- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

PHIM “ĐỊA ĐẠO” của Đạo diễn BÙI THẠC CHUYÊN

16 Tháng Tư 20259:16 CH(Xem: 19241)




DIA DAO

Phim “ĐỊA ĐẠO- Mặt trời trong bóng tối ”

của Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên

TRẦN KHẢI
tổng hợp


“Từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước.

Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!”

TRẦN KHẢI.

 

 

***

Trương Thanh Thuận

TỪ “HUYỀN THOẠI ĐỊA ĐẠO CỦ CHI” ĐẾN “HUYỀN THOẠI TRUYỀN THÔNG”

(Xem phim “Địa đạo - Mặt trời trong bóng tối” - Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên)

 

Xem xong bộ phim “bom tấn” này, tôi thấy hoang mang quá chừng, vì những gì tôi cảm nhận được từ đầu phim cho đến dòng chữ cuối cùng hầu như khác xa với những sự khen vống khen đua theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công” trên báo chí & mạng xã hội suốt tuần qua - những lời ca ngợi tạo nên một “huyền thoại” về truyền thông chưa từng có đối với phim Việt Nam nói chung, phim đề tài lịch sử Cách mạng nói riêng… Tôi có tham khảo ý kiến một số nhà điện ảnh “biết xem phim” và công tâm, kết hợp với cảm nhận cá nhân để viết mấy dòng này, trong khi chờ đợi tiếng nói chính thức của những nhà phê bình phim chuyên nghiệp mà hiện giờ hình như họ đang e dè nể nang điều gì đó…

Trước hết, cần công bằng mà khẳng định đây là một bộ phim nghiêm túc làm về đề tài chiến tranh, coi như thoát được cái bản chất “phim Cúng cụ” hơn nửa thế kỷ nay đã in hằn trong ấn tượng công chúng về một kiểu phim hoành tráng thực hiện bằng Ngân sách Nhà nước phục vụ các ngày Lễ lớn xong rồi nhét vào kho! Phim không đi theo motif truyền thống “Ta thắng Địch thua” và kết phim là tiếng reo mừng chiến thắng cùng ngọn cờ bay phấp phới… Ở “Địa đạo…”, kết phim là các hầm địa đạo bị đánh sập, và hai chiến sĩ Địa đạo còn lại phải ngậm ống tre lặn dưới nước tránh truy sát của kẻ thù… Tất cả các cảnh quay được dàn dựng hết sức công phu, và tạo hiệu quả chân thực một cách tối đa nhằm miêu tả cuộc sống & cuộc chiến đấu trong lòng đất của quân dân Củ Chi “những năm tháng không thể quên” ấy… Nếu đem so với những phim làm về chiến tranh của điện ảnh Phương Tây nhiều năm qua, về mặt hình thức phim – gồm bối cảnh phim, đạo cụ phim, cảnh quay khói lửa, kỹ xảo, v.v, thì “Địa đạo…” của điện ảnh Việt có thể không xấu hổ!

Thế nhưng, một bộ phim có giá trị thật sự có khả năng đi vào Lịch sử điện ảnh thế giới, hoặc đủ tiêu chuẩn như những phim đã được Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ chọn lưu trữ vào Viện lưu trữ phim Quốc gia vì sự "quan trọng trong lĩnh vực văn hóa, Lịch sử, hay thẩm mỹ" của nó, thì cái “đì zai” (vỏ bọc, hình thức) nói trên của “Địa đạo…” quả là không đáng kể; và cái điều phim muốn gửi gắm, muốn nói với người xem hôm nay – dù rất nhân văn, tích cực, cần thiết – đã bị chính cái “hình thức” hoành tráng kia đè bẹp, và không được triển khai qua một cấu trúc phim nhà nghề theo quy luật điện ảnh Fiction (hư cấu) đòi hỏi!

