- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

“TÍNH TA VỐN YÊU NÚI” - GÓC SÂU THẲM CỦA TÂM HỒN NGUYỄN DU

06 Tháng Giêng 202312:11 SA(Xem: 33411)


NGUYEN DU

 

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

“TÍNH TA VỐN YÊU NÚI”  
- GÓC SÂU THẲM CỦA TÂM HỒN NGUYỄN DU

(Kính tặng những ai đã từng sống ở Núi Rừng nước Việt, hay từng bị cải tạo nơi đó…)

***




Nguyên tác câu Tính ta vốn yêu núi ở tập Bắc hành tạp lục là: Túc hữu ái sơn tích (夙有愛山癖), trong một bài thơ ngũ ngôn bát cú khi Nguyễn Du đi qua núi Tiềm thuộc huyện Tiềm Sơn, tỉnh An Huy Trung Quốc: Ta vốn có tính yêu núi- Xa rồi nhớ bao nhiêu-Nay trên đường đi Tiềm Sơn-Tưởng như ở trong dãy Hồng Lĩnh-Mây ráng bên ngoài nơi vượn hú-Cây tùng cây bách có thừa chỗ cho hạc làm tổ-Hẳn có người trong núi-Suốt đời không quen biết ta (Túc hữu ái sơn tích/ Biệt hậu tư hà như/ Lai đáo Tiềm Sơn lộ/ Uyển như Hồng Lĩnh cư/ Vân hà viên khiếu ngoại/ Tùng bách hạc sào dư/ Định hữu sơn trung khách/ Bình sinh bất thức dư. Tiềm Sơn đạo trung).

Nguyễn Du chỉ thốt lên một lần duy nhất: Ta vốn có tính yêu núi khi ông Bắc hành, ở đoạn cuối sứ trình; nhưng cái tính đó, ông đã bộc lộ biết bao lần trong 254 bài qua cả ba tập thơ chữ Hán của mình! Ai ham đọc sách mà không biết câu nói có tự cổ xưa: Trí giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn (Kẻ trí thì vui với sông nước, người nhân thì vui với núi non); song cái ý tưởng sách vở thể hiện khát vọng thoát tục thanh cao, mơ ước được tựa vào non xanh để tìm sự yên tĩnh vĩnh hằng của nội tâm đó đã được Nguyễn Du trải nghiệm bằng toàn bộ cảm giác buồn, vui, qua các đoạn đời phong trần của mình, và ông miêu tả chúng qua bao vần thơ chữ Hán thực thấm thía, rung động.

Hai nhà nghiên cứu đã có một cuộc khảo sát thú vị về hệ thống từ vựng ở tập thơ Bắc hành tạp lục, và đã thống kê được, trong nhóm danh từ xuất hiện ở khu vực có tần số cao, ở mục “Thiên nhiên-Không gian”, chữ Sơn 山 đứng đầu (78 chữ), sau đó là các chữ: Phong (51 chữ), Nhật (50 chữ), Giang (49 chữ), Thủy (45 chữ), Thiên (45 chữ), Vân (37 chữ)(1).

Tiếp theo hai nhà nghiên cứu trên, chúng tôi cũng làm một cuộc khảo sát tương tự (nhưng giới hạn ở chữ Sơn và các chữ liên quan tới núi non) trong hai tập thơ kia của Nguyễn Du: Thanh hiên thi tập và Nam trung tạp ngâm(2), nhằm làm sáng tỏ thêm điều mà các tác giả đã khái quát bước đầu như sau: “Rõ ràng, thiên nhiên có vai trò quan trọng trong việc tạo nên không gian nghệ thuật đặc trưng của Bắc hành tạp lục, tạo nên bức tranh hiện thực sống động cùng đời sống nội tâm cùng với nhiều suy tư của tác giả”(3); đồng thời góp phần khắc họa rõ nét hơn chân dung tinh thần Đại thi hào qua cả ba tập thơ di cảo.

