- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

NÉN TÂM HƯƠNG CẢM THI SĨ HOÀNG NHUẬN CẦM SAU BA NĂM ÔNG RỜI CÕI TẠM

05 Tháng Bảy 202410:27 CH(Xem: 27745)
HoangNhuanCam
Thi sĩ Hoàng Nhuận Cầm (1952-2021)

NÉN TÂM HƯƠNG CẢM THI SĨ HOÀNG NHUẬN CẦM

SAU BA NĂM ÔNG RỜI CÕI TẠM

 

Hoàng Thị Bích Hà

 

 

Nhắc đến Ông trước hết là tác giả của những bài thơ nổi tiếng đã đi vào lòng người như: Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến, Viên xúc xắc mùa thu, Chiếc lá cuối cùng…trong những tập thơ đã xuất bản.


Thơ Hoàng Nhuận Cầm phần lớn là thơ tình, những tình thơ đã làm say lòng lòng độc giả. Tiếng lòng ông đã chạm đến trái tim của công chúng yêu thơ đặc biệt là bởi chất thơ say đắm, trẻ trung yêu đời và yêu cuộc sống. Hoàng Nhuận Cầm là một con người tài hoa ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật như: Thơ, kịch bản phim, diễn xuất. Ông đã hóa thân vào vai diễn rất tự nhiên với phong cách hóm hỉnh, hài hước và trí tuệ bằng tài năng thiêm bẩm khiến khán giả màn ảnh một thời không thể quên. Sau này người ta thường gọi ông bằng cái tên “Bác sĩ Hoa súng” một cách đầy mến mộ. Với những bài thơ nổi tiếng như thế có lẽ cũng đã có nhiều bài viết về ông và tác phẩm của ông. Nhưng mỗi người có một góc nhìn riêng. Tôi chỉ là kẻ hậu sinh với tất cả tấm lòng ngưỡng mộ thi tài, xin gửi đến quý bạn đọc những dòng cảm nhận về một bài thơ rất hay của ông: “Hò Hẹn Mãi Cuối Cùng Em Cũng Đến”.


Những hẹn hò, dang dở, chia ly hay dỗi hờn trách cứ…đều là những cung bậc của tình yêu. Đó là cái cớ để dệt nên những vần thơ tình buồn đẹp và da diết? Nếu cố thi sĩ Hồ Dzếnh bảo rằng: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!" vì theo ông “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”. Bởi trong tình yêu đi đến vẹn toàn, hạnh phúc là điều không hề dễ. Có khi tưởng chạm đến hạnh phúc rồi lại phải chia xa. Nên thôi, cứ hẹn mà đừng đến để người đợi chờ cứ hi vọng như thế biết đâu sẽ thú vị hơn! Còn Xuân Diệu từng chua chát mà rằng: “Yêu là chết ở trong lòng một ít/ Mấy khi yêu mà chắc được yêu” mặc dù ông vẫn quan niệm sống là phải yêu như câu thơ sau: "Kiếp sống không yêu kiếp sống thừa”.
 

Nhưng đối với Hoàng Nhuận Cầm sự hẹn hò ấy ra sao? Chúng ta hãy đọc lại thơ ông lần nữa để thưởng lãm một giọng thơ tình hoàn toàn khác, với một âm điệu rất riêng:


“Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi”


Vậy là sau những hò hẹn, đợi chờ thì cuối cùng em cũng đã đến. Và tưởng chừng sắp chạm đến hạnh phúc. Nhưng không thể, vì đã muộn mất rồi! Khi em đến! Anh vẫn còn đợi em nhưng mùa thu thì đã đi rồi! Thời gian không chờ đợi. Có một sự lỡ làng mất mát xót xa, nuối tiếc ở nơi đây. Bởi lẽ đôi khi cơ hội trong đời chỉ đến một lần thôi! Tất cả đã xa tầm tay với bởi vì người đến trễ, mọi thứ đều đã khác:


“Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Ba cánh tàn, bốn cánh sắp sửa rơi
”


Xuân sắc không còn nữa, hoa tàn, nhụy rã. Thời điểm em đến với anh sau những hẹn hò hoài mãi giờ không còn “thiên thời địa lợi nhân hòa” nữa. Em đến muộn mất rồi. Tiệc tàn, hoa rụng, cả anh và em giờ đã qua thời hoa mộng. Cũng có nghĩa Tuổi Thanh Xuân- thời điểm đẹp nhất của đời người đã qua. Thời gian không chờ đợi chúng ta.


Khổ thơ tiếp theo, thi nhân dùng điệp ngữ, điệp cú để nhấn mạnh, khẳng định lần nữa: Em đã đến thật rồi! Em đang đứng đây là điều có thật. Dẫu bây giờ em như cánh chim bay đã mỏi trong ánh mắt bao dung độ lượng của chân trời. Nhưng không thể không nói cho em biết sự thật là ta đang nghĩ gì? Em ạ: Lời giả dối nghe mãi cũng chán rồi! Ta sẽ nói thẳng, nói thật cho em biết dù chỉ một lần thôi. Dẫu có đau thì cũng đau một lần này nữa thôi:


“Ta đã chán lời vu vơ giả dối
Hót lên! Dù đau xót một lần thôi!
”


Trước những cay nghiệt của tình đời, của nhân tình thế thái ta có còn đủ thơ ngây để tin vào những cuộc tình đẹp nữa hay không? Sau những chiêm nghiệm cuộc đời! Tình yêu ư? Luôn có hai mặt ngọt ngào và man trá! Khi em đến, dẫu ngập ngừng, em cũng sẽ thốt ra những lời âu yếm và khẳng định tình yêu sẽ vững bền như chuyện bồ câu không chết trẻ. Thì em ơi! Anh cũng đang rất sợ. Sợ tình yêu hay sợ em? Bởi vì em hay là cơn bão tự ngàn xa? Em đã từng là nguyên cớ tạo nên những cơn bão lòng trong tâm tư anh. Trước tình yêu này, anh liệu có tìm được bến bờ bình yên không?


“Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói
Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ
Anh sợ hãi, bây giờ anh mới nhớ
Em hay là cơn bão tự ngàn xa
”


Yêu là đau khổ, thế nhưng anh vẫn yêu với một tâm hồn bao dung độ lượng. Tôi còn nhớ lời một bài hát có câu: “Nếu biết rằng yêu là đau khổ, thà dương gian đừng có chúng mình”. Em đã đến, dù muộn và anh cũng không chắc là tình em sẽ đậu lại bao lâu. Thế nên:


“Trái tim anh như căn nhà bé nhỏ
Gió em vào- Nếu chán, gió lại ra
”


Lòng ta chùng lại bởi các từ: “Gió, nếu, chán, gió, lại”. Nếu năm thanh trắc làm cho thanh điệu của câu thơ trĩu xuống thì các thanh bằng: vào, ra đan xen nâng giọng thơ lên thanh thoát nhẹ nhàng, chan chứa bao dung.


Trái tim anh vẫn dành chỗ cho em đó- nơi ấm áp yên bình. Em như ngọn gió thích thì trú ngụ, nếu chán có thể bay đi. Còn gì chua chát hơn! Anh thì trước sau vẫn tôn thờ tình yêu nhưng em có lẽ khác. Anh khó lòng lưu giữ được tình em. Tất cả rồi cũng phôi pha. Nỗi niềm chờ đợi kéo dài tưởng như vô vọng nhưng cuối cùng em đã đến. Nhưng có với tới hạnh phúc không? Một nghịch lý ngang trái không kém phần cay đắng. Em đến sau những chờ đợi hẹn hò tưởng sẽ chạm đến ngọt ngào nồng cháy nhưng muộn mất rồi! Một sự mất mát dang dở đã được dự báo.
 

Dẫu em đã đến, hiển hiện bằng xương, bằng thịt trước mắt anh. Em là có thật đi chăng nữa nhưng tiếc rằng Mùa thu (biểu tượng của thời gian), Hoa cúc (biểu tượng cho xuân sắc) đã cướp anh rồi. Thời gian đã gặm nhấm tuổi xuân. À không! thời gian đã “cướp” anh rồi! Thi nhân dùng từ “cướp” rất đắt và biểu cảm, nghe đầy chất lính của một thời vừa mạnh mẽ, nhanh chóng, dứt khoát. Anh bây giờ không còn là anh của ngày xưa nữa!


