- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

PHÊ BÌNH VĂN HỌC - MỘT CUỘC TRÒ CHUYỆN GIỮA NHỮNG TÂM HỒN

23 Tháng Chín 202611:16 CH(Xem: 2359)
HTBHa
Nhà văn Hoàng Thị Bích Hà



*Tôi từng bị quạu, khi hỏi về tiểu sử của một tác giả. Đó là một trong những tình huống đã gặp khi bước vào cái nghiệp khó nhằn này. Âu cũng vì đam mê, hay vì trời đày, tôi cũng chẳng biết nữa!(HTBH)

 

 

PHÊ BÌNH VĂN HỌC - MỘT CUỘC TRÒ CHUYỆN GIỮA NHỮNG TÂM HỒN

 Hoàng Thị Bích Hà

Và tôi bỗng tìm thấy một tiếng nói đồng điệu với vị tiền bối cách xa hơn nửa thế kỷ.

 

Tôi đến với phê bình văn học bằng một tình yêu khá đặc biệt. Tôi mê nhận định tác phẩm, thích lần tìm những tầng nghĩa ẩn sau một câu thơ, một hình ảnh, một chi tiết văn chương: thích đi từ cái đẹp của câu chữ để chạm đến những điều sâu xa hơn trong tâm hồn người viết. Nhưng càng bước vào địa hạt này, tôi càng nhận ra một điều: phê bình văn học vốn là một miền đất khô khan, nặng về lý thuyết, nơi những khái niệm hàn lâm đôi khi khiến người đọc đứng ngoài cánh cửa tác phẩm.

Có lẽ vì thế, ngay từ những bước đầu tiên, tôi đã tự đặt cho mình một câu hỏi: Liệu có thể viết phê bình mà không làm mất đi hơi ấm của đời sống? Và tôi nghĩ là có.

Với tôi, phê bình, hay nói gần gũi hơn là nhận định tác phẩm, không chỉ là mổ xẻ câu chữ bằng những công thức lạnh lùng, càng không phải là cuộc trình diễn của những thuật ngữ. Phê bình văn học trước hết phải là một hành trình đi tìm con người phía sau tác phẩm. Đằng sau một câu thơ buồn có thể là một cuộc đời nhiều mất mát. Đằng sau một trang văn gai góc có thể là một tâm hồn từng chịu nhiều va đập. Và đôi khi, muốn hiểu một tác phẩm, ta cần biết người viết đã sống như thế nào, đã yêu thương, đau khổ, hy vọng và đi qua những biến cố gì.

Bởi vậy, trong những bài viết của mình, tôi thường cố gắng đưa chất đời vào trang phê bình.

 

Tôi quan tâm đến tiểu sử của tác giả, đến quê hương, gia đình, môi trường sống, những mối quan hệ, những biến động lịch sử và cả hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Không phải để biến một bài phê bình thành một bản tiểu sử, mà bởi tôi tin rằng văn chương bao giờ cũng có một mạch nguồn từ đời sống.

 

Hiểu được mạch nguồn ấy, đôi khi ta sẽ hiểu sâu hơn vì sao một hình ảnh xuất hiện, vì sao một nỗi buồn trở đi trở lại, vì sao một câu chữ tưởng như bình thường lại mang sức ám ảnh đến vậy.

 

Tôi thường nghĩ: muốn hiểu một giọt nước mắt trong thơ, trước hết phải biết người viết đã từng khóc vì điều gì.

 

Tất nhiên, hoàn cảnh sáng tác không thể thay thế cho việc phân tích tác phẩm. Một tác phẩm hay không chỉ vì cuộc đời tác giả có nhiều biến động. Văn chương còn là nghệ thuật của ngôn từ, của cấu trúc, hình tượng, nhịp điệu, giọng điệu và những sáng tạo riêng của người cầm bút. Vì thế, với tôi, hoàn cảnh sống và tác phẩm phải soi chiếu lẫn nhau. Đời sống giúp mở cánh cửa bước vào tác phẩm; còn tác phẩm giúp ta nhìn lại đời sống bằng một chiều sâu khác.

 

Có lẽ vì quan niệm ấy nên tôi thường không muốn bắt đầu bài viết bằng những định nghĩa nặng về lý thuyết. Tôi thích mở đầu bằng một câu chuyện, một kỷ niệm, một hình ảnh đời thường, đôi khi chỉ là một thoáng tâm tình. Từ cái gần gũi ấy, tôi dẫn người đọc từng bước đi vào khám phá tác phẩm.

