- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

ODYSSEUS ĐÃ TRỞ VỀ CÒN NHÂN LOẠI THÌ HÌNH NHƯ VẪN ĐANG LƯU LẠC

09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 3618)

The Burning of Troy
The Burning of Troy (1600–1601)
của Adam Elsheimer


ODYSSEUS ĐÃ TRỞ VỀ

 CÒN NHÂN LOẠI THÌ HÌNH NHƯ VẪN ĐANG LƯU LẠC

 

"Một suy ngẫm nối tiếp
Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay."

 MINH HẠO
_________________

 

Có một điều khá lạ xảy ra trong mùa hè năm nay.

Một ông vua Hy Lạp sống cách chúng ta gần ba ngàn năm bỗng nhiên trở lại.

Ông không trở lại bằng một chiếc thuyền gỗ với mái chèo, không mang theo vài thủy thủ râu tóc bù xù, cũng không cần thần Hermes chạy trước báo tin. Ông trở lại trong một rạp chiếu phim IMAX, bằng những thước phim của Christopher Nolan, với Matt Damon đóng vai Odysseus, và với một nền kỹ thuật điện ảnh mà người Hy Lạp cổ đại nếu có nhìn thấy chắc sẽ tưởng các vị thần trên đỉnh Olympus vừa phát minh ra một loại sấm sét mới.

The Odyssey ra mắt ngày 17 tháng 7 năm 2026 và được quảng bá là bộ phim được quay hoàn toàn bằng máy quay phim IMAX. (The Odyssey (2026 Movie)

Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở chỗ người ta đã làm cho Troy lớn đến mức nào trên màn ảnh.

Điều đáng chú ý là sau gần ba ngàn năm, chúng ta vẫn nhận ra mình trong đó.

Đặc biệt là trong máu.


Ngày xưa, quân Hy Lạp đem ngựa gỗ vào thành Troy.

Ngày nay, nhân loại đã tiến bộ rất nhiều.

Chúng ta có tên lửa hành trình, máy bay không người lái, vệ tinh do thám, bom dẫn đường chính xác, chiến tranh điện tử và cả trí tuệ nhân tạo.

Ngày xưa người ta cần thần linh để giải thích chiến thắng.

Ngày nay chúng ta có các học thuyết quân sự.

Ngày xưa một vị vua muốn đánh thành phải gọi quân lính.

Ngày nay một nhà lãnh đạo có thể ngồi cách chiến trường hàng nghìn dặm, trước một chiếc bàn rất đẹp, bên cạnh những người mặc những bộ vest rất đẹp, rồi ký một mệnh lệnh mà vài phút sau có thể làm một thành phố ở nơi nào đó sáng lên như Troy.

Văn minh, quả thật, đã tiến bộ rất xa.

Chỉ có một thứ dường như chưa theo kịp.

LƯƠNG TÂM.


Có lẽ đây là chỗ bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey trở nên đáng chú ý hơn một bài điểm phim thông thường.

Tác giả không nhìn Odysseus đơn giản như một vị anh hùng chiến thắng.

Ông nhìn thấy một con người.

Một con người có tài năng, có trí tuệ, có chiến công, có lòng yêu quê hương; nhưng đồng thời cũng là một con người đã bước vào chiến tranh, đã góp phần tiêu diệt một thành phố và rồi phải mang theo những gì mình đã làm trên suốt hành trình trở về.

Đó là một cách nhìn rất khác.

Bởi lịch sử thường thích người thắng.

Lịch sử thích những vị vua cưỡi ngựa.

Thích những vị tướng giơ kiếm.

Thích những bức tượng chiến thắng.

Thích những ngày quốc khánh.

Thích những bản đồ có mũi tên màu đỏ chạy sang lãnh thổ của người khác.

Lịch sử, đôi khi, cũng rất thích những con số.

Bao nhiêu thành phố chiếm được.

Bao nhiêu cây cầu phá hủy.

Bao nhiêu máy bay bị bắn hạ.

Bao nhiêu quân địch bị tiêu diệt.

Bao nhiêu phần trăm lãnh thổ đã kiểm soát.

