- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

TỪ VŨ - NGƯỜI GIỮ “HOA LƯƠNG THIỆN” GIỮA HAI BỜ BIỂN

28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 1348)
TUVUNEW1




Chân dung văn học

 

TỪ VŨ - NGƯỜI GIỮ “HOA LƯƠNG THIỆN” GIỮA HAI BỜ BIỂN


Tác giả: Hoàng Thị Bích Hà

 

 

 

 

Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh.
Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.

Ông không chỉ là người sáng tác thơ, tùy bút, truyện ngắn và truyện chuyển ngữ, mà còn cùng cộng sự sáng lập trang web vietvanmoi.fr từ những năm 2004 và giữ vai trò chủ biên, phu nhân của ông bà Nguyễn Thị Dị phụ tá chủ biên cùng với các thành viên khác (xem vietvanmoi.fr) - một không gian kết nối những người yêu văn học nghệ thuật Việt Nam trong nước và hải ngoại. Trong thời đại công nghệ, khi khoảng cách địa lý không còn là rào cản, ông cùng cộng sự yêu thích văn chương và Tiếng Việt cội nguồn, đã tạo dựng một diễn đàn để người Việt khắp nơi có thể gặp nhau bằng văn chương. Nếu phải chọn một hình ảnh để nói về ông, có lẽ đó là hình ảnh một người đứng giữa hai bờ biển: một bờ là ký ức quê nhà, một bờ là đời sống thực tại nơi xứ người và giữa hai bờ ấy, ông cùng ban biên tập kiên nhẫn bắc một nhịp cầu bằng chữ nghĩa.

Đó không chỉ là một trang web. Đó là một không gian văn hóa. Ở đó, những tác giả trong nước và hải ngoại cùng hiện diện, cùng chia sẻ sáng tác, cùng đối thoại. Một người từng tham gia xây dựng tiêu chuẩn ISO châu Âu, nay lại kiên nhẫn xây dựng “tiêu chuẩn” cho chữ nghĩa Việt bằng tinh thần tự nguyện và trách nhiệm.

 

1. Xuất thân từ một dòng họ lịch sử đến một đời lưu lạc

Sinh năm 1943 tại làng Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Đông, Bắc Việt, Từ Vũ mang trong mình dòng dõi nhà Mạc - phái hệ Thế Tử Mạc Phúc Đăng, con thứ vua Hiến Tông Mạc Phúc Hải và bà Quý Phi Bùi Thị Ban. Gia phả ấy như một mạch ngầm lịch sử chảy qua nhiều thế kỷ, nhưng cuộc đời ông lại là câu chuyện của thế kỷ XX - thế kỷ của chiến tranh, chia cắt và lưu vong.

Tuổi thơ ông gắn với Hà Nội, học tại trường Quang Trung (Hồ Bảy Mẫu). Năm 1953, ông theo cha mẹ vào Nam. Những ngôi trường ông từng theo học - Trần Hưng Đạo Đà Lạt, Bá Ninh Nha Trang, Lê Quý Đôn Nha Trang, Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh, Trường Sơn Sài Gòn,… như những cột mốc của một hành trình tuổi trẻ nhiều biến động.

Ông từng là giảng viên chính trị tại các trung tâm huấn luyện Biệt Chính Vũng Tàu, Trường Sơn Biển Hồ Pleiku và Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Vũng Tàu, từng phục vụ trong Biệt Đội 1 Quân Báo thuộc Phòng 2 - Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, làm việc bên cạnh Phòng Nhì Sư đoàn 1 Bộ binh Hoa Kỳ. Năm 1972, ông giải ngũ. Sau 30 tháng 4 năm 1975 tình nguyện đi kinh tế mới tại Long Châu Hà , học nghề đánh cá  rồi đóng tàu vượt biên.

Năm 1979, ông định cư tại Pháp. Từ một người lính, ông bước vào đời sống công nghiệp hiện đại châu Âu, trở thành cán bộ cao cấp trong các công ty sản xuất kỹ nghệ của Pháp như Weber & Broutin, Lafarge Réfractaires, Allia, Allibert & Sommer, Simpa… Ông còn là thành viên nhóm đại diện các công ty sản xuất Pháp trong hội đồng soạn thảo các quy luật phẩm chất ISO của Cộng Đồng Âu Châu về thiết bị vệ sinh.

Gia đình ông dù phải trải qua những sóng gió nhưng cũng gặp nhiều may mắn. Rủi may đã từng ... cuối cùng trôi dạt đến Pháp với cuộc sống ổn định. Giờ hai ông bà hưởng lương hưu. Các con cháu đều học giỏi, thành đạt ở cấp quốc gia và quốc tế. Điều đặc biệt là các cháu sống rất giản dị, nhân hậu (giúp đỡ người yếu hơn mình về tinh thần, vật chất...) xứng đáng là hậu duệ của một vương triều tự mình lập quốc và cũng có nhiều cải cách đáng ghi nhận (giúp xã hội ổn định trong một giai đoạn khó khăn, góp phần giữ gìn truyền thống văn hóa- khoa cử của Đại Việt) cho đất nước thời bấy giờ. 

 

Một hành trình như thế, từ làng Quất Động đến phòng họp ISO châu Âu, đủ cho thấy biên độ rộng lớn của đời sống Từ Vũ. Nhưng giữa những vai trò chuyên môn nghiêm ngặt ấy, ông vẫn giữ một căn cước khác: người làm thơ, viết văn “tài tử” từ thời học trò.

 

2. Đọc bài thơ “Đọc thư em gởi”, ta thấy rõ tâm thế của một người xa xứ:

“Anh, khách lạ phương trời xa biền biệt
Cuộn xoay trong cơn lốc cuộc đời
Cánh thơ em, lời ngọt ngào thân thiết
Sống trong anh … thời quá vãng xa xôi.”

Trong thơ Từ Vũ, có hai không gian luôn song hành: quê hương và xứ người. Một bên là “biển quê em xanh mát”, “trăng Hạ - Lan hương ngào ngạt”; bên kia là “một trời mây u ám”, “trăng tây phương… ảm đạm”. Thiên nhiên trong thơ ông không chỉ là cảnh sắc mà là ký ức - một ký ức vừa dịu dàng vừa nhói đau.

Bốn mươi năm xa xứ được ông gói trong một câu:

“Bốn mươi năm… trôi nhanh như một thoáng.”

Nhưng phía sau “một thoáng” ấy là cả một đời người. Thơ ông không cầu kỳ cách tân, không phá vỡ cấu trúc truyền thống; ông viết theo nhịp cảm xúc tự nhiên, như trò chuyện. Cái đẹp trong thơ ông không nằm ở kỹ thuật mà ở sự chân thành.

Ở đó có một nỗi buồn, nhưng không phải nỗi buồn bi lụy. Đó là nỗi buồn của người từng “mộng vá trời” thuở trẻ, từng tin vào lý tưởng, từng nếm trải thất bại và mất mát, nhưng vẫn giữ được niềm tin vào giá trị của ký ức và yêu thương.

 

3. Nếu thơ Từ Vũ là tiếng lòng, thì truyện ngắn và truyện chuyển ngữ của ông lại cho thấy một tầng suy tư triết lý rõ rệt.

Trong câu chuyện thần tiên nước Văn Lang, hình ảnh cô gái với chậu hoa không nảy mầm được chọn làm hoàng hậu vì đã trồng được “HOA LƯƠNG THIỆN” là một ẩn dụ giản dị mà sâu sắc. Hạt giống đã bị diệt mầm - chỉ ai gian dối mới có hoa; người trung thực chỉ có chậu đất trống. Và chính sự trung thực ấy mới là loài hoa quý nhất.

Triết lý này được ông bày tỏ rõ hơn trong đoạn văn “Hoa không tên”:

“Nỗ lực tạo ra vẻ đẹp không phụ thuộc vào phong cách mà phụ thuộc vào chân lý… Những gì đẹp đẽ sẽ trường tồn.”

Đối với Từ Vũ, cái đẹp không phải là sự phô trương hình thức, mà là sự hài hòa giữa tâm hồn và hành động. Ông tin vào bản chất sáng tạo trong mỗi con người và tin rằng văn chương, trước hết, phải hướng thiện.

Trong một thế giới nhiều biến động, khi những giá trị bị đảo lộn, việc ông kiên trì nhắc đến “lương thiện” như một loài hoa đáng trân trọng cho thấy một lựa chọn rõ ràng: đứng về phía chân lý và lòng nhân ái.

 

4. Truyện ngắn “Mẹ con thằng Tuấn” có thể xem là tác phẩm tiêu biểu cho mạch tự sự của Từ Vũ. Viết theo lời kể của một bà mẹ, trộn lẫn ít nhiều ký ức thời thơ ấu của tác giả, câu chuyện tái hiện một giai đoạn lịch sử nhiều xáo trộn.

Hình ảnh cô Toan- người mẹ trẻ hiện lên như biểu tượng của sự kiên cường. Bị dồn ép, bị toan tính cướp mất đứa con bằng một tờ giấy đổi tên cha mẹ, cô vẫn giữ được bình tĩnh, đọc to văn bản trước mặt những người muốn lừa dối mình, rồi dứt khoát từ chối.

Ở đây, Từ Vũ không chỉ kể một câu chuyện gia đình. Ông đặt ra vấn đề căn tính: tên cha, tên mẹ trên giấy khai sinh không chỉ là thủ tục hành chính mà là sợi dây nối một con người với nguồn cội. Đứa trẻ bị trói vào chân ghế, bị hạch sách, gào khóc gọi mẹ, đó là hình ảnh của một thế hệ lớn lên trong bất an, trong những đứt đoạn đạo lý.

Nhưng truyện không kết thúc bằng bi kịch. Thằng Tuấn được đi học. Người mẹ giữ được con. Tình mẫu tử thắng mưu mô. Ở đó, một lần nữa, “hoa lương thiện” lại nở.

5. Dịch thuật và lòng trắc ẩn

Ở mảng truyện chuyển ngữ, Từ Vũ cho thấy một trái tim nhân ái. Đoạn phỏng dịch về cây thông Noel của Chúa Kitô dành cho những đứa trẻ nghèo, chết đói, chết rét, chết vì chiến tranh… không chỉ là bản dịch đơn thuần mà là sự đồng cảm sâu sắc.

Ông không né tránh đau thương. Nhưng ông không dừng lại ở mô tả bi kịch. Ông mở ra một không gian an ủi, nơi những đứa trẻ trở thành thiên thần, nơi các bà mẹ được gặp lại con mình. Văn chương ở đây trở thành nơi cứu rỗi tinh thần.

Ở tuổi nghỉ hưu nơi đất Pháp, Từ Vũ vẫn tiếp tục viết. Ông không ồn ào. Ông không tìm kiếm danh vị. Ông viết như một nhu cầu nội tâm, như cách giữ gìn một phần mình. Từ dòng dõi nhà Mạc đến đời sống lưu vong, từ chiến tranh đến công nghiệp châu Âu, từ thơ tình biển Nha Trang đến truyện ngắn về một đứa bé bị trói vào chân ghế. Tất cả hợp thành một chân dung nhiều lớp. Có thể nói, điều làm nên giá trị Từ Vũ không chỉ là tác phẩm, mà là thái độ sống. Ông tin vào cái đẹp gắn với chân lý. Ông tin vào lương thiện như một loài hoa. Ông tin rằng những gì đẹp đẽ sẽ trường tồn. Và có lẽ, chính niềm tin ấy đã giúp ông đi qua gần trọn một thế kỷ biến động mà vẫn giữ được tiếng Việt trong trẻo, ấm áp, không đứt đoạn. Giữa hai bờ biển: một bờ ký ức, một bờ hiện tại. Từ Vũ vẫn đứng đó, lặng lẽ gìn giữ ngọn lửa văn chương. Một ngọn lửa không bùng cháy dữ dội, nhưng bền bỉ. Một ngọn lửa của “hoa lương thiện”.

Saigon, ngày 12/02/2026
Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Hai 20241:35 SA(Xem: 24263)
Người ta thường chỉ nói về thơ Thanh Tâm Tuyền ở cái thời tuổi trẻ của ông, và gần như không có ai nói kỹ (hoặc tương đối kỹ) về tập “Thơ Ở Đâu Xa”, kết tinh bởi những bài thơ thời sau này của Thanh Tâm Tuyền, đặc biệt là thời ông đã đi qua những hào quang của tuổi trẻ mình, và cũng là thời mà ông đang đi vào, đang đi qua những hiện thực sống động nhất, theo một nghĩa nào đó, của thân phận con người, nói chung, và thân phận thi sĩ, nói riêng, của chính ông. Cũng có ý kiến cho rằng thơ Thanh Tâm Tuyền, trong giai đoạn này, chỉ là thơ thời khổ nạn, tù đầy, không có mấy điều đáng bàn. Ý kiến đó có lẽ nên được xét lại. Con người thi sĩ, đặc biệt những con người thi sĩ với chiều sâu và kích thước như của Thanh Tâm Tuyền, có thể tự thể hiện phong cách độc đáo của mình, tự khám phá hoặc đổi mới mình, trong tứ, trong từ, trong hình ảnh, suy tư mình, trên các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, tiết nhịp, điệu thức, thể loại… trong bất kỳ hoàn cảnh hiện sinh nào của họ.
25 Tháng Mười Hai 202310:41 CH(Xem: 23873)
Hàng năm vào dịp cuối năm, người Kitô hữu đón mừng sự kiện Chúa Giêsu giáng trần, mặc lấy thân xác con người để chuộc tội nhân loại, tội tổ tông đã lưu truyền từ Adam - thuỷ tổ loài người theo dân Do Thái - lúc còn ở địa đàng đã ăn phải trái cấm của Thiên Chúa do Eve dụ dỗ.
22 Tháng Mười Hai 202312:10 CH(Xem: 26987)
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối, Tìm Quê hương trên vết máu giữa đồng hoang: Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi, Từng con sông từng huyết lệ lan tràn…
07 Tháng Mười Một 20236:34 SA(Xem: 24663)
“…câu chuyện giáo sĩ Alexandre de Rhodes là câu chuyện cũ đã hơn 300 năm trước. Ông không sáng chế ra chuyện đánh vần tiếng Việt ra mẫu tự Bồ. Tôi nghĩ ông là một giáo sĩ tận tụy với nghiệp vụ truyền giáo, chỉ có điều kiến thức quá giới hạn của ông về văn hóa tôn giáo và con người Việt Nam làm tôi bực mình, và thèm khát một ngày mà những bất cập như vậy không còn sót lại nơi một giáo sĩ dù với đức tin nào. Tuy nhiên, phê phán nặng nề một giáo sĩ 300 năm trước là điều không nên, khi mà các giáo sĩ nói chung bấy giờ một phần vì giới hạn kiến thức, không có truyền thống kính trọng văn hóa địa phương. Nhưng ta tự nguyện tự lãnh một cái ơn tày đình với những giáo sĩ như De Rhodes cũng là chuyện không căn cứ. Có lẽ thỉnh thỏang ta nên đọc lại Phép Giảng Tám Ngày của ông ta để có một viễn cận phải chăng với câu chuyện.” (Mai Kim Ngọc).
01 Tháng Mười Một 202312:55 SA(Xem: 28047)
Hun Sen đã chính thức chuyển quyền cho con từ ngày 22/8/2023. Tuy Hun Manet là Thủ tướng mới nhưng Hun Sen vẫn có một ảnh hưởng gần như tuyệt đối từ phía sau hậu trường. Hun Sen viết trên trang Facebook – “Đây chưa phải là kết thúc. Tôi còn tiếp tục phục vụ ở những cương vị khác ít nhất cũng tới năm 2033” (tức là mười năm nữa, lúc đó Hun Sen 81 tuổi). Tìm hiểu về giới lãnh đạo bao gồm hai thế hệ Cha và Con của chính trường Cam Bốt hiện nay và ít ra trong 10 năm tới thiết nghĩ là điều rất cần thiết.
16 Tháng Mười 20234:16 CH(Xem: 27240)
Dự án “Funan Techo Canal” nhằm phục hồi một hệ thống đường thủy đã được xây dựng và vận hành từ triều đại Đế chế Funan-Khmer [sic] có từ khoảng 500 năm trước Công Nguyên. Công trình này nhằm cải thiện giao thông đường thủy trong lãnh thổ Cam Bốt. Con kênh này có chiều dài 180 km, kết nối 4 tỉnh: Kandal, Takeo, Kampot, và Kep. Mục đích chính của dự án này như một kết nối lại với lịch sử và nhằm cải thiện giao thông đường thủy cho các cộng đồng cư dân địa phương. Triển khai dự án này phù hợp với cam kết của Cam Bốt theo điều khoản 1 và 2 của Hiệp Định Sông Mekong 1995, với sự bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng những quyền hạn và các lợi ích chính đáng.(1) [trích Thông Báo của Cambodia gửi Ủy Ban Thư Ký Sông Mekong]
07 Tháng Mười 202311:06 CH(Xem: 26763)
...Mai Ninh, Trần Vũ, Lê thị Thấm Vân vẫn viết về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến đã qua. Trần Diệu Hằng với Vũ điệu của loài công, Mưa đất lạ và Chôm chôm yêu dấu vẫn là những tập truyện ngắn liên quan cuộc sống người tỵ nạn, đến tâm tình từ góc độ một người tỵ nạn. Lê thị Huệ với Bụi Hồng, Kỷ niệm với Mỵ Anh và Rồng rắn vẫn là những soi chiếu vào tâm tình những cảnh đời của nếp sống di dân qua hình ảnh cô sinh viên thuở trước và bây giờ. Nhưng người ta vẫn nhận ra đề tài về tính dục vẫn là nét trổi bật trong các truyện của các nhà văn kể trên (trừ Trần Diệu Hằng). Thứ văn chương với đề tài có xu hướng trổi bật về tính dục đã mở đầu như một thứ cách mạng tình dục trong tiểu thuyết. Trước đây thì cũng có Tuý Hồng, Lệ Hằng, Thụy Vũ... cũng đậm mà chưa đặc, chưa đủ mặn. Ai là người đánh trống, cầm cờ về đề tài này? Có thể là Trần Vũ, Trân Sa hay Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Trường An và nhất là Lê thị Thấm Vân. Truyện sẽ không viết, sẽ không đọc, nếu không có trai gái.
12 Tháng Chín 202312:43 SA(Xem: 31193)
Hai câu trên nằm trong bài thơ mang tên “Lễ Phục Sinh 1916” của William Butler Yeats. Bài thơ nhằm tưởng nhớ tới những người đã ngã xuống cho tự do và độc lập của Ireland. Cuộc hành quyết đẫm máu các thủ lĩnh cách mạng sau cuộc trỗi dậy vào ngày lễ phục sinh đã đánh thức cả một thế hệ Ireland. Cuối cùng, nhân dân Ireland cũng dành được độc lập vào năm 1949 và bài thơ của Yeats được cho là một trong những bài thơ chính trị hay nhất của thế kỷ 20 trong lịch sử văn học nước Anh.
04 Tháng Chín 20238:30 CH(Xem: 29361)
Trong ngót hai chục phim truyện điện ảnh tham dự tranh Giải Cánh Diều năm nay của Hội Điện ảnh VN, có thể nói “Em & Trịnh” là một tác phẩm hoành tráng bậc nhất. Và cũng cần phải thẳng thắn điều này: những người làm “Em & Trịnh” đã rơi vào cả hai tình huống đặc biệt của Điện ảnh: a. thực hiện một bộ phim chân dung vốn đầy thử thách, b. đặc biệt là phim ca nhạc sẽ cực kỳ khó khăn về các yếu tố kỹ thuật!
10 Tháng Bảy 20231:55 CH(Xem: 30185)
PHỤ NỮ GIỮA CHIẾN TRANH VIỆT NAM: THỜI ĐIỂM 1969 Tầm nhìn Chiến tranh, Giấc mơ Hòa bình [Visions of War, Dreams of Peace] [1] là nhan đề một tuyển tập thơ của các nhà thơ nữ; nếu là Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, họ đã là những nữ quân nhân như y tá, bác sĩ đã từng chăm sóc các thương bệnh binh; nếu ở những ngành nghề khác, họ đảm trách các dịch vụ không tác chiến như chuyên viên truyền tin, tiếp vận, kiểm soát không lưu, nhân viên Hồng Thập Tự... Nếu là người Việt, họ là những phụ nữ thuộc hai miền Nam hay Bắc, với những trải nghiệm khác nhau, qua những năm tháng chiến tranh. Và như từ bao giờ, cho dù ở đâu, phụ nữ và trẻ em vẫn là thành phần dễ bị tổn thương nhất trong chiến tranh. Trong tập thơ này, có 34 nhà thơ nữ Hoa Kỳ, và sáu nhà thơ nữ Việt Nam: Xuân Quỳnh (My Son’s Childhood), Hương Tràm (The Vietnamese Mother), Hà Phương (To An Phu, From This Distance I Talk To You), Trần Mộng Tú (The Gift In Wartime, Dream of Peace), Minh Đức Hoài Trinh..., Nguyễn Ngọc Xuân...