Ấn tượng bao trùm tôi khi dòng chữ Hết phim hiện lên: đây là một phim kiểu Ký sự Lịch sử (non fiction - không hư cấu) bằng hình ảnh, trộn lẫn với phim fiction (hư cấu); như thế các nhà làm phim đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng trong nghệ thuật điện ảnh mà nhiều nhà làm phim thế giới có kinh nghiệm từng cảnh báo: Chớ được lẫn lộn về thể loại, vì khán giả sẽ cho rằng người làm phim đánh lừa họ! Thực ra, không ít phim đoạt giải cao tại các LHF quốc tế đã đưa chất “tài liệu” (document) khá đậm đặc vào phim truyện, song chất “tài liệu” đó được cài cắm một cách tự nhiên, đầy nghệ thuật, trên cơ sở một hệ thống nhân vật có sức thuyết phục, một cấu trúc kịch tính hết sức chặt chẽ. Còn ở phim “Địa đạo…”, chất truyện, chất fiction rất yếu ớt, nhạt nhẽo, các nhân vật dù được diễn viên dày công thể hiện, song đều là những hình nhân mờ nhạt, lộ rõ sự minh họa thô thiển cho nội dung phim! Cuộc hãm hiếp dẫn đến có chửa của một cô du kích địa đạo được ném ra chẳng gắn bó gì với xung đột kịch tính- tư tưởng phim, để làm gì vậy, câu khách đơn thuần chăng?

Ngoài ra, cái gọi là “yếu tố truyện” tương đối rõ nét trong phim này còn bị các nhà làm phim khai thác thành hai tuyến tình tiết quan trọng với mục đích xây dựng “biểu tượng”, song thái quá, đậm chủ quan nên gây phản cảm khá nặng: 1. Mấy cuộc làm tình (và hãm hiếp) dữ dội dưới xích xắt xe tăng và đạn pháo địch: Không hiểu khán giả khác thế nào, ở mấy đoạn phim đó, tôi thấy gai gai người kinh sợ, bởi nó hết sức phản tự nhiên, thế nhưng nhà làm phim đã muốn minh chứng bản năng sinh tồn của con người mạnh hơn sự hủy diệt bằng ý đồ cực đoan - y như trong phim “Sống trong sợ hãi” mà có người nói đùa vui rằng nó làm nên “thương hiệu làm tình kiểu Bùi Thạc Chuyên”! 2. Trường đoạn ông cán bộ cấp cao tên là Sáu rơi vào tay địch: Ông này bình tĩnh nhận điếu thuốc do địch châm cho là được, khá tự nhiên, song khi tác giả để ông lên lớp dạy dỗ mấy sĩ quan binh lính Mỹ về Lịch sử dưới ống kính của nhà quay phim chiến trường thì không ít khán giả chợt phì cười! Rồi tới khi ông này chẳng biết giấu ở đâu và từ lúc nào quả lựu đạn để lôi ra giết bọn lính Mỹ và tự sát, thì bàn tay xếp sắp bố trí của tác giả lộ rõ sự vụng về, cố tình!

Sau cùng, xin bộc bạch một tâm sự, đúng hơn, một khao khát của cá nhân tôi về không chỉ riêng bộ phim “Địa đạo…” mà còn về các bộ phim VN sẽ làm về đề tài Chiến tranh: Phải chăng, đã đến lúc màn ảnh lớn nhỏ của ta nên chấm dứt việc thực hiện những cảnh quay giết chóc rùng rợn không kém thời Trung cổ như trong phim này – dù có là của chiến tranh chính nghĩa đi nữa – đặc biệt là cảnh quay dùng đòn sóc dưới địa đạo đâm xuyên người viên sĩ quan Mỹ (Tới cảnh này, trong rạp, mấy bà mấy chị ngồi hàng ghế trước tôi phải lấy tay ôm mặt, còn nhà điện ảnh đi xem cùng tôi như rùng cả mình và cúi gầm đầu xuống). Mấy chục năm trước, điện ảnh ta có phim “Thủ lĩnh áo nâu” diễn tả lại cảnh nghĩa quân Đề Thám tổ chức đầu độc binh lính Pháp ở Hà thành, đã chẳng dấy lên sự phản đối của khán giả trong nước và nước ngoài đó thôi! Không phải sự thật nào cũng có thể đưa lên màn ảnh “giữa Thanh thiên bạch nhật” một cách trần trụi và sống sít, nhất là trong thời chiến tranh tàn khốc đang diễn ra nhiều nơi trên trái đất thì chủ nghĩa nhân văn toàn cầu càng cần được khôi phục và phát triển… Theo ý kiến của một số nhà phê bình điện ảnh, ngay cả những phim về chiến tranh ghê rợn nhất của thế giới cũng không “đẩy” người xem vào cái không khí ngột ngạt đầy đe dọa một cách cực đoan như “Địa đạo…” đã tạo ra. Và một vài cựu chiến binh cũ thời chống Mỹ đã cho biết: cán bộ chiến sĩ ở “Củ Chi đất thép” thời ấy đâu phải bị “nhốt” trong địa đạo làm “chuột chũi” như một thứ định mệnh như thế, họ vẫn sinh hoạt bình thường ở làng xóm ngoài lúc chiến đấu trong Địa đạo… Thế mà, yếu tố giải trí cần thiết, và như một phẩm chất quan trọng của Nghệ thuật thứ Bảy - đã vắng bóng trong hai tiếng phim ngột ngạt nặng nề đế nghẹt thở của “Địa đạo…”!

Tôi thiển nghĩ, trong giai đoạn Hòa hợp hòa giải dân tộc đã chín muồi và cần tạo ra mối quan hệ bang giao hữu hảo với cả thế lực đối kháng xưa kia, bộ phim “Địa đạo…” không khác gì việc khơi gợi cố tình sự thù địch đáng lẽ phải quên đi từ lâu, kích động sự thù hận kiểu “Thù muôn đời muôn kiếp không tan”! Bộ phim thật ra vẫn chưa thoát khỏi bóng dáng của loại phim “Cúng cụ” nhằm lên án tội ác giặc Mỹ xâm lược và ca ngợi chiến công của quân dân ta, khi mà nhận thức về Địa - Chính trị của xã hội đã được nâng lên rất nhiều, và thị hiếu của người xem phim hôm nay đã không còn đơn giản như trước…

Hơn nữa, trong bài viết “Hai ngàn ngày trấn thủ Củ Chi” của Thiếu tá Dương Đình Lôi, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quyết Thắng ở Củ Chi, ông khẳng định không ai có thể "chiến đấu suốt 10 năm trong địa đạo" như tuyên truyền, Địa đạo chỉ là nơi tạm lánh lúc nguy cấp, và sau năm 1967 đã trở thành tử địa. Bản đồ và báo cáo từ Lữ đoàn 25 Bộ binh Hoa Kỳ (25th Infantry Division), đóng tại Đồng Dù, xác nhận các trận càn lớn năm 1966–1968 đã san bằng gần như toàn bộ khu vực Củ Chi, và không phát hiện hệ thống địa đạo quy mô như tuyên truyền. Các phóng viên chiến trường như Peter Arnett, David Halberstam đều mô tả Củ Chi là vùng "nội bất xuất ngoại bất nhập", nơi bất kỳ hầm hố nào lộ diện đều bị pháo bầy, napalm hoặc bom 7 tấn ném xuống…

 
____________________


BÚT THÉP

Nếu bạn chưa đọc 'Hai ngàn ngày trấn thủ Củ Chi' của Thiếu Tá Dương Đình Lôi, nguyên sĩ quan pháo binh Bắc Việt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quyết Thắng của phe CS ở Củ Chi, mời bạn đọc bài tóm lược này. Ông Lôi là con trai của một Hương Quản ở Tân Bửu giáp Tân Túc, cách Chợ Đệm 3km, cách nhà tôi 4km. Ông là người duy nhất cầm quân đánh trực diện căn cứ Đồng Dù, bắn cháy gần chục tank thiết giáp bên ngoài căn cứ.

***

BÓC TRẦN SỰ THẬT VỀ ĐỊA ĐẠO CỦ CHI – CÂU CHUYỆN PHẢN BIỆN DỰA TRÊN TÀI LIỆU,
NHÂN CHỨNG VÀ SỰ THẬT LỊCH SỬ


Trong nhiều thập niên qua, địa đạo Củ Chi đã được Hà Nội tô vẽ như một biểu tượng bất khả chiến bại của "lòng yêu nước, ý chí cách mạng và sự sáng tạo thần kỳ". Các phái đoàn quốc tế, du khách, sinh viên, học sinh được đưa tới tham quan như một "bằng chứng sống" về chiến thắng của du kích cộng sản trước quân đội Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những ai từng chiến đấu tại chiến trường này, những người từng đổ máu, đổ mồ hôi giữa vùng đất Củ Chi, lại mang một ký ức rất khác – một ký ức không phải được kể bằng ống kính quay phim tuyên truyền, mà bằng mảnh đạn, bằng khói B52 và xác người vùi trong đất đỏ.

Tài liệu "2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi" của Dương Đình Lôi và hồi ký Xuân Vũ là một trong những tiếng nói hiếm hoi từ chính những người đã từng sống trong lòng địa đạo và trên chiến trường này. Trong đó, tác giả thẳng thắn vạch trần những chiêu trò tuyên truyền sai lệch của Hà Nội.

1. Địa đạo không phải là mạng lưới kỳ vĩ và bất khả xâm phạm như tuyên truyền.

Các tài liệu tuyên truyền của Hà Nội thường tuyên bố địa đạo dài tới 200 dặm (tương đương 320km), thông suốt các xã, tạo thành "vòng đai thép" quanh căn cứ Đồng Dù. Tuy nhiên, chính Dương Đình Lôi – người từng trấn thủ Củ Chi suốt 2000 ngày đêm – khẳng định địa đạo chỉ tồn tại được ở một vài xã có nền đất cao như Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn, Nhuận Đức và Phú Hòa Đông. Những khu vực còn lại là đồng ruộng ngập nước không thể nào đào địa đạo.

Danh sách các đoạn địa đạo còn ghi nhận được chỉ ngắn vài trăm mét, như Bến Dược (200m), Hố Bò (200m), Bến Mương (100m), Góc Chàng (500m)... chứ không có hệ thống nào dài hàng trăm cây số. Không hề có tuyến địa đạo nào "bao vây Đồng Dù", càng không thể nghe nhạc Bob Hope từ dưới lòng đất như các tài liệu tuyên truyền từng bịa đặt.

2. Điều kiện sinh tồn trong địa đạo cực kỳ khắc nghiệt.

Các miệng địa đạo chỉ vừa đủ một người chui lọt, thiếu không khí, ẩm thấp, nhiều loài bò sát, rắn rết, chuột bọ. Một người khoẻ mạnh chỉ cần ở dưới đó vài giờ là choáng váng vì thiếu oxy, chứ đừng nói đến việc giải phẫu thương binh như tài liệu Hà Nội từng tuyên bố. Dương Đình Lôi kể lại rằng, chỉ cần một người phụ nữ có kinh nguyệt ở dưới địa đạo cũng có thể khiến cả hầm ngộp vì mùi hôi. Việc vệ sinh, phóng uế, xử lý vết thương... dưới địa đạo là điều gần như không thể.

3. Địa đạo từng là mồ chôn tập thể khi bị B52 cày nát.

Các tài liệu quân sự Hoa Kỳ như trong chiến dịch Cedar Falls (1967) và Junction City (1967) đã ghi rõ việc sử dụng bom B52 rải thảm xuống vùng Tam Giác Sắt, trong đó có Củ Chi. Một trái bom B52 có thể tạo hố sâu tới 11 thước, hoàn toàn phá huỷ bất kỳ hệ thống hầm ngầm nào bên dưới. Trong một trận pháo kích, một đoạn địa đạo tại An Nhơn bị sập, vùi chết nguyên ban tham mưu quận – không ai cứu nổi. Sau đó, Quân khu ủy IV ra lệnh cấm cán bộ chui xuống địa đạo vì "xuống đó là chết".