Nhưng có một con số mà lịch sử chiến thắng thường không thích ghi:

BAO NHIÊU NGƯỜI VÔ TỘI ĐÃ CHẾT?


Vấn đề của chiến tranh có lẽ nằm ở chỗ: người quyết định thường không phải người trả giá.

Người ngồi trong phòng họp có bản đồ trước mặt.

Người ngồi trong hầm có tiếng bom trên đầu.

Người ký mệnh lệnh có thể trở về nhà ăn tối.

Người lính ngoài chiến trường có thể không trở về nữa.

Còn một bà mẹ, ở đâu đó, chỉ có thể ôm đứa con và tự hỏi một câu mà mọi học thuyết quân sự trên đời đều không trả lời nổi:

“Tại sao?”

Thời đại chúng ta rất tiến bộ.

Ngày xưa người ta dùng kiếm.

Ngày nay có tên lửa hành trình, máy bay không người lái, vệ tinh do thám, bom dẫn đường chính xác và cả trí tuệ nhân tạo.

Ngày xưa muốn giết một người phải nhìn thấy người ấy.

Ngày nay có thể bấm một nút từ cách xa hàng nghìn cây số.

Đó quả là một bước tiến lớn của văn minh.

Chỉ có điều hơi phiền một chút:

càng không nhìn thấy người mình giết, người ta càng dễ quên rằng đó là một con người.

Vì thế chiến tranh hiện đại có một thứ ngôn ngữ rất tiện lợi:

“mục tiêu quân sự”.

“tổn thất ngoài ý muốn”.

“thiệt hại có thể chấp nhận”.

“đòn đánh chính xác”.

Những chữ ấy nghe rất sạch.

Trong khi chiến tranh thì không.

Máu không biết đọc thông cáo báo chí.

Một đứa trẻ bị bom giết không biết mình chết trong một “chiến dịch quân sự”.

Một người mẹ mất con không được an ủi bởi chữ “tổn thất”.

Và một ngôi nhà bị phá hủy không thể được xây lại bằng một bài diễn văn chiến thắng.

Theo Liên Hợp Quốc, năm 2025 có ít nhất 37.163 thường dân thiệt mạng trực tiếp trong các cuộc xung đột có vũ trang được ghi nhận, giảm 23% so với năm 2024 nhưng vẫn ở mức rất cao; một phần năm số người thiệt mạng là trẻ em. Liên Hợp Quốc cũng lưu ý rằng tình trạng của hơn 13.000 nạn nhân không thể xác định, vì vậy số thường dân thiệt mạng thực tế có thể còn cao hơn. (UNSD)

37.163.

Đọc con số ấy, người ta có thể nhíu mày.

Rồi lướt qua.

Bởi con số lớn quá.

Con số lớn làm mất mặt người chết.

Một người chết là một cái tên.

Mười người chết là một danh sách.

Một ngàn người chết là một thống kê.

Ba mươi bảy ngàn người chết trở thành một dòng trong báo cáo.

Và đó chính là lúc văn chương làm được một điều mà bảng thống kê không làm được.

Homer không cho chúng ta nhìn thấy “37.163”.

Ông cho chúng ta nhìn thấy một người.

Một người cha.

Một người mẹ.

Một đứa trẻ.

Một người lính.

Một người đang chạy khỏi thành phố của mình.

Và vì thế Troy vẫn còn sống.


Có một điều đáng sợ hơn cả chiến tranh:

đó là khả năng con người biến chiến tranh thành chuyện bình thường.

Mỗi sáng mở điện thoại, chúng ta thấy một thành phố bị pháo kích.

Một chiếc xe bị cháy.

Một bệnh viện bị đánh trúng.

Một đoàn người chạy loạn.

Rồi vài phút sau, chúng ta xem thời tiết.

Sau đó xem bóng đá.

Rồi tìm một nhà hàng cho bữa tối.

Đời sống phải tiếp tục, dĩ nhiên.

Nhưng chính sự bình thường ấy đôi khi làm cho cái bất thường trở nên đáng sợ.

Một thành phố cháy trên màn hình rồi biến mất sau một cú vuốt ngón tay.

