- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

MỪNG VÀ TIẾC CHO PHIM QUÁN KỲ NAM

08 Tháng Mười Hai 20258:55 CH(Xem: 11437)
QUÁN KỲ NAM


MỪNG VÀ TIẾC CHO PHIM QUÁN KỲ NAM

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

Câu chuyện phim giản dị diễn ra ở một khu chung cư cũ ở Sài Gòn vào thập niên 1980. Hai nhân vật chính: 1. Kỳ Nam, nguyên nữ sinh trường Tây và là vợ góa của một sĩ quan tâm lý chiến quân đội VNCH, từng nổi tiếng trên báo chí và truyền hình về tài dạy nữ công gia chánh. Sau 1975, trong căn bếp nhỏ tại Chung cư, Kỳ Nam sinh sống bằng việc nấu cơm tháng và có lúc nấu cả cỗ cưới; 2. Khang - người thuê nhà mới, một chàng trai đang nhận dịch lại tác phẩm “Hoàng tử bé” của nhà văn phi công Pháp Saint–Exupéry, sau bản dịch của thi sĩ Bùi Giáng đã xuất bản tại Sài Gòn trước 1975… Giữa những bề bộn đời sống, vượt lên tâm lý thóc mách, đố kỵ, ghen ăn tức ở của hàng xóm, Kỳ Nam và Khang đã đến với nhau trong sự đồng cảm thầm lặng mà sâu sắc – một thứ tình cảm cao hơn tình yêu trai gái thông thường… Phim không có những cuộc trình diễn cầu kỳ điệu nghệ về góc quay - động tác máy - cỡ cảnh, chuyện phim chỉ xoay quanh những mẩu đời thường quen thuộc thậm chí nhàm chán, song Quán Kỳ Nam đã tạo nên một không gian sống chân thực và nhiễm cảm của Sài Gòn thời bao cấp khốn khó mà nhiều thế hệ người có thể tìm thấy mình trong đó… Chất trí thức trong phim khá rõ, tâm lý nhân vật được triển khai một cách khá tinh tế qua lời thoại, diễn xuất, đạo cụ mang ý nghĩa biểu tượng, qua đường dây câu chuyện có nhiều nhân vật phụ tưởng rối rắm rời rạc song lại có gắn kết nội tại – theo khuynh hướng tiểu thuyết-điện ảnh (ciné-roman) trong văn học Pháp nửa sau thế kỷ XX mà ở nước ta người tiên phong là đạo diễn Đặng Nhật Minh với tập truyện phim Hoa Nhài… Trong Quán Kỳ Nam, đài từ nhân vật khá chuẩn. Dàn diễn viên từ chính, thứ chính đến phụ đều thể hiện vai một cách tự nhiên, chinh phục được cả những khán giả khó tính nhất… Chất liệu phim nhựa kinh điển cũng góp phần tạo ra tông màu và độ nét luôn có chất douce (êm dịu) trong mọi luồng ánh sáng góp phần tạo nên sức ám ảnh kỳ lạ của Nàng Tiên thứ Bảy suốt hơn thế kỷ qua trên thế giới mà Kỹ thuật số (KTS) hiện đại nhất cũng chịu thua!* Nếu những khán giả quen và thích loại phim có những hình ảnh rực rỡ nét căng, có kịch tính xung đột mạnh, có tiết tấu nhanh, có những cú sốc tâm lý, có lời la hét tranh luận hay dạy dỗ đến kịch kim thu thanh của nhân vật tựa uống thuốc doping… thì chắc chắn sẽ thấy phim này Nhạt, Nhàm, Loãng…

Dễ hiểu vì sao bộ phim đã được không ít cây bút có uy tín trong Nam ngoài Bắc trân trọng, khen ngợi hết lời. Tôi hoàn toàn nhất trí với những đánh giá, nhận xét đó và vô cùng cảm phục, kính trọng thái độ công tâm của người viết phê bình trước lao động nghệ thuật nghiêm túc nhiều sáng tạo của những người làm bộ phim này. Ở đây, với tư cách là một khán giả đang làm nghề và có tham gia vào công việc đào tạo nghề, tôi chỉ xin có đôi trăn trở nuối tiếc với Quán Kỳ Nam, tuy có thể là rất chủ quan song chắc có chút ý nghĩa nào đó với những người làm phim Việt trẻ hôm nay.