Tài liệu từ Quân sử Hoa Kỳ và báo cáo chiến dịch của Bộ chỉ huy MACV (Military Assistance Command, Vietnam) đã xác nhận hiệu quả tàn phá của B52 tại vùng Củ Chi. Lính Mỹ mô tả vùng này là "chảo bom", nơi mọi gốc cây đều bị san bằng, không có nơi nào đủ an toàn để lẩn trốn.

4. Nhiều nhân vật được tuyên dương là anh hùng chiến đấu trong địa đạo thực chất không hề có mặt hoặc không hề chiến đấu như thế.

Một số người như "thiếu tá Năm Thuận", "thiếu tá Quợt" hay thậm chí ông Võ Văn Kiệt được tuyên truyền là từng chỉ huy chiến đấu trong địa đạo. Tuy nhiên, theo lời kể của người trong cuộc, họ chỉ nương náu vài ngày, hoặc như Năm Thuận chỉ làm lính lãi, còn Quợt thì nổi tiếng... són ra quần mỗi khi xuống hầm.

Các nhân chứng như Dương Đình Lôi, từng chỉ huy Tiểu đoàn Quyết Thắng, khẳng định không ai có thể "chiến đấu suốt 10 năm trong địa đạo" như lời tuyên truyền. Địa đạo không phải là hầm lầu có máy lạnh, mà là nơi tạm lánh lúc nguy cấp, và sau năm 1967 đã trở thành tử địa.

5. Địa đạo được khai thác thành phim ảnh, du lịch để tô vẽ lịch sử.

Từ năm 1985, theo lời kể, nhiều đoạn hầm đã được đào lại bằng máy cày, được làm rộng ra để phục vụ quay phim và đón du khách. Báo cáo của phái đoàn du lịch Hoa Kỳ, các bài viết của ký giả phương Tây (như Neil Sheehan, Stanley Karnow) và cả các đoạn video của CNN đã ghi lại việc một số khu địa đạo được tái thiết để phục vụ mục đích tham quan, không còn giữ nguyên bản chất ban đầu.

6. Chính Hà Nội cũng từng dùng địa đạo để tuyên truyền nội bộ.

Trong các báo cáo nội bộ, như tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương năm 1979, đã thừa nhận việc "huy động truyền thông, hình ảnh địa đạo Củ Chi để làm biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân". Nghĩa là ngay cả phía cộng sản cũng hiểu rằng địa đạo là công cụ tuyên truyền chứ không hẳn là phương tiện chiến đấu thực sự.

7. Ghi nhận từ phía Mỹ và nhân chứng độc lập.

Bản đồ và báo cáo từ Lữ đoàn 25 Bộ binh Hoa Kỳ (25th Infantry Division), đóng tại Đồng Dù, xác nhận các trận càn lớn năm 1966–1968 đã san bằng gần như toàn bộ khu vực Củ Chi, và không phát hiện hệ thống địa đạo quy mô như tuyên truyền.

Phóng viên chiến trường như Peter Arnett, David Halberstam đều mô tả Củ Chi là vùng "nội bất xuất ngoại bất nhập", nơi bất kỳ hầm hố nào lộ diện đều bị pháo bầy, napalm hoặc bom 7 tấn ném xuống.

Cựu phóng viên Wilfred Burchett, mặc dù thân cộng, từng bị Hà Nội từ chối cho xuống hầm vì... quá to, và sau đó bị trì hoãn mãi không được xem địa đạo thực. Một dấu hiệu rõ rệt rằng địa đạo lúc ấy không còn tồn tại đúng như lời tuyên truyền.

Địa đạo Củ Chi từng là một biện pháp trú ẩn chiến thuật trong giai đoạn đầu của chiến tranh, tại một vài khu vực có địa hình phù hợp. Tuy nhiên, từ sau năm 1966–1967, khi không quân Hoa Kỳ triển khai chiến thuật rải thảm B52, địa đạo đã mất hoàn toàn hiệu quả và trở thành nấm mồ tập thể cho hàng trăm cán binh.

Việc Hà Nội tiếp tục khai thác địa đạo như một biểu tượng tuyên truyền không chỉ bóp méo sự thật lịch sử mà còn xúc phạm đến hàng ngàn người đã chết oan trong lòng đất đỏ. Đã đến lúc cần nhìn lại và đối diện với sự thật. Không phải để bôi nhọ ai, mà để lịch sử Việt Nam được viết lại bằng sự thật, chứ không bằng khói pháo và phim ảnh dựng lại sau chiến tranh.

________________________

 

Như thế là, từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước.

Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!

 

 

____________________________

 

 

Châu Hồng Thủy

MỘT BỘ PHIM KHỦNG KHIẾP!

Đó là ấn tượng bao trùm trong tôi trong và sau khi xem phim “Địa đạo - Mặt trời trong bóng tối” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, bộ phim tạo ra không khí nghẹt thở của những du kích Củ Chi dưới bom đạn hủy diệt và trong bản năng sinh tồn tính dục của chính đồng đội họ. Những cảnh chém giết kinh sợ, cảnh nước ngập hầm địa đạo dìm chết các chiến sĩ Củ Chi… được miêu tả kỹ lưỡng, chân thật đến ghê người với mục đích rõ ràng là lên án Mỹ xâm lược làm ra để làm gì đây, giữa khi VN và Mỹ đang tìm mọi cách gắn kết mối bang giao, sau nhiều năm hàn gắn vết thương chiến tranh, xóa bỏ hận thù? Những nhà chính trị, kinh tế, ngoại giao, cựu binh sĩ Mỹ từng tham chiến ở VN sẽ có ấn tượng gì suy nghĩ gì trước cảnh người lính Mỹ bị cây tre đâm xuyên qua người như một con thú săn trong lòng địa đạo?

Và điều khủng khiếp không kém là suốt tuần nay, hệ thống truyền thông chính thống và không chính thống đã quảng bá rầm rộ cho một bộ phim đầy bạo lực nặng tuyên truyền “chống Mỹ” có nguy cơ phá tan chủ trương “Hòa hợp - Hòa giải” dân tộc và với đối phương cũ trên con đường Hợp tác - Cộng tác phát triển thịnh vượng và bồi đắp thêm chủ nghĩa Nhân văn toàn cầu! Thực khó hiểu trước sự im lặng của những người có trách nhiệm, những nhà chuyên môn, và không ít những nhân vật có tiếng tăm trong giới văn nghệ sĩ đã “nâng bi” bộ phim này lên trời xanh một cách điệu nghệ, coi đó là một “siêu phẩm” điện ảnh sánh ngang với những kiệt tác điện ảnh thế giới làm về chiến tranh!

Tôi là người ngoại đạo điện ảnh, xin phép được hỏi: các “Bố già” đứng sau bộ phim này và chiến dịch truyền thông này là những ai?

 

 TRẦN KHẢI tổng hợp

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 202411:57 CH(Xem: 36414)
Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch. Một trùng hợp thật ngẫu nhiên khi tạp chí văn học nghệ thuật Ngôn Ngữ phát hành vào tháng 2-2024 cũng vào dịp Tết Giáp Thìn 2024 ra số đặc biệt giới thiệu Bác sĩ / Nhà văn / Nhà hoạt động môi sinh Ngô Thế Vinh. Năm Rồng, giới thiệu người kết nghĩa với Cửu Long, tưởng không còn gì thích hợp hơn.
07 Tháng Hai 20243:34 SA(Xem: 33373)
Khi tìm đọc văn học chiến tranh (giai đoạn 1954-1975) tôi bắt gặp rất nhiều lần lời giới thiệu ngắn tên tuổi, và các tác phẩm của nhà văn Nguyên Vũ. Kể từ đó, tôi luôn tìm Nguyên Vũ để đọc, song dường như không có tác phẩm nào của ông được đưa lên các trạng mạng, hay các thư viện điện tử. Hôm rồi, thật may mắn, đang nghiền ngẫm về cố nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, tình cờ tôi bắt gặp: Mây Trên Đỉnh Núi, truyện dài gồm 20 chương của Nguyên Vũ. Đây có lẽ là truyện dài đầu tay, và ít được nhắc đến của ông. Cũng định thử một vài trang, rồi lúc nào đó sẽ đọc tiếp, nhưng bập vào tôi không thể dứt ra được, và đọc một mạch ngay nơi làm việc. Sự hấp dẫn, sinh động ấy, không hẳn bởi chỉ nội dung, mà còn do bố cục, nghệ thuật đan xen những tình tiết câu chuyện...
07 Tháng Hai 20242:19 SA(Xem: 31550)
Bài này, “Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền”, được phát triển, bổ sung và mở rộng từ bài viết gốc năm 1986, với tựa “Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy”, theo tinh thần tựa đề “L’Homme, cet Inconnu” (1935) (Con Người, kẻ Xa Lạ ấy) của Alexis Carrel (Nobel 1912). Một vài chủ đề đã được đưa vào, hay tô đậm, qua một cái nhìn hồi cố và tái thẩm, để làm đầy đặn và làm rõ hơn các đường nét về thơ Thanh Tâm Tuyền, vốn, trong bản gốc nguyên thuỷ, đã được vạch ra nhưng chưa được khai thác kỹ.
07 Tháng Hai 20241:35 SA(Xem: 28498)
Người ta thường chỉ nói về thơ Thanh Tâm Tuyền ở cái thời tuổi trẻ của ông, và gần như không có ai nói kỹ (hoặc tương đối kỹ) về tập “Thơ Ở Đâu Xa”, kết tinh bởi những bài thơ thời sau này của Thanh Tâm Tuyền, đặc biệt là thời ông đã đi qua những hào quang của tuổi trẻ mình, và cũng là thời mà ông đang đi vào, đang đi qua những hiện thực sống động nhất, theo một nghĩa nào đó, của thân phận con người, nói chung, và thân phận thi sĩ, nói riêng, của chính ông. Cũng có ý kiến cho rằng thơ Thanh Tâm Tuyền, trong giai đoạn này, chỉ là thơ thời khổ nạn, tù đầy, không có mấy điều đáng bàn. Ý kiến đó có lẽ nên được xét lại. Con người thi sĩ, đặc biệt những con người thi sĩ với chiều sâu và kích thước như của Thanh Tâm Tuyền, có thể tự thể hiện phong cách độc đáo của mình, tự khám phá hoặc đổi mới mình, trong tứ, trong từ, trong hình ảnh, suy tư mình, trên các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, tiết nhịp, điệu thức, thể loại… trong bất kỳ hoàn cảnh hiện sinh nào của họ.
25 Tháng Mười Hai 202310:41 CH(Xem: 30873)
Hàng năm vào dịp cuối năm, người Kitô hữu đón mừng sự kiện Chúa Giêsu giáng trần, mặc lấy thân xác con người để chuộc tội nhân loại, tội tổ tông đã lưu truyền từ Adam - thuỷ tổ loài người theo dân Do Thái - lúc còn ở địa đàng đã ăn phải trái cấm của Thiên Chúa do Eve dụ dỗ.
22 Tháng Mười Hai 202312:10 CH(Xem: 32858)
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối, Tìm Quê hương trên vết máu giữa đồng hoang: Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi, Từng con sông từng huyết lệ lan tràn…
07 Tháng Mười Một 20236:34 SA(Xem: 29097)
“…câu chuyện giáo sĩ Alexandre de Rhodes là câu chuyện cũ đã hơn 300 năm trước. Ông không sáng chế ra chuyện đánh vần tiếng Việt ra mẫu tự Bồ. Tôi nghĩ ông là một giáo sĩ tận tụy với nghiệp vụ truyền giáo, chỉ có điều kiến thức quá giới hạn của ông về văn hóa tôn giáo và con người Việt Nam làm tôi bực mình, và thèm khát một ngày mà những bất cập như vậy không còn sót lại nơi một giáo sĩ dù với đức tin nào. Tuy nhiên, phê phán nặng nề một giáo sĩ 300 năm trước là điều không nên, khi mà các giáo sĩ nói chung bấy giờ một phần vì giới hạn kiến thức, không có truyền thống kính trọng văn hóa địa phương. Nhưng ta tự nguyện tự lãnh một cái ơn tày đình với những giáo sĩ như De Rhodes cũng là chuyện không căn cứ. Có lẽ thỉnh thỏang ta nên đọc lại Phép Giảng Tám Ngày của ông ta để có một viễn cận phải chăng với câu chuyện.” (Mai Kim Ngọc).
01 Tháng Mười Một 202312:55 SA(Xem: 32014)
Hun Sen đã chính thức chuyển quyền cho con từ ngày 22/8/2023. Tuy Hun Manet là Thủ tướng mới nhưng Hun Sen vẫn có một ảnh hưởng gần như tuyệt đối từ phía sau hậu trường. Hun Sen viết trên trang Facebook – “Đây chưa phải là kết thúc. Tôi còn tiếp tục phục vụ ở những cương vị khác ít nhất cũng tới năm 2033” (tức là mười năm nữa, lúc đó Hun Sen 81 tuổi). Tìm hiểu về giới lãnh đạo bao gồm hai thế hệ Cha và Con của chính trường Cam Bốt hiện nay và ít ra trong 10 năm tới thiết nghĩ là điều rất cần thiết.
16 Tháng Mười 20234:16 CH(Xem: 31450)
Dự án “Funan Techo Canal” nhằm phục hồi một hệ thống đường thủy đã được xây dựng và vận hành từ triều đại Đế chế Funan-Khmer [sic] có từ khoảng 500 năm trước Công Nguyên. Công trình này nhằm cải thiện giao thông đường thủy trong lãnh thổ Cam Bốt. Con kênh này có chiều dài 180 km, kết nối 4 tỉnh: Kandal, Takeo, Kampot, và Kep. Mục đích chính của dự án này như một kết nối lại với lịch sử và nhằm cải thiện giao thông đường thủy cho các cộng đồng cư dân địa phương. Triển khai dự án này phù hợp với cam kết của Cam Bốt theo điều khoản 1 và 2 của Hiệp Định Sông Mekong 1995, với sự bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng những quyền hạn và các lợi ích chính đáng.(1) [trích Thông Báo của Cambodia gửi Ủy Ban Thư Ký Sông Mekong]
07 Tháng Mười 202311:06 CH(Xem: 31042)
...Mai Ninh, Trần Vũ, Lê thị Thấm Vân vẫn viết về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến đã qua. Trần Diệu Hằng với Vũ điệu của loài công, Mưa đất lạ và Chôm chôm yêu dấu vẫn là những tập truyện ngắn liên quan cuộc sống người tỵ nạn, đến tâm tình từ góc độ một người tỵ nạn. Lê thị Huệ với Bụi Hồng, Kỷ niệm với Mỵ Anh và Rồng rắn vẫn là những soi chiếu vào tâm tình những cảnh đời của nếp sống di dân qua hình ảnh cô sinh viên thuở trước và bây giờ. Nhưng người ta vẫn nhận ra đề tài về tính dục vẫn là nét trổi bật trong các truyện của các nhà văn kể trên (trừ Trần Diệu Hằng). Thứ văn chương với đề tài có xu hướng trổi bật về tính dục đã mở đầu như một thứ cách mạng tình dục trong tiểu thuyết. Trước đây thì cũng có Tuý Hồng, Lệ Hằng, Thụy Vũ... cũng đậm mà chưa đặc, chưa đủ mặn. Ai là người đánh trống, cầm cờ về đề tài này? Có thể là Trần Vũ, Trân Sa hay Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Trường An và nhất là Lê thị Thấm Vân. Truyện sẽ không viết, sẽ không đọc, nếu không có trai gái.