 

Tôi muốn người đọc có cảm giác mình đang cùng tôi trò chuyện hơn là đang nghe một bài nhận định phê bình văn học. Rồi từ câu chuyện ấy, cánh cửa văn chương dần mở ra. Ta gặp tác giả trong thế giới riêng của họ: lắng nghe những rung động, những day dứt, những niềm vui và nỗi đau được gửi vào từng câu chữ. Từ đó, việc phân tích nội dung, nghệ thuật, hình tượng, ngôn ngữ hay thông điệp nhân sinh không còn là những thao tác tách rời mà trở thành một dòng chảy tự nhiên.

Tôi gọi đó là sự mềm hóa lý thuyết. Tri thức và nền tảng luận điểm là bắt buộc, nhưng chỉ thực sự chạm đến người đọc khi được chuyển hóa bằng thứ ngôn ngữ biết rung động. Phê bình, sau cùng, không phải đứng bên ngoài để phán xét, mà là bước vào thế giới của tác giả để lắng nghe và sẻ chia.

 

Một nhận định dù đúng đến đâu mà chỉ khiến người đọc cảm thấy xa cách thì vẫn chưa hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của phê bình. Tôi muốn những điều dẫu có chút hàn lâm khi đi qua trang viết của mình sẽ trở nên mềm hơn, gần hơn, dễ đọc hơn, nhưng không vì thế mà thiếu đi chiều sâu.

 

VÀ RỒI TÔI GẶP TRẦN THANH MẠI

 

Khi nghiên cứu về nhà văn, nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại (1908-1965), tôi như tìm thấy một tri âm cách biệt hơn nửa thế kỷ. Ở ông, tôi không chỉ gặp một nhà nghiên cứu đi trước, mà bắt gặp một cách nhìn văn chương thân thuộc đến kỳ lạ, nơi phê bình là cuộc đối thoại ấm áp giữa tri thức và cảm xúc, giữa văn bản và đời sống.

 

Điều ấy đến với tôi khá ngẫu nhiên. Tôi không hề biết trước rằng khi đi sâu nghiên cứu Trần Thanh Mại, mình lại bắt gặp ở ông những điều mà bản thân cũng đang âm thầm theo đuổi trong cách viết. Càng đọc, càng tìm hiểu, tôi càng thấy khoảng cách thời gian: gần sáu mươi năm bỗng trở nên rất ngắn. Tôi có cảm giác mình đang ngồi lại với một người tiền bối, đọc những trang viết của ông, lặng lẽ trò chuyện và tìm thấy ở đó những điều mình cũng đang trăn trở. Đó là một cảm giác rất khó gọi tên. Có lẽ trong văn chương, sự đồng điệu không nhất thiết phải đến từ cùng thời đại. Một người có thể sống trước ta hàng chục năm, thậm chí hàng thế kỷ, nhưng nếu giữa hai tâm hồn có một sự đồng điệu, họ vẫn có thể trở thành tri âm.

 

Ông đến với tác phẩm không chỉ bằng con mắt của một người khảo cứu mà còn bằng sự nhạy cảm của một người hiểu đời, hiểu người. Những trang viết của ông khiến tôi nhận ra rằng phê bình hoàn toàn có thể là một cuộc đối thoại giữa tri thức và cảm xúc, giữa văn bản và cuộc đời.

 

Vì thế, tôi càng tin rằng phê bình văn học không phải là đứng bên ngoài tác phẩm để phán xét tác phẩm. Phê bình là bước vào thế giới của người viết, cố gắng hiểu họ, rồi từ sự thấu hiểu ấy mà nhận định.

 

Tôi muốn người đọc sau khi đọc một bài phê bình không chỉ biết thêm một tác phẩm hay một tác giả, mà còn cảm thấy mình vừa gặp một con người. Có thể đó là một con người đã sống cách chúng ta rất xa, nhưng những vui buồn, khát vọng, cô đơn và tình yêu của họ vẫn có thể chạm đến chúng ta hôm nay.

 

Tôi không nghĩ mình đã tìm ra một phương pháp phê bình hoàn chỉnh. Tôi chỉ đang đi tìm một cách viết phù hợp với mình: có kiến văn nhưng không lạnh lùng, có lý luận nhưng không nặng nề, có phân tích nhưng không đánh mất cảm xúc, có học thuật nhưng vẫn giữ được hơi thở của đời sống.

 

Bởi sau cùng, văn chương được sinh ra từ con người và trở về với con người.

Còn phê bình, nếu may mắn, có thể trở thành chiếc cầu nối giữa hai phía ấy. Một phía là người đã viết. Một phía là người hôm nay đang đọc. Và ở giữa hai bờ thời gian, người viết phê bình chỉ là kẻ lữ hành lặng lẽ, nhưng trong tim luôn giữ hơi ấm của sự đồng cảm. Để khi đọc một câu thơ, ta không chỉ hỏi: “Nó hay ở đâu?” Mà còn muốn biết: Vì sao một con người lại viết ra được những câu chữ ấy?

Có lẽ, từ câu hỏi đó, hành trình đi vào thế giới văn chương mới thực sự bắt đầu.

Dù phải mò mẫm vất vả, dù đánh đổi nhiều thứ, tôi vẫn yêu công việc mình đang làm!

 

 

Saigon, ngày 18/8/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Ba 201910:26 CH(Xem: 51592)
Hơn hai trăm năm trước, trong một cuộc “Bắc hành”, đại thi hào Nguyễn Du đã viết tới tám bài thơ chữ Hán về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên. Trong “tòa lâu đài” thơ chữ Hán Nguyễn Du (Mai Quốc Liên), có một mảng thơ rất quan trọng là nói về các danh nhân văn hóa - lịch sử, đặc biệt là về các bậc thầy văn chương Trung Hoa. Tám bài thơ nói trên mà chúng tôi sẽ khảo sát có trữ lượng suy tưởng - cảm xúc cực kỳ phong phú, sâu sắc, cho thấy cả trái tim lớn của đại thi hào nước Việt dành cho một nhà thơ-nhà ái quốc vĩ đại của Trung Hoa cổ xưa, đồng thời thể hiện bút pháp siêu việt của Nguyễn Du trong khả năng khám phá chiều sâu tâm hồn bản thân lẫn đối tượng miêu tả, trong sự sáng tạo về nghệ thuật ngôn từ của một nhà văn-nghệ sĩ Việt Nam kiệt xuất thời Trung đại.
05 Tháng Ba 20198:59 CH(Xem: 50725)
Huế là xứ thơ. Có lẽ do các yếu tố lịch sử, phong cảnh và nếp sống, vùng đất sông Hương núi Ngự là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ – cả nổi tiếng lẫn khét tiếng. Nếu kể hết tên, chắc chắn sẽ thiếu sót. Bài này chỉ viết lơn tơn – không phải với mục đích phê bình văn học hoặc tài liệu giáo khoa gì ráo – về hai tác giả mà cuộc đời và sự nghiệp có những liên hệ oái oăm về thân tộc và chỗ đứng của họ trên văn đàn và trong lòng độc giả.
24 Tháng Giêng 201911:51 CH(Xem: 48482)
Lâu nay, trong tiếng gào khóc của người dân oan khắp ba miền đất nước, hoà trong nước mắt bao giờ cũng có những kể lể, trách mắng, đầy phẫn uất với tiếng “nó”: nó đến kìa; nó rình rập; nó ác lắm;… hay chúng nó tàn nhẫn lắm!
03 Tháng Giêng 201911:15 CH(Xem: 58460)
Chữ Nghiệp mang sắc thái đạo Phật đó được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học phân tích khá kỹ lưỡng, xoay quanh thuyết Thiên mệnh hay Định mệnh, thuyết Nghiệp báo - Nhân quả chủ yếu để nói về thân phận nhân vật nàng Kiều. Nhưng thiết nghĩ, hai câu thơ ấy, đầu tiên phải vận dụng ngay cho chính tác giả của nó. Cái Nghiệp đó, đối với Nguyễn Du, từ thời trai trẻ, đã được ông coi như “án phong lưu” mà ông phải tự nguyện mang tới suốt đời! (Phong vận kỳ oan ngã tự cư)(2). Nghiệp gì vậy? Có điều gì hệ trọng và thống thiết buộc Nguyễn Du phải bật lên lời tự vấn về giá trị sự tồn tại của ông trong cõi đời phù du này khiến nhiều thế hệ người Việt Nam phải xúc động và gắng tìm hiểu nguyên do: Trước khi chết còn lo mãi chuyện nghìn năm (Thiên tuế trường ưu vị tử tiền. Mộ xuân mạn hứng) - Không biết hơn ba trăm năm sau, Thiên hạ ai là người khóc Tố Như? (Bất tri tam bách dư niên hậu/Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. Độc tiểu thanh ký).
14 Tháng Mười Hai 201810:00 CH(Xem: 55367)
Này nhé, lấy cảm hứng, phỏng theo, hay gì gì đó mà không ghi nguồn thì tức là cầm nhầm bài thơ, dù có biện hộ thế nào đi nữa cũng nói lên "đạo đức và tư cách " của cái việc cầm nhầm. Tài năng như khói, danh vọng như mây, nếu không muốn thiên hạ biết thì đừng có làm như cố tình quên.
12 Tháng Mười Hai 20188:24 CH(Xem: 52714)
Hình như vào thời điểm đến tuổi "Thất Thập Cổ Lai Hy" nhạc sĩ Phú Quang trí nhớ có "vấn đề". Nhất là những ca khúc của ông phổ từ thơ của các thi sĩ. Trong đêm nhạc được tổ chức ở Nhà Hát Lớn Hà Nội vào ngày 26-27/12/2018. (Đêm Nhạc Phú Quang "Trong Miền Ký Ức"), ông đã nhắc đến những trận Bom B52 đã làm cho ngôi nhà cha mẹ của ông đổ sập...ở trong LỜI TỰA bài viết quảng cáo cho show ca nhạc của ông. Nhưng theo danh sách các nhạc khúc của ông, tôi không nghe bài nào có tiếng bom B52 cả...
06 Tháng Mười Hai 201810:26 CH(Xem: 50304)
Người Việt ta xưng hô ai đó là “ông” để bày tỏ lòng kính trọng, và gọi bằng “thằng” những kẻ hèn hạ đáng khinh. Lịch sử ta chép rằng một trong những truyền thống của người Việt cổ là tín ngưỡng thờ cúng các vị anh hùng, thũ lĩnh. Người VN trọng cái khí phách, cái đảm lược của một tướng lĩnh trước gian nan, kính cái đức hy sinh, thờ người dám xả thân vì nước; bởi thế cho nên lại càng thêm khinh ghét những kẻ nhu nhược, luồn cúi, làm tay sai cho giặc. Thời Pháp thuộc cha ông ta có câu vè để răn con cháu: " Việt Gian có lũ thằng Tường / Thằng Lộc thằng Tấn thằng Phương một bầy"
16 Tháng Mười Một 20187:55 CH(Xem: 56130)
Tôi không nghĩ rằng giới nhạc sĩ VN lại coi thường giới làm thơ, đến độ dùng thơ của người ta để tạo thành ca khúc, xong vất tên của người ta ra và không thèm ghi tên tác giả thơ vào tác phẩm. Vì hành động đó là hành động đốn mạt của kẻ vô sỉ, hành động ăn cắp tim óc của người khác.
11 Tháng Mười 20189:26 CH(Xem: 49300)
Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong phiên họp bất thường ngày 8.10.2018 đã biểu quyết 100% thông qua dự án đầu tư xây dựng Nhà hát Giao hưởng nhạc vũ kịch tại Khu đô thị Thủ Thiêm, nguồn kinh phí 1.500 tỷ từ ngân sách nhà nước. Quyết định này đã làm dấy lên nhiều phản ứng của người dân thông qua mạng xã hội và những ý kiến trên báo chí (1) xoay quanh hai vấn đề: 1. Thủ Thiêm là khu vực đang “nóng” do những sai phạm về đất đai của chính quyền thành phố gần 20 năm qua; 2. Sự cần thiết của công trình văn hóa này so với nhu cầu bức thiết về những công trình dân sinh khác như bệnh viện, đường xá...
02 Tháng Mười 20188:19 CH(Xem: 51738)
Hơn 40 năm sau 1975, như một chuỗi sai lầm từ hệ thống, nhà nước CSVN đã thiết lập vội vã nhiều dự án trọng điểm rất tốn kém với tham vọng nhằm "cải tạo" ĐBSCL, đa phần là can thiệp thô bạo gây tác hại trên hệ sinh thái mong manh của cả một vùng châu thổ. Do tính cục bộ, thiếu sót trong Đánh giá Tác động Môi trường Chiến lược [SEA / Strategic Environment Assessment] của toàn ĐBSCL, chỉ với những "nghiên cứu mệnh danh là khoa học" nhưng theo phong cách: làm nhanh ăn nhanh; chủ yếu bị chi phối bởi các nhóm lợi ích các chủ đầu tư, rồi đem chính mạng sống và kế sinh nhai người dân ra đánh bạc, bất chấp ý kiến của họ, đồng thời trấn áp các phản biện và gạt bỏ mọi khuyến cáo của các chuyên gia kinh nghiệm có thẩm quyền.