Thanh hiên thi tập có 10 lần chữ Sơn山, Nam trung tạp ngâm có 45 lần chữ Sơn, với 78 chữ Sơn của Bắc hành tạp lục tổng cộng là 133 chữ Sơn. Toàn bộ những chữ Sơn này ít khi đứng độc lập, mà đi liền với các danh từ khác, danh từ riêng, động từ, tính từ, điển cố - như Sơn Vân, Điệp sơn, Cao sơn lưu thủy, Quan sơn, Thanh sơn, Hàn sơn, Nam sơn, Độc thướng cao sơn, Trùng sơn, Sơn thâm, Hồng Sơn thiên lý, Lam thủy Hồng sơn, Bách lý Hồng sơn, Hồng sơn sơn nguyệt, Hồng sơn dạ, Sơn trung, Sơn thôn, Sơn dạ, Sơn ngoại, Sơn tiền, Sơn tăng, Sơn ổ, Sơn thượng, Liên sơn, Sơn nhân, Mãn sơn, Sơn hà phong cảnh, Sơn nguyệt giang phong, Sơn sơn lạc nguyệt, Thiên lý giang sơn, Cố quốc hà sơn, Toàn Việt sơn hà, Sơn băng thạch liệt, Sơn linh, Thiên thai sơn, Thuỷ viễn sơn trường, Vạn trùng sơn, v.v. Ngoài ra, còn có các chữ nói về núi non, như: Phong 峯, Nhai 崖, Thạch 石… Các trạng thái - tình huống chữ Sơn như thế, với nhiều kết nối ngữ nghĩa phong phú, phức tạp, đã góp phần thể hiện đời sống nội tâm phong phú của nhà thơ, và tạo nên những ý tưởng thơ sâu sắc, những hình tượng thơ độc đáo.

NÚI là một trong những mô hình không gian quan trọng của mỹ học thơ ca trung đại Việt Nam và Á Đông, khi mà không gian vũ trụ chiếm ưu thế; và “mô hình tìm kiếm, phát huy sức sống trong vũ trụ” đó là “mô hình nhìn quanh Đông Tây Nam Bắc, trên dưới, trước sau”, là “ý thức về vị trí của mình trong thế giới, tương quan với môi trường xung quanh”, và “Quy mô không gian có ý nghĩa đặc biệt để biểu hiện sức mạnh tâm hồn” - như sự đúc kết của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khi tìm hiểu các phạm trù văn hóa & văn học cổ - trung đại(4).

Và nếu như NÚI là một trong những thi liệu đắc địa của văn chương cổ - trung đại (như có tác gia khái quát: Thơ xưa nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên-Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió - Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ/ Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong. Khán “Thiên gia thi” hữu cảm - Hồ Chí Minh), thì NÚI lại là trung tâm của nguồn thi liệu đó đối với các thi nhân - ẩn sĩ, là một biểu hiện hay một sự chung đúc của Thiên nhiên với tư cách là “ngôi nhà an ủi nỗi đau trần thế, đạt tới cõi quên thân, quên vật”(5). Ở Việt Nam như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, v.v; ở Trung Quốc tiêu biểu là thơ sơn thủy của các thi nhân như Đào Uyên Minh, Lý Bạch, v.v (Núi biếc nghìn trùng phô ngọc đấy-Nước trong muôn khoảnh trải gương ra. Hý đề - Nguyễn Trãi; Vấn dư hà sự thê bích san (sơn)/ Tiếu nhi bất đáp tâm sự nhàn/ Đào hoa lưu thủy diểu nhiên khứ/ Biệt hữu thiên địa phi nhân gian - Hỏi ta việc gì trong núi biếc-Cười mà không đáp lòng tự nhàn-Hoa đào nước chảy trôi xa tít-Đất Trời một cõi ngoài nhân gian. Sơn trung vấn đáp - Lý Bạch). Đặc biệt, thi nhân - nghệ sĩ Nguyễn Du còn có sự “cảm ứng” với NÚI như một trong những “tâm vật” quan trọng bậc nhất của thiên nhiên trong tâm hồn ông.

Trong cả ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du, ta thấy ông không ít lần nói về cái mộng “quy khứ”, mong ước siêu thoát, về ẩn dật với Núi Rừng theo gương người xưa. Nhưng trọn đường đời mình, ông chưa/ không thể thực hiện được cái mộng ấy. Trong số các loại ẩn sĩ với nhiều nguyên nhân quy ẩn mà có nhà nghiên cứu Trung Quốc từng tổng kết, gồm khoảng 6 loại(6), ta thấy Nguyễn Du không thuộc hẳn vào loại nào - dù ở mỗi loại, ông đều có bóng dáng trong đó! Và nếu ông có làm “ẩn sĩ” thì là “ẩn sĩ” trong giấc mộng, hoặc khi lang bạt kỳ hồ nơi “giác hải thiên nhai” - góc bể chân trời, hay trong cảnh ngộ “cùng đồ” - cùng đường…

Trước NÚI, tâm hồn dễ xao động của thi nhân rất thường xảy ra hiện tượng “Tâm - Vật cảm ứng”, “Thiên - Nhân cảm ứng” quen thuộc trong mỹ học cổ - trung đại Á Đông, như cách mà nhà lý luận văn học Lưu Hiệp đã viết trong Văn tâm điêu long: Tình cảm nhà thơ nảy sinh ra thường gửi gắm ở nơi vách núi mặt biển mà chính mắt mình nhìn thấy (Đăng sơn tắc tình mãn vu sơn, quan hải tắc ý dật vu hải)(7).