 

TROY HÔM NAY CHỈ CÁCH CHÚNG TA MỘT CÁI VUỐT MÀN HÌNH.


Và cũng ở đây, Odysseus trở thành một nhân vật của thời đại chúng ta.

Ông không bị trừng phạt đơn giản vì các vị thần nổi giận.

Ông bị buộc phải sống cùng ký ức về những gì mình đã góp phần gây ra.

Đó mới là hình phạt khủng khiếp nhất.

Bởi thần linh có thể tha thứ.

Luật pháp có thể phán xét.

Lịch sử có thể viết lại.

Nhưng có những đêm, lương tâm không cho con người ngủ.

Kẻ thù cuối cùng của Odysseus vì thế không còn ở ngoài kia.

Nó ở trong ông.

BẢN NGÃ CỦA NGƯỜI CHIẾN THẮNG.

Và đó có lẽ là căn bệnh nguy hiểm nhất của mọi thời đại: khi một con người tin rằng mình đúng đến mức không còn cần nhìn thấy nỗi đau của người khác.


Bởi vậy, câu hỏi quan trọng nhất sau một cuộc chiến có lẽ không phải:

“Ai thắng?”

Mà là:

“Ai còn sống?”

Bao nhiêu trẻ em còn sống?

Bao nhiêu gia đình còn nguyên vẹn?

Bao nhiêu người vẫn còn một mái nhà để trở về?

Và người chiến thắng còn giữ được bao nhiêu phần con người trong chính mình?

Nếu những câu hỏi ấy không được trả lời, chữ “chiến thắng” đôi khi chỉ là một cách rất đẹp để gọi một nghĩa địa.


Có lẽ đây cũng là điều khiến câu chuyện Troy vẫn còn sức sống sau gần ba nghìn năm.

Troy không phải câu chuyện về một bên hoàn toàn thiện và một bên hoàn toàn ác.

Nó là câu chuyện về những con người tin rằng họ có lý do chính đáng để làm điều mình đang làm — cho đến khi đứng giữa thành phố cháy và nhận ra rằng lý do của mình không thể làm những người đã chết sống lại.

Đó là khoảnh khắc của Odysseus.

Và cũng có thể là khoảnh khắc mà nhân loại hôm nay đang chờ đợi.

Khoảnh khắc một người nào đó, giữa tiếng hò reo của chiến thắng, bất chợt hỏi:

“CHÚNG TA ĐÃ LÀM GÌ?”


Ở Ukraine, Liên Hợp Quốc cho biết riêng tháng 4 năm 2026 có ít nhất 238 thường dân thiệt mạng và 1.404 người bị thương; đây là mức thương vong dân sự hàng tháng cao nhất kể từ tháng 7 năm 2025. Trong bốn tháng đầu năm 2026, ít nhất 815 thường dân thiệt mạng và 4.174 người bị thương. (The United Nations in Ukraine)

Tại Gaza, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc cho biết đến giữa tháng 4 năm 2026 họ đã xác minh 685 người Palestine bị giết kể từ tháng 10 năm 2025, trong đó có 283 phụ nữ và trẻ em; đến tháng 7, OHCHR tiếp tục cảnh báo về các vụ tấn công và thương vong dân sự. (United Nations)

Những con số ấy không được đưa vào đây để mở một cuộc thi xem bên nào đau khổ hơn.

Chiến tranh không phải cuộc thi.

Người chết không phải huy chương.

Một đứa trẻ chết ở phía này không làm cho một đứa trẻ chết ở phía kia bớt đáng thương.

Và lương tâm, nếu còn là lương tâm, không có hộ chiếu.


Có một nghịch lý rất buồn cười.

Con người càng văn minh thì cách giết nhau càng văn minh.

Ngày xưa, muốn giết một người phải nhìn thấy người ấy.

Ngày nay có thể bấm nút.

Ngày xưa người lính nghe tiếng kêu của nạn nhân.

Ngày nay một người điều khiển drone có thể ngồi trong một căn phòng lạnh, nhìn một chấm sáng trên màn hình.

Ngày xưa máu dính lên thanh kiếm.

Ngày nay người ta có thể lau tay sạch sẽ sau một cuộc họp.

Đó có lẽ là tiến bộ lớn nhất của chiến tranh.

NÓ GIÚP NGƯỜI GIẾT NGƯỜI KHÔNG PHẢI NHÌN THẤY NGƯỜI BỊ GIẾT.


Nhưng Homer không cho chúng ta ngủ.

Ông bắt Odysseus phải lên đường.

Mười năm.

Biển cả.

Quái vật.

Thần linh.

Mất mát.

Cám dỗ.

Và cuối cùng là Ithaca.

Tại sao phải mất đến mười năm?

Có lẽ bởi vì một con người không thể trở về nhà chỉ bằng đôi chân.

Phải mất một thời gian rất dài để trở về với chính mình.

Và có những người có thể sống cả đời mà vẫn không trở về được.


Ngày xưa, Odysseus mất mười năm để trở về Ithaca.

Ngày nay, nhân loại đã mất hàng nghìn năm kể từ Troy.

Chúng ta đã có đủ thời gian.
Đủ khoa học.

Đủ kinh nghiệm.

Đủ chiến tranh.

Đủ nghĩa địa.

Đủ những bài học lịch sử.

Đủ những lời thề “không bao giờ lặp lại”.

Chỉ thiếu một điều:

chúng ta vẫn chưa chắc đã học xong bài học cũ nhất.

Rằng không có thành trì nào đáng để biến trẻ em thành tro bụi.

Không có lá cờ nào đủ thiêng để một người mẹ phải chôn con.

Không có tham vọng chính trị nào đủ lớn để một thế hệ phải trả giá bằng máu.

Và không có chiến thắng nào có thể gọi là vĩ đại nếu khi nó kết thúc, con người phải cúi mặt trước chính lương tâm của mình.

Odysseus đã trở về sau mười năm lưu lạc.

Còn nhân loại, sau gần ba nghìn năm kể từ Troy, hình như vẫn đang trên đường trở về với chính mình.

— MINH HẠO – Ghi chép

Tháng Tám, ngày 9, năm 2026




GHI CHÚ LỊCH SỬ:

1. Troy và cuộc chiến thành Troy

Troy là trung tâm của truyền thống sử thi Hy Lạp về cuộc chiến giữa người Hy Lạp và thành Troy. Địa điểm khảo cổ thường được đồng nhất với Troy nằm tại Hisarlık, thuộc vùng tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Các lớp khảo cổ cho thấy tại đây đã tồn tại nhiều đô thị cổ qua các thời kỳ; tuy nhiên, việc xác định chính xác một “cuộc chiến thành Troy” theo đúng mô tả của sử thi vẫn còn là vấn đề được giới khảo cổ và sử học tranh luận.

2. Odysseus

Odysseus, hay Ulysses trong truyền thống La-tinh, là vua Ithaca và một trong những nhân vật nổi tiếng nhất của sử thi Hy Lạp. Trong Iliad, ông nổi tiếng về trí tuệ và mưu lược; trong Odyssey, ông là người phải trải qua hành trình dài và đầy hiểm nguy để trở về quê hương sau chiến tranh thành Troy.

3. Con ngựa thành Troy

Con ngựa gỗ là một trong những hình ảnh nổi tiếng nhất của truyền thuyết Trojan War. Theo truyền thống, người Hy Lạp dùng mưu kế này để đưa chiến binh vào thành Troy. Trong Odyssey, câu chuyện về con ngựa được nhắc lại như một chiến công của người Hy Lạp. Nhưng nghệ thuật hiện đại có thể đặt một câu hỏi khác: chiến thắng bằng mưu kế có ý nghĩa gì nếu kết quả cuối cùng là sự hủy diệt và cái chết?

4. Agamemnon và Iphigenia

Agamemnon là thủ lĩnh quân Hy Lạp trong truyền thống về cuộc chiến thành Troy. Truyền thuyết kể rằng ông đã hiến tế con gái Iphigenia để làm nguôi các vị thần và giúp hạm đội Hy Lạp có gió thuận để lên đường. Câu chuyện này đặt ra một câu hỏi rất cổ nhưng vẫn còn nguyên tính thời sự:

Một mục tiêu lớn lao có thể biện minh đến đâu cho việc hy sinh một con người vô tội?