Về kịch bản – scenario film, thấy rõ là của một tác giả có nghề, và dám dũng cảm đi trực diện vào một đề tài hết sức “nhạy cảm” chưa từng xuất hiện trên phim ảnh: nỗi đau con lai và nỗi đau vượt biên, cùng đó là những bối cảnh & câu chuyện tái dựng bữa tiệc sinh nhật bị công an phường lập biên bản, viên sĩ quan cải tạo không biết bao giờ trở về, ông già tư sản bị tịch biên tài sản, đứa con lai bị kỳ thị - bị mua bán, những cuộc “tra tấn” bằng tuyên truyền loa phường, lời cảnh báo của giám đốc xuất bản về việc quan hệ với những đối tượng “không trong sạch”, những người bỏ xác trên biển khi giấc mơ vượt biên sang Thế giới Tự do không thành, chuyện đổi tiền, chuyện gửi gắm cho “con ông cháu cha”… Để được duyệt làm phim và phát hành, các nhà làm phim đã buộc phải làm “nhạt” đi, làm “chìm” đi những yếu tố chính trị - xã hội vốn nổi cộm hàng chục năm nay trong cả bên Thắng cuộc lẫn bên Thua cuộc; chính bởi vậy, nhân vật trọng tâm là Kỳ Nam buộc phải “hy sinh” những bi kịch nội tâm giằng xé đau đớn cần được miêu tả để khỏi trở thành một “cái bóng” của nhân vật như hiện trạng trong phim! Tôi thấy ngậm ngùi cho nhân vật và các nhà làm phim khi một nhân vật cần có một sức nặng tâm lý “nặng đô” như vậy, một người thất cơ lỡ vận phải chấp nhận mất mát bằng cách nén lòng xuống tận đáy để bình thản sống, chờ đợi, hy vọng và thầm yêu, mà lại chỉ xuất hiện từ đầu tới cuối phim hầu như là một cái cớ để nhân vật Khang tìm chỗ dựa cho ước mơ, khát vọng, đồng cảm của anh… Cái “chừng mực” trong nghệ thuật biểu hiện ở đây được nhiều lời khen ngợi chân thành hóa ra lại thành sự “chơi vơi”, sự hẫng hụt, sự “chưa tới” của một hình tượng điện ảnh chứa nhiều tham vọng tốt đẹp của người làm phim! Bởi vậy, sự “cảm hóa” của nhân vật bởi Tình người được thi vị hóa và bay bổng thêm qua các trang sách dịch văn học thiếu nhi kinh điển lại biến thành sự “thêm muối thêm mắm” cho dậy mùi chứ khó có thể lắng sâu vào đáy số phận nhân vật và lay động tâm hồn người xem một cách thực sự! Cuối phim mới có cảnh rất quan trọng là Kỳ Nam ngôi trên bãi biển, thắp hương và cùng con trai và Khang tưởng ngóng về những người đã bỏ mạng oan ức – trong đó có một người con trai của Kỳ Nam; song cảnh này, vì nằm trong ý đồ “dìm hàng” như đã nói, nên đã trở nên vá víu, lạc lõng, bật ra khỏi bộ phim một cách oan uổng! 

Nhân vật Khang cũng chịu một số phận tương tự trong hành trình nghệ thuật phim ảnh: Anh chàng chỉ biết đến sách vở, mang nhiều nét của Chúa Cứu thế hay nhân vật Hoàng thân Mưskin của Dostoyevsky cùng diễn xuất nổi bật hơn hẳn diễn viên đóng vai Kỳ Nam, lẽ ra sẽ là một nhân vật có khả năng ám ảnh và sức sống lâu bền khi người làm phim dường muốn tạo ra câu chuyện Cổ tích giữa đời bề bộn sắt thép máu lửa, nhưng buồn thay, “lý lịch tâm lý” của anh vốn đã mỏng manh, lại gắn với “cái bóng” Kỳ Nam nên anh vô tình trở thành sự “minh họa” – dù là “minh họa” một cách khéo léo – cho ý đồ nghệ thuật mà nền tảng đời sống - tư tưởng quan trọng của toàn phim bị bào mòn bởi kiểm duyệt và tự kiểm duyệt!

