- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Nghịch Lý Của Một Lý Tưởng: Khi Vô Sản Trở Thành Ngôn Ngữ Của Đặc Quyền

10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 9922)
nga BA duong-bw
Ngã Ba Đường - ảnh Đặng Hiền


** NGHỊCH LÝ CỦA MỘT LÝ TƯỞNG

KHI VÔ SẢN TRỞ THÀNH NGÔN NGỮ CỦA ĐẶC QUYỀN**

 

Tác giả: Minh Hạo
Ngày viết: 10.02.2026

____________________

LỜI DẪN BIÊN TẬP

Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm.

TẠP CHÍ HỢP LƯU


MỞ BÀI

Có một câu nói đùa truyền miệng: khi cả thế giới rời bỏ lý tưởng cộng sản, Việt Nam sẽ một mình cưu mang lý tưởng ấy và tiếp tục dẫn dắt nhân loại tiến lên chủ nghĩa xã hội. Câu nói nghe qua thì buồn cười, nhưng cười xong lại thấy buồn. Bởi trong đó không chỉ có châm biếm, mà có cả một nghịch lý lịch sử chưa được gọi tên.

Nghịch lý ấy không nằm ở việc lý tưởng thất bại, mà ở chỗ: lý tưởng vẫn được nhân danh trong khi nội dung của nó đã đổi khác. Để hiểu nghịch lý này không phải bằng cảm xúc mà bằng cấu trúc, cần một phân biệt sơ bộ giữa dân chủ, kỹ trị và độc đoán.


Dân chủ, Kỹ trị và Độc đoán: một khung phân biệt cần thiết

Để hiểu nghịch lý của một lý tưởng vẫn được nhân danh nhưng đã rút lui khỏi thực hành, cần phân biệt ba hình thức tổ chức quyền lực thường bị trộn lẫn trong thảo luận công khai: dân chủ, kỹ trị và độc đoán.

Dân chủ là nguyên tắc trong đó quyền lực chính trị bắt nguồn từ nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Cốt lõi của dân chủ không nằm ở hiệu quả quản lý, mà ở khả năng thay thế quyền lực một cách hòa bình, cũng như quyền được bất đồng mà không bị xem là mối đe dọa. Tranh luận và xung đột trong dân chủ không phải là dấu hiệu suy yếu, mà là biểu hiện của một xã hội còn vận động.

Kỹ trị, trái lại, không phải là một chế độ chính trị mà là một phương thức quản lý. Nó trao quyền quyết định cho chuyên gia, dựa trên dữ liệu, kỹ thuật và tiêu chí hiệu quả. Trong logic kỹ trị, xã hội được nhìn như một hệ thống cần tối ưu, nơi tranh luận chính trị bị xem là yếu tố gây nhiễu. Kỹ trị không đòi hỏi niềm tin của công dân, mà chỉ cần sự tuân thủ.

Độc đoán xuất hiện khi quyền lực tập trung vào một cá nhân hoặc nhóm nhỏ và không còn chịu sự kiểm soát thực chất từ xã hội. Bất đồng khi đó bị đồng nhất với bất ổn, còn chính danh được duy trì bằng cưỡng chế, truyền thống hoặc ý thức hệ.

Vấn đề của nhiều xã hội đương đại không nằm ở việc thiếu dân chủ hay thừa kỹ trị, mà ở chỗ kỹ trị được sử dụng để thay thế dân chủ, và các quyết định mang bản chất chính trị lại được ngụy trang như những tất yếu kỹ thuật. Khi đó, độc đoán không cần xuất hiện trong hình thức cứng rắn; nó vận hành mềm mại, thông qua quản trị, ổn định và sự im lặng kéo dài của xã hội.


KHI LÝ TƯỞNG KHÔNG CÒN LÀ MỤC TIÊU, MÀ LÀ NGÔN NGỮ

Chủ nghĩa cộng sản, trong hình hài ban đầu, là một lời hứa đạo đức: xóa bỏ bóc lột, thu hẹp bất bình đẳng, giải phóng con người khỏi sự thống trị của tư bản. Nhưng trong thực tiễn lịch sử, rất ít xã hội có thể duy trì lý tưởng ấy như một chương trình hành động lâu dài.¹

Điều xảy ra phổ biến hơn là: lý tưởng rút lui khỏi thực hành, nhưng vẫn ở lại trong diễn ngôn.

Ở Việt Nam hôm nay, chủ nghĩa cộng sản không còn vận hành như một dự án tái cấu trúc xã hội, mà như một ngôn ngữ chính danh. Nó không trả lời câu hỏi “chúng ta sẽ xây dựng xã hội nào?”, mà trả lời câu hỏi “ai có quyền nói thay cho lịch sử?”. Khi đó, lý tưởng không còn để thực hiện, mà để bảo đảm tính liên tục của quyền lực.²


VÔ SẢN TRONG NGÔN TỪ, TÍCH LŨY TRONG THỰC TẾ

Một trong những mỉa mai lớn nhất là: trong khi đời sống của phần đông dân chúng vẫn chật vật, thì tầng lớp nắm quyền lực nhân danh “vô sản” lại ngày càng giàu có. Hiện tượng này thường bị quy về “tha hóa cá nhân” hay “phản bội lý tưởng”.

Nhưng vấn đề sâu hơn nằm ở cấu trúc quyền lực. Khi không tồn tại cơ chế kiểm soát chính trị thực chất, quyền lực đồng thời là quyền tiếp cận tài nguyên. Sự giàu có khi ấy không còn là lệch chuẩn, mà là hệ quả có thể dự đoán của hệ thống.³ Trong bối cảnh đó, lý tưởng vô sản không giới hạn quyền lực, mà che chở cho sự tích lũy của quyền lực.


HẬU Ý THỨC HỆ: KHI NIỀM TIN KHÔNG CÒN CẦN THIẾT

Một đặc điểm của các xã hội hậu dân chủ là: hệ thống không còn đòi hỏi công dân phải thực sự tin vào lý tưởng chính thức. Điều cần thiết không phải là niềm tin, mà là sự chấp nhận trật tự hiện tại.⁴

Chính trị dần bị thay thế bằng quản trị; tranh luận bị thay thế bằng lời kêu gọi ổn định. Bất bình đẳng không còn là vấn đề chính trị, mà là “hệ quả phát triển”. Phản biện không còn là quyền công dân, mà là “nhạy cảm xã hội”.


DÂN CHÚNG KHỔ, NHƯNG VÌ SAO HỆ THỐNG VẪN ĐỨNG?

Khổ không tự động dẫn đến thay đổi. Các hệ thống hậu dân chủ tồn tại không phải vì chúng công bằng, mà vì chúng quản lý bất công đủ hiệu quả để tránh đổ vỡ.⁵ Khi kỳ vọng bị hạ thấp và bất công được bình thường hóa, xã hội học cách chịu đựng thay vì đòi hỏi.

Đó không phải là đồng thuận, mà là thích nghi kéo dài.


**NGHỊCH LÝ CUỐI CÙNG:

KHI LÝ TƯỞNG GIẢI PHÓNG TRỞ THÀNH CÔNG CỤ IM LẶNG** 

Điều đáng lo không phải là lý tưởng không còn được thực hiện, mà là: lý tưởng từng dùng để giải phóng, nay được dùng để kết thúc tranh luận. Khi mọi câu hỏi về hiện tại đều bị trả lời bằng quá khứ, lý tưởng đã hoàn tất sự đảo ngược chức năng của mình.⁶

Nó không còn mở ra tương lai.
Nó đóng lại hiện tại.


KẾT LUẬN

Không có chế độ nào là muôn năm. Nhưng cũng không có xã hội nào tự vượt qua nghịch lý của mình nếu không dám gọi tên nó. Viết để hiểu không phải là chống đối, mà là một nỗ lực giữ cho lý trí còn hoạt động trong một không gian chính trị ngày càng khép kín.

Nếu lý tưởng chỉ còn tồn tại như biểu tượng, thì câu hỏi không phải là “có nên giữ hay bỏ”, mà là: xã hội sẽ dựa vào điều gì để tự điều chỉnh chính mình?


CHÚ THÍCH

  1. Karl Marx, Economic and Philosophic Manuscripts of 1844.
  2. Claude Lefort, Democracy and Political Theory.
  3. Mancur Olson, Power and Prosperity.
  4. Colin Crouch, Post-Democracy.
  5. James C. Scott, Seeing Like a State.
  6. Hannah Arendt, The Origins of Totalitarianism.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Hai 20203:57 CH(Xem: 41161)
Việt tộc, nếu tính từ khi lập quốc tại Phong Châu, trong vài ngàn năm tiến về phương Nam, hiện tiếp tục ra đi tới khắp các nẻo đường thế giới, đã tiếp cận hầu hết các nền văn minh nhân loại. Từ hậu Lê, suốt 500 năm biến động đầy sóng gió, với tình hình hiện nay, có thể xem như chúng ta đang ngày càng rời xa khỏi đạo thống Tiên Rồng trải từ thời Hùng Vương đến hai triều đại Lý-Trần, giờ lại còn bị đe dọa tiêu diệt bởi chủ thuyết Mác-Lê. Việt Nam tuy được xem như đã hội tụ hầu hết các tôn giáo và các nền văn minh lớn trên thế giới (Phật, Lão, Khổng, Cơ đốc; Hoa, Ấn, Tây), chúng ta vẫn chưa định hình được một nền văn hoá đặc thù làm nền tảng nhằm thoát Trung, bỏ Cộng để xây dựng đất nước.
16 Tháng Hai 20203:47 CH(Xem: 45217)
Khởi đầu một năm mới đầy biến động, trước anh linh người vừa khuất tôi xin được dâng lên lời cầu nguyện. Nguyện cho mỗi chúng ta từ nay sẽ không là kẻ vô can và ngưng đóng vai khán giả. Bởi tất cả chúng ta dù đang ở vị trí nào hay sinh sống ở nơi đâu đều gắn kết cùng nhau chung một số mệnh - Số mệnh của dân tộc Việt Nam.
25 Tháng Giêng 202011:50 CH(Xem: 38014)
Rồi nhìn về phía Nhà nước, với bao nhiêu công trình xây cất lãng phí hàng tỷ USD, điển hình như cống đập Cửa Ba Lai và các hệ thống ngăn mặn cùng khắp ĐBSCL, có thể nói là một thất bại toàn diện. Sau bài học thất bại của cống đập Ba Lai, và rồi sắp tới đây, là một công trình khác lớn hơn thế nữa: Cái Lớn Cái Bé. Nhà nước nên có sáng kiến thực tiễn hơn: dùng số tiền tỷ USD ấy để xây dựng những dự án thật sự công ích. Khởi đầu là một tỷ USD cho xây một nhà máy khử mặn / Desalination Plant, một tỷ đồng khác xây dựng một nhà máy thanh lọc nước thải / Waste Water Treatment Plant, đó là những gì khẩn cấp nhất mà 20 triệu cư dân ĐBSCL đang thiếu nước ngọt giữa cơn hạn ngập mặn và nguồn nước ô nhiễm trầm trọng như hiện nay. Đó mới thực sự là bước công nghiệp hoá chứ không phải với những túi nhựa chứa nước ngọt đang bán ra cho nông dân mà vẫn được gán cho danh hiệu Công trình Khoa Học & Công Nghệ Cấp Nhà Nước.
23 Tháng Giêng 202012:07 SA(Xem: 44739)
Tiếng khóc ai oán của chị Nhung con cụ Lê Đình Kình - người bị lực lượng cưỡng chế giết chết ở Đồng Tâm - như một nhát dao xuyên suốt tất cả trái tim những ai lắng nghe nó. Cho dù họ là người của chính quyền hay các nhà hoạt động, những người khác hẳn nhau về chính kiến.
14 Tháng Giêng 20205:59 CH(Xem: 42246)
Bài viết này gửi tới 92 vị Đại biểu Quốc hội của 13 tỉnh Miền Tây, mà chúng tôi kỳ vọng quý vị như một toán đặc nhiệm – task force, trong quyền hạn có thể phản ứng nhanh, tạo bước đột phá, tránh được một sai lầm chiến lược trong lưu vực sông Mekong và cả cứu nguy ĐBSCL – vùng mà các vị đang đại diện.
27 Tháng Mười Một 20196:16 CH(Xem: 43178)
Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Phúc lợi và Phát triển Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lần thứ 10 tại thủ đô Vientiane, ông Khampheng Saysompheng nêu rõ vào khoảng 4 giờ sáng và 7 giờ sáng ngày 21 tháng11 đã xảy ra hai trận động đất độ lớn lần lượt là 5.9 và 6.1 tại huyện Saysathan, tỉnh Xayaburi, giáp biên giới Thái Lan. Ông Saysompheng nói thêm đây là trận động đất mạnh hiếm có và rất nhiều năm mới xảy ra tại Lào.
16 Tháng Mười 20193:08 CH(Xem: 43300)
Ngày 31/07/2019 chính phủ Lào chính thức gửi hồ sơ tới Ủy Hội Sông Mekong / MRC về dự án xây con đập dòng chính Luang Prabang với yêu cầu tiến hành thủtụcPNPCAba giai đoạn: (1) Thủ tục Thông báo / Procedures for Notification, (2) Tham vấn trước / Prior Consultation, (3) Chuẩn thuận / Agreement. Thay vì ra thông báo ngay,MRC đã trì hoãn 7 tuần lễ saumới đưa ra thông cáo báo chí về sự kiện này.Đến ngày 25/09/2019, MRC đãbào chữa cho quyết định im lặng 7 tuần lễ với lý do: “Thông báo của Lào gửi tới chưa đầy đủ để có thể tiếp cận với phần tổng quan của dự án / project overview và lộ trình tham khảo / roadmap for consultation, giúp quần chúng hiểu tốt hơn về dự án và tiến trình tham vấn.” Cũng vẫn ban Thư ký MRC giải thích tiếp,“Học được từ kinh nghiệm, lần này chúng tôi có kế hoạch thông báo chính thức khi có đủ những tài liệu cần thiết để quần chúng và các bên liên quan / stakeholders có thể khảo sát và đóng góp ý kiến cho tiến trình tham vấn thêm ý nghĩa.
27 Tháng Chín 20199:49 CH(Xem: 44784)
Cho dù tên tuổi TNS Jim Webb đang được sôi nổi nhắc tới qua sự kiện lễ vinh danh và an táng 81 bộ hài cốt các tử sĩ Nhảy Dù VNCH vào 26/10/2019 sắp tới – cũng là ngày Quốc Khánh của nền Đệ Nhất Cộng Hòa VN – nhưng với người viết thì Jim Webb còn là một khuôn mặt nổi bật trong giới lập pháp Hoa Kỳ từ hơn một thập niên trước, như một advocate có tiếng nói mạnh mẽ bảo vệ con sông Mekong và cư dân lưu vực:“Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới có một cam kết chiến lược và nghĩa vụ tinh thần nhằm bảo vệ sức khỏe và an sinh của cư dân sống phụ thuộc vào con sông Mekong với nguồn tài nguyên và nếp sống của họ.”Senator Jim Webb’s Press Releases 12/ 08/ 2011.
23 Tháng Tám 20199:39 CH(Xem: 45425)
Vậy mà đã 62 năm kể từ khi Liên Hiệp Quốc khai sinh Ủy Ban Sông Mekong [1957] và cũng đã 24 năm từ ngày thành lập Ủy Hội Sông Mekong[1995]. Tính đến nay 2019, Bắc Kinh đã xây xong 11 con đập thủy điện khổng lồ / mega-dams (6,7) chắn ngang dòng chính sông Lancang Jiang, tên Trung Quốc của con Sông Mekong chảy trong lãnh thổ TQ với lượng điện sản xuất đã lên tới 21,300 MW và TQ vẫn đang tiếp tục xây thêm 19 con đập khác; Thái Lan ngoài các con đập phụ lưu, còn có kế hoạch chuyển dòng lấy nước từ sông Mekong, và nay hai nước Lào và Cambodia còn có thêm dự án 12 đập dòng chính hạ lưu. Ngoài ra còn hàng trăm con đập phụ lưu đã và đang xây trên khắp lưu vực Sông Mekong, kể cả trên Cao nguyên Trung phần Việt Nam.
23 Tháng Tám 20197:53 CH(Xem: 46382)
Cách đây không lâu, tôi đọc được bài viết “Ảnh hưởng của thơ Đường đối với thơ mới” của TS Nguyễn Xuân Diện và Trần Văn Toàn trên Tạp chí Hán Nôm số 3 (36) năm 1998, trang 46-53, đăng lại trên blog của tác giả Nguyễn Xuân Diện (http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/10/anh-huong-cua-tho-uong-oi-voi-tho-moi.html). Phải nói đây là một bài viết công phu, tuy chưa lý giải thấu đáo đến mọi khía cạnh của vần đề. Một số vấn đề cần có sự trao đổi thêm. Trước mắt, tôi xin có một vài nhận xét.