Nhưng ngót hai chục lần nhà thơ nói về Hồng Lĩnh sơn là phần lớn nói trong giấc mộng, trong niềm tưởng nhớ da diết khi tha hương lữ thứ… Bởi đó là lúc thi nhân, nói như Trang Tử, đã “nghe không phải bằng tai, nhìn không phải bằng mắt mà bằng trái tim”(8), hay như Lục Cơ: “Khi điều đó bắt đầu trong tôi thì tôi liền bịt tai bưng mắt; tôi đắm chìm hoàn toàn vào tâm tư, tìm kiếm tất cả từ mọi phía. Từ đáy sâu của tâm hồn tôi bay ra tám cực, bằng trái tim tôi phiêu dạt nơi tầm cao muôn trượng”(9). Nhìn ngắm Núi xanh ở bất kỳ vùng đất nào, bao giờ nhà thơ cũng mộng về hương quan, về Hồng Lĩnh, Hoành Sơn, và thường liên hệ tới Non sông nước cũ (Cố quốc hà sơn)…

Người Đi khắp chân trời góc biển/ Trong khoảng trời đất, đến đâu là nhà đó (Đạp biến thiên nha hựu hải nha/ Càn khôn tuỳ tại tức vi gia. Tạp ngâm I), lại thường lấy NÚI làm chốn “hậu phương” vững chãi cho tâm hồn và nghị lực mình. Và nhà thơ thường lấy điểm tựa tinh thần nơi Bách lý Hồng Sơn chính khí  từ thuở trai trẻ để tin tưởng ở lẽ “hành xử” cho cả đời mà mình đã chọn: Non Hồng trăm dặm, cùng chung một chính khí-Mắt xem việc đời như một đám phù vân-Thanh kiếm đeo lưng trước làn gió thu-Một mình im lặng nhìn đám trúc trước sân-Sương tuyết tan rồi, nó sẽ hoá rồng (Bách lý Hồng Sơn chính khí đồng/ Nhãn để phù vân khan thế sự/ Yêu gian trường kiếm quải thu phong/ Vô ngôn độc đối đình tiền trúc/ Sương tuyết tiêu thời hợp hoá long. Ký hữu I). Ở NÚI, Nguyễn thường sống lại cái cảm hứng của chí làm trai thời chưa bạc tóc: Suốt mười năm, ta chưa rửa được mối hận của nam nhi/ Hãy gõ nhịp vào gươm mà ca hát trước chòm mây trắng! (Thập niên vị tiết nam nhi hận/ Đàn kiếm trường ca đối bạch vân. Ninh Công thành). Còn khi bước vào các đoạn đời phong trần, trên thực tế, nhiều khi ông phải đi vòng vài nghìn dặm tránh loạn liên miên thì mới có thể tìm được chốn Chiều hôm quạnh quẽ, núi vây bốn bề (Tịch tịch tà dương sơn tứ vi. Tổ Sơn đạo trung). Chính thi nhân tự rút ra điều này: để Đến được chỗ tận cùng núi xanh (Đáo đắc thanh sơn tận) thì ông đã từng phải đi khắp Núi nước Ngô, nhiều Núi nước Sở (Ngô sơn hành dĩ biến/ Sở sơn lai cánh đa. Hoàng Mai đạo trung). Và ở chốn Cao sơn ông thường dễ tủi cho cảnh “khóc cười theo thói tục” (tiếu đề tuẫn tục) dưới núi của mình, càng dễ thấm thía về sự tàn tạ, suy vong đã xảy ra trong quá khứ hay đang diễn ra trước mắt ông, …