Những triết lý được “lẩy” ra từ cuốn sách dịch nọ và sách vở khác đưa vào các câu thoại, tuy có phần gượng gạo, song cũng coi là tạm được – nhất là khi chú bé lai lần đầu được đọc sách qua bản thảo dịch một cách say mê và tìm thấy trong mơ ước của nhân vật Hoàng tử bé sự hứa hẹn giúp số phận chú bớt hẩm hiu. Nhưng tôi thiển nghĩ, cái cần khai thác hơn cả ở cuốn sách đó chính là số phận của dịch giả thứ nhất - thi sĩ Bùi Giáng, ông cần trở thành một “nhân vật” không xuất hiện để tạo ra cái nền tri thức đích đáng và cầu nối đồng điệu giữa hai nhân vật Kỳ Nam – Khang về tình yêu văn chương nghệ thuật và lòng trắc ẩn với cái đẹp, với tình người trong gian nan thử thách. Việc cho nhân vật Bùi Giáng xuất hiện giữa chợ, với hình dáng kỳ dị đến thảm hại và chiếc còi trên môi, dù là có thực, song ở phim lại hóa ra một bức tranh bi hài đặt không đúng chỗ, phá hỏng mỹ cảm chung của toàn phim mà người làm phim đã có nhiều cố gắng trau chuốt…

Về âm nhạc của bộ phim, ngoài một, hai bài hát cũ có khả năng làm nền cho tâm trạng khá hữu ích, thì toàn bộ nhạc phim phải nói thẳng là rất yếu kém! Có tác giả đã so sánh Quán Kỳ Nam với bộ phim In the Mood for Love (Tâm trạng khi yêu) của đạo diễn Hồng Kông Vương Gia Vệ, còn tôi cho rằng, chỉ riêng phần nhạc phim thôi đã thấy Quán Kỳ Nam và Tâm trạng khi yêu là hai đẳng cấp nghệ thuật khác biệt rồi!

Nhưng, nói đi nói lại, Quán Kỳ Nam  vẫn là một bộ phim đáng xem nhất hiện nay bởi, có nhiều sáng tạo nghệ thuật khá kỳ công của ê-kip làm phim, đặt được một mốc mới đáng kể cho nền Điện ảnh Việt đang nỗ lực để sớm có mặt trên Bản đồ Điện ảnh thế giới!

__________

* Nói thêm chút ít về phim nhựa:
Mấy năm nay, điện ảnh toàn thế giới đã chuyển sang quay bằng Kỹ thuật số, chi phí sản xuất và thời gian sản xuất phim giảm đáng kể! Chỉ một số ít đạo diễn của vài nền Điện ảnh lớn mới dám quay bằng phim nhựa. Cũng có một số đạo diễn nước ngoài sau khi phim mình đã quay bằng KTS đã thuyết phục được nhà sản xuất cho chuyển ngược bộ phim đã hoàn thiện sang phim positif – dương bản để phát hành. Quán Kỳ Nam được quay bằng phim nhựa lúc này chứng tỏ người làm phim và nhà sản xuất hết sức “chịu chơi”, hiểu được ý nghĩa của những cảnh quay trong mối quan hệ với Kỹ thuật truyền thống theo kiểu quảng bá của hãng máy ảnh Leica danh tiếng của Đức: “Nếu bạn dùng đến Leica thì trước hết đừng nghĩ mình có đủ tiền chưa mà xem mình có đủ tư cách xử dụng nó hay không?”

 

Đạo diễn MA NAT

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Ba 201910:26 CH(Xem: 51524)
Hơn hai trăm năm trước, trong một cuộc “Bắc hành”, đại thi hào Nguyễn Du đã viết tới tám bài thơ chữ Hán về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên. Trong “tòa lâu đài” thơ chữ Hán Nguyễn Du (Mai Quốc Liên), có một mảng thơ rất quan trọng là nói về các danh nhân văn hóa - lịch sử, đặc biệt là về các bậc thầy văn chương Trung Hoa. Tám bài thơ nói trên mà chúng tôi sẽ khảo sát có trữ lượng suy tưởng - cảm xúc cực kỳ phong phú, sâu sắc, cho thấy cả trái tim lớn của đại thi hào nước Việt dành cho một nhà thơ-nhà ái quốc vĩ đại của Trung Hoa cổ xưa, đồng thời thể hiện bút pháp siêu việt của Nguyễn Du trong khả năng khám phá chiều sâu tâm hồn bản thân lẫn đối tượng miêu tả, trong sự sáng tạo về nghệ thuật ngôn từ của một nhà văn-nghệ sĩ Việt Nam kiệt xuất thời Trung đại.
05 Tháng Ba 20198:59 CH(Xem: 50652)
Huế là xứ thơ. Có lẽ do các yếu tố lịch sử, phong cảnh và nếp sống, vùng đất sông Hương núi Ngự là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ – cả nổi tiếng lẫn khét tiếng. Nếu kể hết tên, chắc chắn sẽ thiếu sót. Bài này chỉ viết lơn tơn – không phải với mục đích phê bình văn học hoặc tài liệu giáo khoa gì ráo – về hai tác giả mà cuộc đời và sự nghiệp có những liên hệ oái oăm về thân tộc và chỗ đứng của họ trên văn đàn và trong lòng độc giả.
24 Tháng Giêng 201911:51 CH(Xem: 48418)
Lâu nay, trong tiếng gào khóc của người dân oan khắp ba miền đất nước, hoà trong nước mắt bao giờ cũng có những kể lể, trách mắng, đầy phẫn uất với tiếng “nó”: nó đến kìa; nó rình rập; nó ác lắm;… hay chúng nó tàn nhẫn lắm!
03 Tháng Giêng 201911:15 CH(Xem: 58377)
Chữ Nghiệp mang sắc thái đạo Phật đó được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học phân tích khá kỹ lưỡng, xoay quanh thuyết Thiên mệnh hay Định mệnh, thuyết Nghiệp báo - Nhân quả chủ yếu để nói về thân phận nhân vật nàng Kiều. Nhưng thiết nghĩ, hai câu thơ ấy, đầu tiên phải vận dụng ngay cho chính tác giả của nó. Cái Nghiệp đó, đối với Nguyễn Du, từ thời trai trẻ, đã được ông coi như “án phong lưu” mà ông phải tự nguyện mang tới suốt đời! (Phong vận kỳ oan ngã tự cư)(2). Nghiệp gì vậy? Có điều gì hệ trọng và thống thiết buộc Nguyễn Du phải bật lên lời tự vấn về giá trị sự tồn tại của ông trong cõi đời phù du này khiến nhiều thế hệ người Việt Nam phải xúc động và gắng tìm hiểu nguyên do: Trước khi chết còn lo mãi chuyện nghìn năm (Thiên tuế trường ưu vị tử tiền. Mộ xuân mạn hứng) - Không biết hơn ba trăm năm sau, Thiên hạ ai là người khóc Tố Như? (Bất tri tam bách dư niên hậu/Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. Độc tiểu thanh ký).
14 Tháng Mười Hai 201810:00 CH(Xem: 55273)
Này nhé, lấy cảm hứng, phỏng theo, hay gì gì đó mà không ghi nguồn thì tức là cầm nhầm bài thơ, dù có biện hộ thế nào đi nữa cũng nói lên "đạo đức và tư cách " của cái việc cầm nhầm. Tài năng như khói, danh vọng như mây, nếu không muốn thiên hạ biết thì đừng có làm như cố tình quên.
12 Tháng Mười Hai 20188:24 CH(Xem: 52635)
Hình như vào thời điểm đến tuổi "Thất Thập Cổ Lai Hy" nhạc sĩ Phú Quang trí nhớ có "vấn đề". Nhất là những ca khúc của ông phổ từ thơ của các thi sĩ. Trong đêm nhạc được tổ chức ở Nhà Hát Lớn Hà Nội vào ngày 26-27/12/2018. (Đêm Nhạc Phú Quang "Trong Miền Ký Ức"), ông đã nhắc đến những trận Bom B52 đã làm cho ngôi nhà cha mẹ của ông đổ sập...ở trong LỜI TỰA bài viết quảng cáo cho show ca nhạc của ông. Nhưng theo danh sách các nhạc khúc của ông, tôi không nghe bài nào có tiếng bom B52 cả...
06 Tháng Mười Hai 201810:26 CH(Xem: 50240)
Người Việt ta xưng hô ai đó là “ông” để bày tỏ lòng kính trọng, và gọi bằng “thằng” những kẻ hèn hạ đáng khinh. Lịch sử ta chép rằng một trong những truyền thống của người Việt cổ là tín ngưỡng thờ cúng các vị anh hùng, thũ lĩnh. Người VN trọng cái khí phách, cái đảm lược của một tướng lĩnh trước gian nan, kính cái đức hy sinh, thờ người dám xả thân vì nước; bởi thế cho nên lại càng thêm khinh ghét những kẻ nhu nhược, luồn cúi, làm tay sai cho giặc. Thời Pháp thuộc cha ông ta có câu vè để răn con cháu: " Việt Gian có lũ thằng Tường / Thằng Lộc thằng Tấn thằng Phương một bầy"
16 Tháng Mười Một 20187:55 CH(Xem: 56056)
Tôi không nghĩ rằng giới nhạc sĩ VN lại coi thường giới làm thơ, đến độ dùng thơ của người ta để tạo thành ca khúc, xong vất tên của người ta ra và không thèm ghi tên tác giả thơ vào tác phẩm. Vì hành động đó là hành động đốn mạt của kẻ vô sỉ, hành động ăn cắp tim óc của người khác.
11 Tháng Mười 20189:26 CH(Xem: 49228)
Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong phiên họp bất thường ngày 8.10.2018 đã biểu quyết 100% thông qua dự án đầu tư xây dựng Nhà hát Giao hưởng nhạc vũ kịch tại Khu đô thị Thủ Thiêm, nguồn kinh phí 1.500 tỷ từ ngân sách nhà nước. Quyết định này đã làm dấy lên nhiều phản ứng của người dân thông qua mạng xã hội và những ý kiến trên báo chí (1) xoay quanh hai vấn đề: 1. Thủ Thiêm là khu vực đang “nóng” do những sai phạm về đất đai của chính quyền thành phố gần 20 năm qua; 2. Sự cần thiết của công trình văn hóa này so với nhu cầu bức thiết về những công trình dân sinh khác như bệnh viện, đường xá...
02 Tháng Mười 20188:19 CH(Xem: 51660)
Hơn 40 năm sau 1975, như một chuỗi sai lầm từ hệ thống, nhà nước CSVN đã thiết lập vội vã nhiều dự án trọng điểm rất tốn kém với tham vọng nhằm "cải tạo" ĐBSCL, đa phần là can thiệp thô bạo gây tác hại trên hệ sinh thái mong manh của cả một vùng châu thổ. Do tính cục bộ, thiếu sót trong Đánh giá Tác động Môi trường Chiến lược [SEA / Strategic Environment Assessment] của toàn ĐBSCL, chỉ với những "nghiên cứu mệnh danh là khoa học" nhưng theo phong cách: làm nhanh ăn nhanh; chủ yếu bị chi phối bởi các nhóm lợi ích các chủ đầu tư, rồi đem chính mạng sống và kế sinh nhai người dân ra đánh bạc, bất chấp ý kiến của họ, đồng thời trấn áp các phản biện và gạt bỏ mọi khuyến cáo của các chuyên gia kinh nghiệm có thẩm quyền.