5. Troy của Homer và Troy của lịch sử

Cần phân biệt Troy của thần thoại, Troy của Homer và Troy của khảo cổ học. Chúng không phải là ba khái niệm hoàn toàn đồng nhất. The Odyssey của Christopher Nolan là một tác phẩm điện ảnh chuyển thể và diễn giải lại chất liệu sử thi cổ đại, không phải một bộ phim lịch sử theo nghĩa tái dựng nguyên trạng thế giới Hy Lạp thời đồ đồng. Phim được phát hành ngày 17 tháng 7 năm 2026 và được quay hoàn toàn bằng máy quay phim IMAX. (The Odyssey (2026 Movie))

6. Chiến tranh và thường dân hôm nay

Theo Báo cáo Mục tiêu Phát triển Bền vững 2026 của Liên Hợp Quốc, năm 2025 có 37.163 cái chết của thường dân được ghi nhận trực tiếp trong các cuộc xung đột có vũ trang, giảm 23% so với năm 2024. Tuy nhiên, số liệu có thể bị thiếu vì tình trạng của 13.165 nạn nhân không thể xác định. Một phần năm số người thiệt mạng được xác định là trẻ em. (UNSD)

7. Vì sao Troy vẫn còn ý nghĩa?

Bởi Troy không chỉ là câu chuyện về một thành phố bị phá hủy. Nó là một trong những câu chuyện lâu đời nhất của văn minh phương Tây về chiến tranh, quyền lực, danh dự, tham vọng, mất mát và hậu quả đạo đức của chiến thắng.

Đọc Troy hôm nay không nhất thiết để tìm một bên hoàn toàn thiện và một bên hoàn toàn ác.

Có lẽ chỉ để đặt lại một câu hỏi căn bản hơn:

Sau khi tiếng hò reo chiến thắng tắt đi, con người còn lại với lương tâm của chính mình như thế nào?

_________________________

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 129661)
“ B ây giờ tôi mới hiểu: thì ra con người đối với Hồ Chí Minh chẳng là cái gì. Ông mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới, sao vàng năm cánh mộng hồn quanh. Con rồng, ai cũng biết, là biểu tượng của nhà vua. Ông mơ cưỡi nó thì ông đâu phải là một người trong chúng ta.[...] Con người là vốn quý nhất , tôi từng nghe ông nói với mọi người trong lần gặp anh hùng La Văn Cầu ở Thác Dẫng, mùa thu năm 1950. Stalin cũng nói thế. Mao Trạch-đông cũng nói thế.Mà đúng: con người chỉ là vốn thôi, để kinh doanh cái gì đó. Khi là vốn, nó thôi là Người ,” (Vũ Thư Hiên)
26 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 128523)
Á Nam Trần Tuấn Khải sinh năm 1894 tại làng Quan Xán, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, mất năm 1983 tại Sài Gòn, thọ đúng 90 tuổi ta. Cuộc đời ông trải qua hầu hết những giai đoạn thăng trầm nhất, chứng kiến hầu hết những biến cố quan trọng nhất của lịch sử cận hiện đại Việt Nam. Ông cũng chứng kiến hầu hết những cuộc đổi thay của văn học hiện đại Việt Nam, từ sự ra đi của thơ Cũ đến sự xuất hiện của Phong trào thơ Mới, của Tự lực văn đoàn, đến các trường phái, trào lưu, khuynh hướng, chủ thuyết văn học cả tư bản và cộng sản gần suốt thế kỷ XX.
21 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 121263)
“Đến bây giờ tôi còn thương mấy con ếch báo thức; chúng là những con ếch đầu đàn, ngủ đông trong hang, nấc lên tiếng gọi đầu tiên đánh thức đàn ếch chui ra khỏi hang mà vào cuộc sinh nở với mùa xuân. Nhưng các nhà "tiên tri ếch, kẻ đánh thức đồng loại" dậy đón xuân kia đã bằng tiếng ồm ộp của mình báo rằng: lạy ông tôi ở bụi này. Mấy tay bắt ếch chuyên nghiệp nghe tiếng kêu thức tỉnh đồng loại của dũng tướng ếch cách mạng kia bèn chộp chú liền, cho vào giỏ về thịt; vào giỏ rồi mà chú vẫn uôm uôm! Vẫn báo cho đồng loại dậy mau mà chạy đi, mà vọt xuống ao kịp trốn ... . " (Trần Mạnh Hảo)
18 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 119065)
T rong đời Nguyễn Du có ba sự việc liên can đến Trung Quốc:Năm  1803 , Nguyễn Du được cử lên  ải Nam Quan tiếp sứ  nhà Thanh sang phong sắc cho vua  Gia Long . Năm  1813 ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm chánh sứ tại  nhà Thanh cho đến  1814 . Năm  1820 Gia Long qua đời,  Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang  nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết...
17 Tháng Mười Một 201112:00 SA(Xem: 140497)
C âu hỏi được đặt ra là tại sao bài Đáp Lời Sông Núi [2] của Trúc Hồ lại có thể vượt không gian và đặc biệt là đường ranh Quốc - Cộng để không riêng được mọi người ưa thích mà còn được hát lên như vậy? Câu hỏi này đã khiến cho những người từng theo dõi sự xuất hiện và phổ biến của những bài hùng ca [...] nhớ tới những bài hát của thời thập niên bốn mươi của thế kỷ trước.
05 Tháng Mười Một 201112:00 SA(Xem: 131667)
S au nhiều năm bị giam cầm và cả 7 năm quản thúc tại gia, lãnh tụ dân chủ đối lập bà Aung San Suu Kyi được thả ra. Ngay sau đó, từ tháng 8 năm 2011, bà đã mạnh dạn lên tiếng kêu gọi phong trào quần chúng hãy bảo vệ con sông Irrawaddy cùng với yêu cầu phải tái lượng giá ảnh hưởng môi sinh...
11 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 118307)
T rần Hoài Thư đến với văn chương rất sớm, sớm hơn truyện ngắn đầu tay Nước Mắt Tuổi Thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa năm 1965. Và nếu phân chia các giai đoạn văn học miền Nam theo cách của Võ Phiến (xem Văn Học Miền Nam, tập tổng quan, nxb Văn Nghệ, Hoa Kỳ 2000) thì Trần Hoài Thư được xếp vào ( Những Cây Bút Trẻ , theo cách gọi thời đó) giai đoạn 1964-1975 giai đoạn mà chiến cuộc bắt đầu bùng nổ dữ dội.
07 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 126916)
K hi đánh giá về ngôn ngữ Truyện Kiều của Nguyễn Du, các nhà nghiên cứu đều cho rằng, tác giả đã đẩy ngôn ngữ bình dân lên ngôn ngữ bác học. Nhận định này đã gián tiếp phân cấp ngôn ngữ ca dao hò vè với ngôn ngữ thơ.
17 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 122401)
C ái Tôi nội cảm cộng hưởng với cảnh đời riêng, tâm thế sáng tạo riêng đã hình thành kiểu tư duy kỳ lạ của thơ Loạn. Thơ Loạn ra đời dựa trên sự thăng hoa nghệ thuật của những nỗi đau, sự bung phá những giới hạn, sự phân ly và hòa hợp những đối cực, sự hợp lưu của nghệ thuật, tôn giáo và cuộc đời. Thế giới nghệ thuật trường thơ Loạn là ánh xạ đầy biến ảo của những cái Tôi trữ tình đau thương và khát vọng.
09 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 119808)
K hi ta nói chuyện một con sông, thì chủ yếu là nói đến một khúc sông, như khúc sông Hương chảy qua thành phố Huế. Nói về một tác giả cũng vậy, thường ưu đãi ấn tượng về một tác phẩm nào đó. Với một sự nghiệp văn học đã trải qua nhiều ghềnh nhiều thác như của Thảo Trường, đánh giá toàn bộ là một việc khó.