- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

THƠ KHÁNH TRƯỜNG: “MỘT VẠT NẮNG TRONG”

19 Tháng Tư 20246:57 SA(Xem: 34343)
THO KhanhTruong

Bìa tập Thơ Khánh Trường.
Sách dày 242 trang.Do NXB Mở Nguồn phát hành. 



Thơ Khánh Trường: “Một Vạt Nắng Trong”
Nina Hòa Bình Lê

Sáng sớm Chủ Nhật, điện thoại gõ nhẹ, nhìn vào messenger thấy dòng chữ nhắn tin từ chú Khánh Trường: “Tập thơ in xong rồi. Ghé lấy nhé.” 30 phút sau tôi ghé nhà, chú chỉ lên kệ sách: “Chỉ mới in 3 cuốn. Cháu cầm 1 cuốn về đọc trước.” Mở trang đầu dưới dòng chữ THƠ KHÁNH TRƯỜNG là hàng chữ “Tặng cháu, Nina Hòa Bình Lê”.  Cảm động. 

 

Bài viết này xin có lúc được gọi Chú, xưng cháu.

 

Thú thật tôi chỉ thật sự tìm đọc Khánh Trường trong những năm gần đây, sau khi thường xuyên lui tới thăm hỏi chú sau khi tờ Việt Báo chuyển thành tuần báo. Trước kia đọc đây đó những mẩu truyện ngắn, dài trên các trang mạng, những trang sách với khá nhiều tình tiết bạo lực và dục tính không lôi cuốn tôi mấy, dẫu bản thân luôn thán phục tinh thần làm báo dấn thân lì lợm và công trình Hợp Lưu “dày cộm” cũng như những đóng góp khai phá của người chủ biên, tạo khung trời mới vun xới những cây bút chủ lực cho nền văn học hải ngoại và trong nước.

 

Với nhiều kỳ tích, người viết người đọc không ai xa lạ với cái tên Khánh Trường. Khánh Trường-Nhà Văn, ngang ngược tung hoành trong 25 cuốn sách. Khánh Trường-Nhà Báo lì lợm qua 12 năm Hợp Lưu gai góc. Khánh Trường-Họa Sĩ, ngỗ nghịch trên 400 bức tranh sơn dầu táo bạo. Và Khánh Trường-Nhà thơ, với tập thơ mới “Thơ Khánh Trường” do NXB Mở Nguồn vừa phát hành, dày 242 trang. Liệu bức chân dung Khánh Trường-Nhà Thơ có đủ đậm nét so với những bức chân dung Khánh Trường khó bì khác?

 

Thật ra, đây không phải là tập thơ đầu của Khánh Trường, như trong lời mở, Khánh Trường viết: “Tôi làm thơ rất sớm, và nhiều, từ năm mười sáu tuổi đến nay đã ngót sáu mươi năm, nhưng vẫn nghĩ thơ mình tầm thường, làm chỉ cho riêng mình như một hình thức ghi lại những biến cố đã trải nghiệm hoặc ngẫu hứng, cốt vui.” Tập thơ đầu”Đoản Thi Khánh Trường” ra đời 42 năm trước khi Khánh Trường mới đến Mỹ mà theo ông chỉ vì nhà in nơi ông làm việc đang “ế”. “Với tôi, vẽ, viết văn xuôi hay làm thơ chỉ cốt vui, không có tham vọng đi vào văn học sử. Tập thơ này cũng thế.”

 

Tập “Thơ Khánh Trường” ra đời chỉ để “vui thôi mà”, gồm ba phần: Phần 1: Ngẫu Hứng. Phần 2: Mai Anh Về Miền Trung & Những Bài Thơ Khác; và Phần 3: Khổ Lụy.

 

Ngẫu Hứng là phần tôi thích nhất, tập hợp những bài thơ ngắn “bất chợt nẩy ra trong đầu”. Thơ được viết tự nhiên, không màu mè, không cơ bắp, không gồng, không làm dáng. Là phần mở đầu, Ngẫu Hứng cũng là phần tách riêng khỏi tập thơ, ở một vùng đất cao hơn, trên một khí hậu tươi mát, có nhịp sống tâm linh riêng. Trong khuôn khổ bài này xin chỉ đọc phần “Ngẫu Hứng”.

 

Ngẫu Hứng, theo tác giả, là những “ngẫu hứng đến không hẹn trước”, gồm một số bài đã được in trong tập Đoản Thi Khánh Trường xuất bản 40 năm trước, và một số bài thơ ngắn rải rác khác trước đây chỉ được viết xuống, hoặc chỉ nằm trong trí óc, nay được gom lại đưa vào sách.

 

một đài mai trắng nở

run bên bờ tử sinh

một đài mai trắng nở

rực sáng nghìn tạng kinh

 

Bài thơ bốn câu có tựa “tuệ mai”mở đầu phần ngẫu hứng cũng như mở đầu cuốn sách đã ngay tức thì đưa tập thơ vào một cõi giới riêng, nơi Khánh Trường-Nhà văn luôn gồng mình thách thức hoàn toàn biến mất nhường chỗ cho Khánh Trường-người họa sĩ tài ba đưa nét cọ vào thơ, vẽ nên bức tranh tâm linh vừa tĩnh vừa động, phản ảnh một tiến trình sinh, tử, tiến hóa, “một đài mai trắng nở”, một “rực sáng” trí tuệ, âu cũng là một sự giác ngộ/tái sinh của một Khánh Trường-Nhà thơ, chân phương như đất:

 

Ngả lưng gối lá nhìn trời

nắng muôn sợi nhỏ rơi rơi đầy hồn

 

Ở đây, nhà thơ của chúng ta an nhiên chan hòa:

 

cúi hôn em – cảm ơn đời

cảm ơn hạnh phúc tuyệt vời chim bao

cảm ơn sợi tóc ngọt ngào

ngủ trên buồng ngực xôn xao nhịp trầm

 

Ở đây, ở trong thơ, không còn chút bóng dáng của một Khánh Trường ngang dọc bất cần, thay vào đó là một tâm hồn yên phận ví mình như một kiếp cây:

 

người là bóng mây

giăng ngang trời rộng

ta là kiếp cây

trên đồi gió lộng

 

người là cánh chim

bay ngoài biển rộng

ta đứng lặng chìm

ôm nỗi tình không

 

ôm chút tình không

ủ đời giá lạnh

như sợi nắng hồng

rơi ngoài mênh mông

 

Làm sao có thể không xúc động khi nghĩ đến hình ảnh Khánh Trường ngồi yên lặng trong căn phòng tối nhìn cuộc đời đi qua, thân xác ở bên trong 4 vách tường nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn rong ruổi ngoài kia “như sợi nắng hồng”, để rồi sẽ “rơi ngoài mênh mông”.

 

Ai đó đã nói, thơ là tiếng vọng, là lời mời gọi bóng hình nhảy múa, thơ Khánh Trường có những ngẫu hứng như thế, giữa những tháng năm cằn cỗi vẫn mọc những “nụ xanh”:

 

có đêm trăng rải lụa mềm

có cây nhớ gió bên thềm tịch liêu

có đời rộng cánh tay yêu

có ta cành nẩy ít nhiều nụ xanh

 

hay

 

ngồi bên song cửa

nhìn người đi qua

ô vườn hồn ta

một bông hồng nhỏ

bắt đầu mãn khai

 

So với Khánh Trường-nhà văn, Khánh Trường-nhà thơ của chúng ta lành hơn, hoà hoãn và cũng dịu dàng với chính mình hơn:

 

quanh co dốc đá rêu mù

vực thăm thẳm đáy non mù mù sương

dừng chân bối rối tìm đường

chừng như dấu cũ trong sương đã nhòa

 

hay

 

gối đầu trang sách mỏng

thả khói bay vật vờ

nương hồn qua bến lạ

ta lạc ta nữa rồi

 

Cái ta của Khánh Trường là cái ta của cả một tiến trình biến động, từ những vùng vẫy, than oán sau cơn tai biến:

 

nghe trong thể phách lụy phiền

máu cao niên đổ mưa điên trận sầu

nghe ngoài tịch mịch vó câu

gõ như búa nện trên đầu áo quan

nghe ra thôi đã muộn màng

tiếng con chim bệnh bàng hoàng kêu thương.

 

Đến những phút giây xăm xoi, tự kiểm lại bản thân:

 

ta có hai lỗ tai

cộng thêm hai con mắt

nhưng nhiều khi quá quắt

tai chẳng thuận điều ngay

mắt không nhìn nẻo thẳng

 

Cái ta biến đổi theo định mệnh, từ một Khánh Trường ngang tàng, lăn lóc, không khuất phục, đến một Khánh Trường của những tháng ngày “mỗi sáng buồn so”.

 

ta ngồi trong động trông ra

dưới sâu mây phủ bóng tà huy bay

nghĩ đời một cuộc tỉnh say…

 

Ai thường xuyên đến thăm Khánh Trường, quen thuộc với hình ảnh chú yếu gầy ngồi im lìm trên xe lăn trông ra trời rộng thật không khỏi chạnh lòng:

 

ngoài vuông kiếng đục mưa mù

ngồi im như tượng hồn thu xác gầy…

 

Trong căn nhà nhỏ im lìm, giữa bốn vách tường, trong bệnh viện, hay trên ghế nằm chạy thận, khi ngồi đợi xe rước đi lọc thận, chờ xe rước về, những “ngẫu hứng” thơ đến và đi cũng chính là tâm trạng của một người đã “từ bỏ cuộc chơi”, sống với “cái ta mãn cuộc”:

 

lăn trong cõi sống vô tình

có khi chỉ một cái hình phù du

loay quay ăn ngủ mệt đừ

muôn năm chẳng hiểu chân như chốn nào

 

Làm sao có thể hiểu được, khi chính mình ngồi một chỗ nhìn bạn bè khỏe hơn, trẻ hơn từ từ ra đi, ngậm ngùi cho bản thân:

 

ta có hai bàn chân

đi hoài không tới đích

ta có một sợi xích

trói hoài đôi cánh tay

ta có một cơ may

sống hoài như giẻ rách.

 

Có chút chua cay, mỉa mai cho một số phận nghiệt ngã, từ những lăn lộn dày dặn của một người chí khí bất thuần, đến hình ảnh bánh xe lăn, sợi xích, và chiếc giẻ rách, sao vẫn cứ phải sống, vẫn phải lăn theo cuộc đời. Có lẽ vì cuộc đời tuy bất trắc cũng không thiếu những dịu dàng:

 

vẽ em trán ngọc tay ngà

đường ngôi chẻ giữa tóc pha hương trầm

vẽ em răng khểnh duyên thầm

môi non mộc dược má dầm tuyết sương

vẽ em vẽ bóng vẽ hình

làm sao vẽ được cái tình xưa sau?

 

“Cái tình”, có lẽ đây là thứ duy nhất còn đọng lại sau bao nhiêu tai biến, được thua, mất mát. Cái tình của gia đình, của bạn bè văn hữu, cái tình của người đọc, người thưởng ngoạn, cái tình thủy chung son sắt của người bạn đời luôn bên cạnh, là lượng máu bơm đầy trái tim, giữ cho chiếc rương châu báu trong tâm hồn người thơ vẫn tràn đầy, để Khánh Trường-Nhà thơ của chúng ta cuối cùng vẫn y bản Khánh Trường, bằng cách nào đó, vẫn ngông:

 

ta có một trái tim

bơm hoài một lượng máu

ta có một kho báu

cho hoài sao chẳng vơi?

 

Cuối cùng thì người nghệ sĩ là một trong những người hào phóng nhất, luôn chăm chỉ với sứ mệnh tô đẹp thế giới, cuộc đời. Vẽ hoài. Viết hoài. Cho hoài.

 

Riêng cảm ơn chú đã treo cho cháu “một vầng trăng mơ”.

 

Nina Hòa Bình Lê

  

*Toàn bộ chữ nghiêng trong bài là chữ của Khánh Trường.

(*)Tập Thơ Khánh Trường. Sách dày 242 trang. Do NXB Mở Nguồn phát hành.
Sách có bán tại:
https://www.barnesandnoble.com/w/th-417-kh-nh-tr-432-7901-ng-khanh-truong/1145194277?ean=9798869273086
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Chín 201510:14 CH(Xem: 77355)
Về những nhà văn quân đội nổi tiếng với những tác phẩm (thơ cũng như văn) của họ, có thể kể những tên tuổi về thơ, như có Tường Linh, Phạm văn Bình, hay Linh Phương... Cả hai nhà thơ sau, đều nổi tiếng nhờ có thơ được cố nhạc sĩ Phạm Duy soạn thành ca khúc. (Phạm Văn Bình với ca khúc “Chuyện tình buồn,” và “Mười hai tháng anh đi”; Linh Phương với “Kỷ vật cho em”) (1). Về văn có thể kể Văn Quang (lớp trước). Lớp sau vài năm, có thể kể tới Trần Hoài Thư, Đào Vũ Anh Hùng, Huỳnh Văn Phú... Nhưng, nổi bật hơn cả, theo tôi vẫn là Nguyên Vũ (truyện) và, Phan Nhật Nam (bút ký, phóng sự).
08 Tháng Chín 201511:47 SA(Xem: 57730)
"Đời sống bên này có cái thực tế khắc nghiệt là vậy. Càng khắc nghiệt tôi càng trầm tĩnh. Nghiệm ra một điều: hãy làm hết sức mình cho một công việc tốt, cũng có lúc bù đắp lại. Những tấm tranh cũng đã từng nuôi sống tôi, tôi không thể bỏ vẽ được". (Đinh Cường)
20 Tháng Tám 201512:50 SA(Xem: 60374)
Bùi Nhật Tiến, bút hiệu Nhật Tiến sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội. Năm 1946 mới 10 tuổi Nhật Tiến đã phải theo gia đình rời Hà Nội đi tản cư qua những tỉnh như Sơn Tây, Việt Trì, Hưng Hoá, Phú Thọ
02 Tháng Tám 20152:00 SA(Xem: 60203)
Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học
05 Tháng Bảy 20151:57 SA(Xem: 57293)
Linh Bảo là một tên tuổi văn học của Miền Nam từ những năm 1950s. Các tác phẩm của Linh Bảo được lần lượt xuất bản tại Miền Nam từ 1953 tới 1975. Chỉ có Mây Tần là tuyển tập đoản văn duy nhất được xuất bản ở hải ngoại (1981). Sau 1975, không có một tác phẩm nào của Linh Bảo được in ở trong nước.
21 Tháng Sáu 20151:37 SA(Xem: 57880)
Mặc Đỗ nhà văn, nhà báo, dịch giả là một trong những tên tuổi của văn học Miền Nam trước 1975. Sau 1975, sang Mỹ tỵ nạn ở cái tuổi 58 còn tràn đầy sức sáng tạo nhưng anh đã chọn một cuộc sống quy ẩn, chữ của Mai Thảo. Mặc Đỗ gần như dứt khoát không xuất hiện hay có tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương ở hải ngoại -- [biển ngoài, chữ của Mặc Đỗ], thái độ chọn lựa đó khiến tên tuổi anh hầu như rơi vào quên lãng.
23 Tháng Năm 20153:54 SA(Xem: 62842)
Nền văn chương minh họa và phải đạo bén rễ sau thời Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) kéo dài hơn hai mươi năm bỗng hóa thân vào thời đầu Đổi Mới năm 87- 89 với những tác phẩm vượt trội. Xin tri ân tướng Trần Độ. Xin cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc. Cả hai vị này đã phà duỡng khí hồi sinh vào thây ma của thứ văn chươngvô hồn rập khuôn chính sách văn hóa Liên-Xô đã tạo ra những Quần Đảo Ngục Tù ( goulag) rồi còn lại kẹp thêm tính Mao-nhiều &Mao-ít hậu phong kiến đội tên giả là xã hội chủ nghĩa.
22 Tháng Năm 20153:47 SA(Xem: 74642)
Xung quanh câu chuyện Nguyễn Thị Lộ (NTL) và mối hoạ chu di của dòng họ Nguyễn Trãi quả đã không ít giấy mực bàn cãi, kể cả lý luận, nghiên cứu cho đến văn , thơ, kịch... đã có đến hàng trăm bài viết. Nhìn chung các loại ý kiến chưa thật thống nhất và tính thuyết phục chưa thật cao (1)...Chúng tôi xin được bàn thêm đôi điều về nghi án này với quan điểm không để tình cảm, thiên kiến lấn át sự thật.
13 Tháng Năm 20155:54 CH(Xem: 62066)
Với Nguyên Ngọc và Văn đoàn Độc lập, vấn đề còn nguyên. Làm gì với tự do đã giành lại sau khai trừ rồi ly khai? Làm gì với mục đích độc lập tách rời ra khỏi Hội? Ra khơi, lên đường, hay lo ngại “phạm pháp” sẽ khiến nhòa nhòa trong vận hành của hệ thống? Tháng 5-1954, hai chữ “Độc lập” thét vang trong lồng ngực của năm mươi ngàn binh sĩ chiến thắng trận Điên Biên, để cuối cùng là một nền độc lập hà khắc trong toàn trị. Tháng 5-2015, “vì một nền văn học Việt Nam tự do, nhân bản” in đậm trên trang web của Văn đoàn Độc lập. Công chúng trông chờ câu trả lời.
26 Tháng Tư 20151:48 SA(Xem: 60065)
Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy. [Võ Phiến nói chuyện với Đặng Tiến 28-10-1998] Có thể nói Võ Phiến là một trong số các tác giả được viết và nhắc tới nhiều nhất. Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình...