng 5-1954, hai chữ “Độc lập” thét vang trong lồng ngực của năm mươi ngàn binh sĩ chiến thắng trận Điên Biên, để cuối cùng là một nền độc lập hà khắc trong toàn trị. Tháng 5-2015, “vì một nền văn học Việt Nam tự do, nhân bản” in đậm trên trang web của Văn đoàn Độc lập. Công chúng trông chờ câu trả lời.
26 Tháng Tư 20151:48 SA(Xem: 59949)
Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy. [Võ Phiến nói chuyện với Đặng Tiến 28-10-1998] Có thể nói Võ Phiến là một trong số các tác giả được viết và nhắc tới nhiều nhất. Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình...