- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

CAO VỊ KHANH – MỘT NGÀN LẺ BƯỚC ĐỘC HÀNH

19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 7308)

thuan015
Tranh Nguyễn Đình Thuần



nguyễn thị khánh minh

 

CAO VỊ KHANH – MỘT NGÀN LẺ BƯỚC ĐỘC HÀNH

-Nhân đọc tập thơ Ký Ức Tháng Tư, và Khúc Đoạn Trường của nhà thơ Cao Vị Khanh.

 

 

viết bao nhiêu chữ cho vừa lệ

một cuộc tang thương, mấy đoạn trường(CVK)

 

Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.

 

CAO VỊ KHANH- NGƯỜI NHẶT KÝ ỨC

 

Độc hành trong triệu bóng độc hành. Mỗi người oằn vai một gánh đau chung và một nợ đau riêng, họ trôi dạt theo lớp sóng thời gian, họ bước đi trên mảnh vỡ của một không gian rách toạc, mỗi mảnh vang mỗi địa chấn, của nghèo đói, của tù ngục, của thuyền nhân, của lưu vong. Có ai nhìn thấy bóng lẻ loi ấy. Ký ức nào người nhặt về, thời gian nào người níu lại, không gian nào người đang chắp nối? - dẫu lòng ngập mặn đã tầng sâu-, vẫn không ngại xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ.

 

Có ai cảm thấy cái tận dài của đêm khóc một mình, cái hút sâu của ai oán bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng? Nghe nó bẽ bàng, tủi nhục và cô đơn cùng tận. Cảm thương cho khí phách dưới trăng tà, tiếng bi ai của nghìn nghìn trái tim ngủ vùi trong cát trận, và xa chưa, mà ngọn gió biên ải vẫn sướt da, mà âm vang áo bào, dấu trận vẫn lửng lơ đầu vực? Tàn cuộc lửa binh ư? Không, một vở bi hài kịch vừa kéo màn, mà tất cả diễn viên, khán giả kẻ khóc người cười biết lấy gì vui mà đắp đổi...

 

… người tù trẻ

trả súng rồi.

đêm khóc một mình.

(Tàn Cuộc- Ký Ức Tháng 4)

 

Ta đánh mất trái tim ngoài bãi trận

Lấy gì vui đắp đổi buổi tàn thu

(Lệ Khôn Cùng- Ký Ức Tháng 4)

 

Sợi giây oan khuất treo đầu vực

Manh áo bào phai dấu trận mờ

(Góc Biển- Ký Ức Tháng Tư)

 

Lũ lượt người đi lên ải bắc

Tấc lòng mông muội nhớ mang mang

Máu xương đòi đoạn còn ngây dại

Bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng

(Điếu Khúc – Ký Ức Tháng Tư)

 

Còn những người đi chẳng thấy về

Những bồ mỹ tửu lạnh môi tê

Qua sông Dịch trắng thù chưa trả

Kiếm gãy cờ tan lạnh bốn bề

(Buồn Xưa)

 

Và đây là 4 câu thơ đánh bật ta ra khỏi biên giới của đau nhói, sững sờ, một nỗi gì như tâm tan hoang:

 

Ta đi rong khắp Nam cùng Bắc
Gom hế́t muôn ngàn vải tám thô
May đủ hai hàng cờ lá phướn
Treo lên trắng toát một cơ đồ

(Hành Tháng Tư- Ký Ức Tháng Tư)

 

Người đi lánh nạn cuối ghềnh xa

Không gió Nhạn môn vẫn sướt da

Lạc bóng Trường An từ lửa dậy

Tủi người mài kiếm dưới trăng tà

(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng Tư)

 

Chợt nghe gió hú dặm trường,

hồn Đặng Dung khóc tiếc đường kiếm hư.

Người về, thắp nến án thư,

họa bài Chính Khí, lệ từ nét ngang.

(Hận Xưa- Ký Ức Tháng 4)

 

Kẻ ngóng đầu non, đợi cuối gành

Đếm từng tiếng vạc suốt thâu canh

Đã lâu vắng bóng người qua ải

Ngâm tiếp cùng ta vạn lý hành

…

Kẻ sống như người chết loạn đao

Róc từng sớ thịt xẻ niềm đau

Trái tim từ buổi đời xuôi ngược

Đập chỉ trường thiên nhịp biển dâu.

(Góc Biển- Ký Ức Tháng 4)

 

Người thua trận chót đền trăm tuổi -tử sĩ đã đành-, mà kẻ sống cũng máu xương đòi đoạn:

 

Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ
Mười năm đánh đổi chuyện keo sơn
Người thân biệt xứ lên rừng núi
Kẻ ngóng đầu non đến mỏi mòn

(Hành Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)

 

Ký ức nào bứt ra từ nấm mồ chung đáy biển xanh, để nay về trên chữ của người kể chuyện mắt nhắm không đành của tử thi, của hoang đảo nhuốm tiết trinh một thời huyết biển? Biển nào để tang, biển nào chứng nhân muôn đời của Dặm ngàn sinh mạng nhẹ như tơ…?

 

Mẹ gởi con đi ngoài biển lạnh
Bằng như cọng cỏ ném sau gành
Thuyền con mỏng mảnh trời đen kịt
Mẹ thức từng đêm mắt lạnh tanh

Con đi một sống trăm lần chết
Mẹ đứt từng khoanh ruột đoạn đành

(Hành Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)

 

Còn nấm mồ chung đáy biển xanh

Mắt khô trống hoác nhắm không đành

Những trinh tiết gái ngoài hoang đảo

Phơi trắng đầu doi cuối bãi gành

(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng 4)

 

Ai, ai là người cùng nhà thơ ngồi bên kho ký ức ấy, làm một lễ chiêu hồn:

 

Ta nằm úp mặt trên bờ cát

Nghe sóng tiền thân vỗ bập bùng

Bỗng thấy quê hương như có thật

Bên trời bạc trắng tóc rưng rưng

(Lệ Không Cùng- Ký Ức Tháng 4)

 

Ôi những mồ hoang người tử trận

Ai thắp giùm ta một nén hương

Ai khắc trên đầu bia đá tảng

Sống trung can chết vượt đời thường

(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng Tư)

 

Những tưởng mười năm đời sáng lại
Ta về bươi kiếm miểng xương khô
Vét hết oan khiên người lỡ vận
Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
(Hành Tháng Tư)

 

Quê hương hư thực như môt niềm hy vọng lẫn ảo vọng… và những nấm mồ hoang là phế tích, là chứng nhân, chiến sĩ vô danh đã là hồn thiêng của núi sông. Tôi ngậm ngùi nhớ Khánh Lý đã hát …hòa bình hay chiến tranh cũng chỉ là rêu xanh bám trên nấm mộ hoang… (Những nấm mộ hoang- Lê Minh Bằng-1972)

 

CAO VỊ KHANH- VÀNG CÁNH RONG PHIÊU BẠT

 

Ta bỏ người. Không phải Ta xa người, “Bỏ” này đoạn trường biết mấy cái Xa kia. Thân phận cánh rong phiêu bạt, theo đưa đẩy vào cõi trời quen đất lạ, và cõi vô biên của thời gian. Ta mang mặc cảm rời bỏ, bên kia chân trời là Người-quê hương- đau đáu lệ kêu thương, cả hai dằn vặt tâm phủ nhau. Tội lỗi với Người chăng dù đó là cái Bỏ bị động, của bức bách?

 

Ta bỏ người đi biệt mấy thu

Người chờ mắt lệ mấy dòng sâu

Còn ta vàng cánh rong phiêu bạt

Đổ tắp ghềnh cao, nắng dãi dầu

(Lệ Biển Xanh- Ký Ức Tháng 4)

 

Như ngựa Hồ hí khi gió bấc về, người thơ mỗi khi rượu cay lại nghe mùi quan ải ngày binh đao, nhân lên ngàn lần nỗi dặm dài…

 

Rượu nốc từng đêm sầu cặn lại

quê nhà xa huốt một đường bay

men cay có ướp mùi quan ải

mà nối xa thêm những dặm dài

(Túy Bút)

 

Để mũi tên đau: Lịch Sử- Ký Ức- Di chứng- cứ ghim hoài trong tâm thức. Mười năm được nhắc đi nhắc lại như tiếng đều đều của chiếc cối xay thời gian, tỏ bật nỗi phận gởi thân lê. Như vừa sống vừa chịu gia hình, …biết đâu bờ bến mà về/ linh đinh phận gởi thân lê xứ đày. Có thật không một nơi nào trên mặt đất hoang vu này, gọi là quê hương, mà để…ta sống như loài thú thất tung…? 

 

Ta sống mười năm kề cực bắc

Mười năm xuyên suốt mũi tên đau

Mười năm thương phế từ tâm phủ

Còn lại gì không ước nguyện đầu

(Biển Bắc- Ký Ức Tháng 4)

 

Còn tấm thân cằn tẩm gió mây

mươi năm thắc thẻo chuyện sum vầy

mươi năm đuối mộng. Hèn vong quốc

rượu nhắp bên trời, cay. Rất cay.

(Túy Bút)

 

Chờ ai mà nghe mòn mỏi. Như thể đi xuyên qua ta, thời gian đã để lại lời nguyền lỗi hẹn, Chắc tại quê hương ngoài cõi đợi…  

 

Có bữa chợt thấy lòng đau dội

Đau suốt con tim đến lạ thường

Chắc tại quê hương ngoài cõi đợi

Bên trời đau đáu lệ kêu thương.

(Quê Hương- Ký Ức Tháng 4)

 

Vì đó không phải là cái xa của cách trở dặm dài, nó là cái xa của máu lệ những người khuất mặt. Hai câu thơ dưới dây nghe đẫm phận hoài, tình nào có thể nối lại nghìn trùng máu lệ kia, lịch sử ơi!

 

Quê xa đâu phải ngàn dặm mỏi.

Xa tự muôn trùng máu lệ xưa…

(Ký ức 1)

 

Cõi đợi đã không, cõi mộng cũng gần như trắng tay, nó chỉ là những dặm đường đầy chua chát của bước đi không trọn:

 

Đã đuối phong trần, đẫm gió mưa

Đêm còn đuổi mộng? -những dặm thừa

(Ký Ức 1- Ký Ức Tháng 4)

 

Và đúng là nỗi đau dội, khi nhìn lên trời, một ngày đầy mây, có lời thơ vỡ ra:

 

Sao vẫn ngùi thương chuyện bể dâu

Bao nhiêu xương cốt vùi chung chỗ

Đã bốc thành mây. Mây trắng phau

(Mây Trắng)

 

Mây trắng, một biểu tượng đầy thiền vị cho sự phù du, vô thường, giờ là hồn cốt của bao oan khiên, đã đi qua lịch sử và giờ ở đó, -mây trắng phau- là sự thong dong của giải thoát chăng, mà sao khi nhìn nó cùng với câu thơ này tôi không tránh khỏi rợn buồn, ngùi ngùi cho một níu kéo.

 

Và có phải đây là bờ vực khi con người bị dồn vào biên giới của chịu đựng, phủ nhận tất cả, kể cả ẩn dấu một cảm thức hiện sinh, tại sao ta bị ném vào sự tồn tại này. Cánh rong phiêu bạt, một trạng thái không định hướng, đẩy tồn tại ấy đồng nghĩa với hư vô, và cơn đau dội kia như một cú choáng khiến người đâm ra ngờ vực, cả đến chất vấn con chữ. Chẳng lẽ không còn gì ngoài sự chịu đựng? Tôi không tin như vậy, bởi còn một dấu hỏi sau chữ Phù Vân kia.

 

Còn tôi với bóng. Một tôi

Với trăm xác chữ lạc loài kêu than

Năm mươi năm lệ đã tràn

Nghĩa nhân đã nát, đá vàng đã phai

Chữ-nghĩa hẳn cũng phận bày

Đọa đày cố quận… rạc rày ý thân

 

Ới ơi chữ-nghĩa! Phù vân?