Bài thơ khép lại với sự ngỡ ngàng nuối tiếc dẫu vẫn biết dang dở cuộc tình là điều có thể xảy ra. Trong cuộc đời, cơ hội không phải lúc nào cũng có. Và tình yêu không thể là vĩnh cửu cũng như: con người không thể bất diệt với thời gian!


Qua hình thái ngôn ngữ nghệ thuật tả cảnh ngụ tình ấn tượng và có giá trị biểu đạt cao. Giọng thơ nhẹ nhàng, đầy sắc điệu thẩm mỹ lại có ít nhiều tính triết luận. Tâm tình của chủ thể trữ tình lan tỏa vào trong sâu thẳm tâm tư người đọc nỗi buồn của dang dở chia lìa, mang ý nghĩa phổ quát của những chuyện tình buồn.


Bằng cảm hứng trữ tình tự sự, với thi ảnh bình dị, ngôn ngữ trong sáng dễ hiểu được kết hợp các biện pháp tu từ biểu cảm. Câu chữ hàm súc thể hiện bởi bút pháp điêu luyện, đã tạo nên những vần thơ có vẻ đẹp trang nhã mà se sắt lòng người.


Ông đã đem đến cho người đọc những vần thơ tài hoa, giàu sắc thái trữ tình, lãng mạn làm rung động lòng người.


Nay tay thi nhân đã mỏi, thi nhân rũ áo đi vào cõi vĩnh hằng đã ba năm nhưng những vần thơ, kịch bản phim và những vai diễn để đời của ông sẽ ở lại với chúng ta, với các thế hệ người yêu thơ và hâm mộ một tài năng nghệ thuật ưu tú của nước nhà.

Saigon, ngày 28/6/2024

 
Hoàng Thị Bích Hà

 

 


Kính mời độc giả thưởng thức trọn vẹn văn bản bài thơ:

 

HÒ HẸN MÃI CUỐI CÙNG EM CŨNG ĐẾN



Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi
Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi

Hò hẹn mãi cuối cùng em đã tới
Như cánh chim trong mắt của chân trời
Ta đã chán lời vu vơ, giả dối
Hót lên! dù đau xót một lần thôi.

Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói
Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ
Anh sợ hãi bây giờ anh mới nhớ
Em hay là cơn bão tự ngàn xa.

Quả tim anh như căn nhà bé nhỏ
Gió em vào - nếu chán - gió lại ra
Hò hẹn mãi cuối cùng em đứng đó
Dẫu mùa thu, hoa cúc cướp anh rồi...


Hoàng Nhuận Cầm

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Tư 201512:22 SA(Xem: 60515)
Ngày 30-4, ngày nếu có một triệu người vui, cũng là ngày có một triệu người buồn. Câu nói trong quá khứ của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ Tướng chủ trương chính sách Đổi Mới, được lập đi nhắc lại nhưng liệu có còn chính xác với tình thế hiện tại của đất nước ? Ngày nay, kinh tế tụt hậu, hàng xuất là lao động giá bèo, cái đinh vít cũng không làm được mà nhập hàng ngoại tuốt tuột, nợ chồng chất. Rồi tham nhũng lên đỉnh cao, đạo đức xã hội xuống cấp...
22 Tháng Ba 20153:31 SA(Xem: 57517)
Nguyễn Xuân Hoàng trong số báo Văn đặc biệt về TTT, đã viết: "Thanh Tâm Tuyền như ngọn cờ đầu của thơ tự do Việt Nam, người làm mới thi ca Việt Nam." (2) Đặng Tiến khi viết bài tưởng niệm Thanh Tâm Tuyền đã bày tỏ ít nhiều tiếc rẻ là "lối thơ Thanh Tâm Tuyền không có người thừa kế."
18 Tháng Hai 20159:45 SA(Xem: 69059)
Vậy mà đã 40 năm qua đi 1975-2015, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng/ livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.
02 Tháng Mười Một 20141:53 SA(Xem: 71292)
Hồ Quý Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang vào đời Hậu Hán thời Ngũ Đại (947 – 950) sang làm Thái thú lộ Diễn Châu (Nghệ An). Sau đó, làm nhà ở hương Bào Đột thuộc lộ này, làm trại chủ đến đời thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại tỉnh Thanh Hóa, làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình.
10 Tháng Mười 20141:45 SA(Xem: 73060)
Trong số mấy bài thơ chữ Nôm còn lại của Bà Huyện Thanh Quan, bài thơ “Qua Đèo Ngang” là bài thơ gần đây được tranh luận nhiều nhất về chữ nghĩa, đặc biệt là về từ ngữ “cái gia gia” . Sự tranh luận này có chiều hướng phủ nhận quan điểm cũ của các tiền bối cũng như những người tin theo họ để bảo vệ cho cách đọc “cái đa đa”.
20 Tháng Chín 20145:29 SA(Xem: 59906)
Trong số 26 con đập dòng chính Sông Mekong, thì Noạ Trát Độ / Nuozhadu 5,850 MW trên Vân Nam là con đập lớn nhất, và Don Sahong 260 MW là con đập nhỏ và quan trọng nhất thuộc địa phận Nam Lào (không kể tới Thakho Diversion, cũng của Lào, 50 MW được bảo trở bởi CNR & EDL). Bài viết là một phân tích về hai thái cực của sự huỷ hoại: từ con đập lớn nhất tới con đập nhỏ nhất trên toàn hệ sinh thái Sông Mekong.
08 Tháng Chín 201412:00 SA(Xem: 67059)
Khiếm khuyết lớn của dân tộc Việt là đã say mê khía cạnh chính trị của chiến tranh mà lãng quên khía cạnh thuần học thuật, quân sự của chiến tranh. Clausewitz nổi tiếng với mệnh đề thường xuyên được trích dẫn: "Chiến tranh là cánh tay nối dài của chính trị." Nhưng Clausewitz không viết duy nhất một mệnh đề này, mà soạn thảo tám tổng tập Cẩm nang Chiến tranh mà cho đến phút này vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt, ngay cả tóm lược .
27 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 65766)
Tôi ít thấy ai yêu thơ như Mai Thảo. Thuộc rất nhiều thơ, đặc biệt thơ tiền chiến và thơ những năm đầu kháng chiến, Mai Thảo có thể nói chuyện về thơ miên man từ giờ này sang giờ khác, từ ngày này sang ngày khác. Dường như chỉ khi nói chuyện về thơ, Mai Thảo mới hoạt bát, sôi nổi, say sưa, gửi hết hồn mình trong từng tiếng trầm tiếng bổng. Ly rượu trên tay, đầu lắc lư, mắt lim dim, Mai Thảo nói về thơ với giọng vừa xúc động như khi người ta kể lại một mối tình đầu, vừa thành kính như một con chiên kể về cuộc đời của Người Cứu Thế. Với Mai Thảo, thơ là cái gì thiêng liêng, rất đỗi thiêng liêng, như một tôn giáo. Với Mai Thảo, thơ, "chỉ thơ, mới là ngôn ngữ, là tiếng nói tận cùng và chung quyết của văn chương"
18 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 57312)
...toàn cảnh các quốc gia trong lưu vực Sông Mekong từ Trung Quốc xuống tới Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam cho dù mang những tên gọi khác nhau nhưng đó vẫn là những đất nước chưa có dân chủ, vẫn là những “xã hội hình tháp – social pyramid” nói theo ngôn từ của nhà xã hội học Miến Kyaw Nyein, với đỉnh tháp là thiểu số thống trị và dưới đáy vẫn là đa số những người dân nghèo khổ bị khai thác và bóc lột.
14 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 65413)
K hác với quân đội của các đế quốc, quân đội Việt Nam đã luôn phải xây dựng sức mạnh trên chính lòng ái quốc của dân tộc mình. Ngay cả khi Đại Nam đạt đến sức mạnh của một đế quốc Đông Dương, quân đội Đại Nam chưa biết vận dụng sức lực của các sắc tộc Chàm, Ai Lao hay Thủy Chân Lạp. Sức mạnh của quân đội Việt Nam là sức mạnh của sự đoàn kết, chết để giữ đất và chết để mở đất, của sắc tộc Kinh. Mạc Cửu ở Hà Tiên là một biệt lệ.