(Xác Chữ)

 

ngồi chia với tượng nỗi lòng

mặt tôi với mặt tượng đồng, y chang.

(Túy Bút)

 

Người chờ cho hết đời cô quạnh
Ta đứng bên trời, lệ chảy nhanh

(Hành Tháng Tư)

 

Chờ bao giờ hết? Đời là trăm năm và cuộc chờ kia vô tận. Và đã bao tượng chờ ở thế gian này?

 

Và Biển. Ở đây, biển thời gian: Cuộn- Xóa- Lấp. Thời gian đang làm công việc của nó. Ký ức là sự tỉnh thức của ta, ta hiện hữu vói nó, không chỉ hẳn là gìn giữ quá khứ mà là một mốc cho ta biết cội rễ của lưu vong. Và để, nhân ái, Xóa vết thù xưa…

 

Biển Bắc chon von tận đỉnh trời

Âm hàn nhọn sắc xé da tươi

Tai nghe tiếng sóng thời gian cuộn

Xóa vết thù xưa, lấp dấu người.

(Biển Bắc- Ký Ức Tháng 4)

 

Xóa vết thù xưa… xóa vết thù xưa… Nhẹ nhàng như đang lật qua một trang sách. Chỉ còn Tình Người.

 

 

 

KẾT TỪ

 

Trong khép lại tập thơ Ký Ức Tháng Tư này, tôi đọc những câu mở ra của Khúc Đoạn Trường (trường thi,155 đoạn) của Cao Vị Khanh, đã đẩy tôi đến nhiều suy tư.

 

Không biết đây có phải là khoảnh khắc người thơ đối diện với hư vô chăng:

 

Rồi tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra.

Mọi trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ.

Không có chi. Không còn chi.

 

Cả ba câu thơ trùm một không khí cô đơn của thất lạc, của nỗ lực đang tìm lại mình, như một nghi vấn hiện sinh tôi là ai nếu không còn lại gì?  Và về sự phi lý của cuộc tồn tại như nhà văn Albert Camus đã nói, có phải đó là ý thức trần trụi về sự hiện hữu? 

 

Rồi tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra. Không ghi nhớ, không phán xét, không ký ức, chấp nhận thực tại cuộc sống với những phi lý hiển nhiên.

 

Mọi trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ, -thống khổ không được trân trọng sao-? Rỗng đây là một vết thương, thế giới này không phải là nơi cân đo cho nỗi đau, và thân phận con người là điều mà thế giới này không quan tâm.

 

Không có chi. Không còn chi. Chỉ thấy sự im lặng, vắng bặt, trống không. Không còn hình ảnh, ký ức, ẩn dụ, biểu tượng… nghĩa là tất cả những gì thuộc về “trước đó” bỗng biến mất. Như thể hư vô. Ngôn ngữ co lại thành một điểm: Không. Một phủ định, câm nín, thúc thủ.

 

Và. Qua những chặng đó, tôi dừng chân ở một liên tưởng khác thuộc Phật học:

Nhận thức vô thường trong tất cả sẽ qua đi. Không còn Ta nào để thống khổ. Và một rốt ráo Không của Buông Bỏ, để rỗng rang trong sáng. Lúc đó không phải đối diện với hư vô, mà là Tự Do.

 

Nguyễn Thị Khánh Minh

Upland, tháng 11-2025

 

Giới thiệu link để đọc bài thơ Hành Tháng Tư của Cao Vị Khanh:
https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2025/05/27/bai-hanh-thang-tu-3/

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Hai 20203:57 CH(Xem: 41186)
Việt tộc, nếu tính từ khi lập quốc tại Phong Châu, trong vài ngàn năm tiến về phương Nam, hiện tiếp tục ra đi tới khắp các nẻo đường thế giới, đã tiếp cận hầu hết các nền văn minh nhân loại. Từ hậu Lê, suốt 500 năm biến động đầy sóng gió, với tình hình hiện nay, có thể xem như chúng ta đang ngày càng rời xa khỏi đạo thống Tiên Rồng trải từ thời Hùng Vương đến hai triều đại Lý-Trần, giờ lại còn bị đe dọa tiêu diệt bởi chủ thuyết Mác-Lê. Việt Nam tuy được xem như đã hội tụ hầu hết các tôn giáo và các nền văn minh lớn trên thế giới (Phật, Lão, Khổng, Cơ đốc; Hoa, Ấn, Tây), chúng ta vẫn chưa định hình được một nền văn hoá đặc thù làm nền tảng nhằm thoát Trung, bỏ Cộng để xây dựng đất nước.
16 Tháng Hai 20203:47 CH(Xem: 45240)
Khởi đầu một năm mới đầy biến động, trước anh linh người vừa khuất tôi xin được dâng lên lời cầu nguyện. Nguyện cho mỗi chúng ta từ nay sẽ không là kẻ vô can và ngưng đóng vai khán giả. Bởi tất cả chúng ta dù đang ở vị trí nào hay sinh sống ở nơi đâu đều gắn kết cùng nhau chung một số mệnh - Số mệnh của dân tộc Việt Nam.
25 Tháng Giêng 202011:50 CH(Xem: 38033)
Rồi nhìn về phía Nhà nước, với bao nhiêu công trình xây cất lãng phí hàng tỷ USD, điển hình như cống đập Cửa Ba Lai và các hệ thống ngăn mặn cùng khắp ĐBSCL, có thể nói là một thất bại toàn diện. Sau bài học thất bại của cống đập Ba Lai, và rồi sắp tới đây, là một công trình khác lớn hơn thế nữa: Cái Lớn Cái Bé. Nhà nước nên có sáng kiến thực tiễn hơn: dùng số tiền tỷ USD ấy để xây dựng những dự án thật sự công ích. Khởi đầu là một tỷ USD cho xây một nhà máy khử mặn / Desalination Plant, một tỷ đồng khác xây dựng một nhà máy thanh lọc nước thải / Waste Water Treatment Plant, đó là những gì khẩn cấp nhất mà 20 triệu cư dân ĐBSCL đang thiếu nước ngọt giữa cơn hạn ngập mặn và nguồn nước ô nhiễm trầm trọng như hiện nay. Đó mới thực sự là bước công nghiệp hoá chứ không phải với những túi nhựa chứa nước ngọt đang bán ra cho nông dân mà vẫn được gán cho danh hiệu Công trình Khoa Học & Công Nghệ Cấp Nhà Nước.
23 Tháng Giêng 202012:07 SA(Xem: 44772)
Tiếng khóc ai oán của chị Nhung con cụ Lê Đình Kình - người bị lực lượng cưỡng chế giết chết ở Đồng Tâm - như một nhát dao xuyên suốt tất cả trái tim những ai lắng nghe nó. Cho dù họ là người của chính quyền hay các nhà hoạt động, những người khác hẳn nhau về chính kiến.
14 Tháng Giêng 20205:59 CH(Xem: 42286)
Bài viết này gửi tới 92 vị Đại biểu Quốc hội của 13 tỉnh Miền Tây, mà chúng tôi kỳ vọng quý vị như một toán đặc nhiệm – task force, trong quyền hạn có thể phản ứng nhanh, tạo bước đột phá, tránh được một sai lầm chiến lược trong lưu vực sông Mekong và cả cứu nguy ĐBSCL – vùng mà các vị đang đại diện.
27 Tháng Mười Một 20196:16 CH(Xem: 43204)
Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Phúc lợi và Phát triển Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lần thứ 10 tại thủ đô Vientiane, ông Khampheng Saysompheng nêu rõ vào khoảng 4 giờ sáng và 7 giờ sáng ngày 21 tháng11 đã xảy ra hai trận động đất độ lớn lần lượt là 5.9 và 6.1 tại huyện Saysathan, tỉnh Xayaburi, giáp biên giới Thái Lan. Ông Saysompheng nói thêm đây là trận động đất mạnh hiếm có và rất nhiều năm mới xảy ra tại Lào.
16 Tháng Mười 20193:08 CH(Xem: 43324)
Ngày 31/07/2019 chính phủ Lào chính thức gửi hồ sơ tới Ủy Hội Sông Mekong / MRC về dự án xây con đập dòng chính Luang Prabang với yêu cầu tiến hành thủtụcPNPCAba giai đoạn: (1) Thủ tục Thông báo / Procedures for Notification, (2) Tham vấn trước / Prior Consultation, (3) Chuẩn thuận / Agreement. Thay vì ra thông báo ngay,MRC đã trì hoãn 7 tuần lễ saumới đưa ra thông cáo báo chí về sự kiện này.Đến ngày 25/09/2019, MRC đãbào chữa cho quyết định im lặng 7 tuần lễ với lý do: “Thông báo của Lào gửi tới chưa đầy đủ để có thể tiếp cận với phần tổng quan của dự án / project overview và lộ trình tham khảo / roadmap for consultation, giúp quần chúng hiểu tốt hơn về dự án và tiến trình tham vấn.” Cũng vẫn ban Thư ký MRC giải thích tiếp,“Học được từ kinh nghiệm, lần này chúng tôi có kế hoạch thông báo chính thức khi có đủ những tài liệu cần thiết để quần chúng và các bên liên quan / stakeholders có thể khảo sát và đóng góp ý kiến cho tiến trình tham vấn thêm ý nghĩa.
27 Tháng Chín 20199:49 CH(Xem: 44835)
Cho dù tên tuổi TNS Jim Webb đang được sôi nổi nhắc tới qua sự kiện lễ vinh danh và an táng 81 bộ hài cốt các tử sĩ Nhảy Dù VNCH vào 26/10/2019 sắp tới – cũng là ngày Quốc Khánh của nền Đệ Nhất Cộng Hòa VN – nhưng với người viết thì Jim Webb còn là một khuôn mặt nổi bật trong giới lập pháp Hoa Kỳ từ hơn một thập niên trước, như một advocate có tiếng nói mạnh mẽ bảo vệ con sông Mekong và cư dân lưu vực:“Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới có một cam kết chiến lược và nghĩa vụ tinh thần nhằm bảo vệ sức khỏe và an sinh của cư dân sống phụ thuộc vào con sông Mekong với nguồn tài nguyên và nếp sống của họ.”Senator Jim Webb’s Press Releases 12/ 08/ 2011.
23 Tháng Tám 20199:39 CH(Xem: 45479)
Vậy mà đã 62 năm kể từ khi Liên Hiệp Quốc khai sinh Ủy Ban Sông Mekong [1957] và cũng đã 24 năm từ ngày thành lập Ủy Hội Sông Mekong[1995]. Tính đến nay 2019, Bắc Kinh đã xây xong 11 con đập thủy điện khổng lồ / mega-dams (6,7) chắn ngang dòng chính sông Lancang Jiang, tên Trung Quốc của con Sông Mekong chảy trong lãnh thổ TQ với lượng điện sản xuất đã lên tới 21,300 MW và TQ vẫn đang tiếp tục xây thêm 19 con đập khác; Thái Lan ngoài các con đập phụ lưu, còn có kế hoạch chuyển dòng lấy nước từ sông Mekong, và nay hai nước Lào và Cambodia còn có thêm dự án 12 đập dòng chính hạ lưu. Ngoài ra còn hàng trăm con đập phụ lưu đã và đang xây trên khắp lưu vực Sông Mekong, kể cả trên Cao nguyên Trung phần Việt Nam.
23 Tháng Tám 20197:53 CH(Xem: 46409)
Cách đây không lâu, tôi đọc được bài viết “Ảnh hưởng của thơ Đường đối với thơ mới” của TS Nguyễn Xuân Diện và Trần Văn Toàn trên Tạp chí Hán Nôm số 3 (36) năm 1998, trang 46-53, đăng lại trên blog của tác giả Nguyễn Xuân Diện (http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/10/anh-huong-cua-tho-uong-oi-voi-tho-moi.html). Phải nói đây là một bài viết công phu, tuy chưa lý giải thấu đáo đến mọi khía cạnh của vần đề. Một số vấn đề cần có sự trao đổi thêm. Trước mắt, tôi xin có một vài nhận xét.