Mỗi lần được ở NÚI hay có dịp nhớ NÚI, Nguyễn Du càng thấm hiểu và xót xa cho cái cảnh ngộ viên ngọc trong đá không giữ vẹn được mặt thật (Thái phác bất toàn chân diện mục) của bản thân lúc sống giữa các con oanh đẹp ở vườn thượng uyển hay ghen ghét nhau vì sắc (Thượng uyển thanh kiều đa đố sắc), để rồi thêm thẹn trót lỗi thề với khóm trúc tảng đá (Trúc thạch đa tàm phụ nhĩ minh), và không chỉ một lần phải Thẹn mình đã phụ làn mây núi Hồng sơn (Hồng sơn tàm phụ nhất sơn vân). Nhiều khi, nhìn thấy núi non, ông liền nghĩ ngay Trong mộng thấy tùng cúc, lại nhớ đến chuyện muốn về vườn (Mộng trung tùng cúc ức quy dư). Bởi Có thể dựng ngôi nhà trước rừng cây kia mà ở-Trên núi có mây trắng, lại có khe nước chảy-Nhà sư và khóm trúc, cả hai đều vô sự (Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư/ Bạch vân tại tụ thuỷ thông cừ/ Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng. Lạng Sơn đạo trung). Không ít lần, NÚI lại là cái cớ, là dịp để Nguyễn Du ngẫm về ước mộng thoát khỏi cảnh hoạn lộ giống con phượng nhốt trong lồng, như lời tâm sự lúc chia tay Nguyễn Quýnh, anh trai cùng bố khác mẹ: Từ nay Hồng Lĩnh đã có người về làm chủ-Còn ta đầu bạc, chẳng nên trò trống gì, mà vẫn không về nhà-Cái dáng nho nhã bình sinh nay xơ xác như con phượng nhốt trong lồng-Công danh thì như con rắn chui tuột vào hang lúc nào rồi-Bạn trở về quê hương tha hồ hưởng thú trăng trong gió mát-Trưa nằm ngủ trước cửa sổ, chẳng mơ màng đến chuyện phương trời xa (Hồng Lĩnh hữu nhân lai tố chủ/ Bạch đầu vô lại bất hoàn gia/ Sinh bình văn thái tàn lung phượng/ Phù thế công danh tẩu hác xà/ Quy khứ cố hương hảo phong nguyệt/ Ngọ song vô mộng đáo thiên nha (nhai). Tống Nguyễn Sĩ Hữu nam quy). Ông mượn hình ảnh Vị sư già ngon giấc trong mây núi Hồng (Lão nạp an miên Hồng Lĩnh vân. Dạ hành) để nói về ước nguyện thầm kín đeo đẳng mình suốt đời.

Lần duy nhất trong thơ trữ tình, Nguyễn Du kể lại cụ thể nơi sinh sống hằng yêu thích của mình - tuy chẳng được lâu, và đồng thời bộc bạch “Tính vốn yêu núi” cùng ước mơ sâu thẳm của một đời người: Nhà tôi ở trước ngọn núi Thiên Thai, luôn luôn đóng cửa… Anh ở xa đến, thì hãy nhớ đường mà tìm-Nhà tôi ở xóm đầu dãy núi Hồng (Thiên Thai sơn tiền độc bế môn/…/Viễn lai chí thủ tương tầm lộ/ Gia tại Hồng Sơn đệ nhất thôn. Ký Huyền Hư tử).

Nguyễn yêu NÚI đến say mê, đắm đuối (theo cách hiểu và dịch câu Hữu ái sơn tích của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn là “Ta vốn nghiện núi”(10)); nhưng có mấy khi ông được sống lâu, sống yên ổn với NÚI! Thời tha hương ”thập tải phong trần khứ quốc xa”, rất hiếm hoi lúc ông được ở núi, tại đó ngẫm nghĩ sự đời và nhớ gia đình, quê hương: Cách Trường An nghìn dặm về phía nam-Có một người quê mùa ở trong núi sâu-Ban ngày yên tĩnh, mây núi che kín cổng tre-Mùa xuân lạnh, hành trúc quanh vườn thuốc trông thưa thớt-Thơ thẩn dưới bóng trăng, lòng nhớ quê hương-Tiếng nhạn đầu mùa khơi thêm dòng lệ biệt ly từ bao năm-Em trai em gái ở nơi quê nhà, bấy lâu bặt hắn tin tức-Không nhận được lá thư nào nói cho biết có bình yên hay không? (Nam khứ Trường An thiên lý dư/ Quần phong thâm xứ dã nhân cư/ Sài môn trú tĩnh sơn vân bế/ Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ/ Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ/ Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ/ Cố hương đệ muội âm hao tuyệt/ Bất kiến bình an nhất chỉ thư. Sơn cư mạn hứng). Với ông, không chỉ Hồng Sơn, mà tất cả những gì thuộc về NÚI đều là bạn tâm giao, chỗ dựa đáng tin cậy của mình: Đến tuổi già, mái tóc bạc, trông mà thương cho anh-Ở mãi nơi đây, thế mà rặng núi xanh kia vẫn chưa chán người (Lão lai bạch phát khả liên nhữ/ Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân. Thu dạ kỳ 1).

Yêu núi, muốn sống với núi, song trong nhiều cảnh ngộ, Nguyễn chỉ được suy ngẫm Chuyện kim cổ gợi lại bao nhiêu điều thương tâm giữa khi thấy Dãy núi xanh đằng kia vẫn nhuốm bóng chiều hồng như cũ (Vô cùng kim cổ thương tâm xứ/Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng), thường cũng là lúc Chân không bén rễ, mặc cho trôi giạt như ngọn cỏ bồng-Một chiếc đãy rỗng không, đi hết phía nam sông, lại phía bắc sông-Cuộc đời trăm năm, kiết xác với văn chương-Tấm thân côi cút lênh đênh trong vòng trời đất (Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng/ Giang nam giang bắc nhất nang không/ Bách niên cùng tử văn chương lý/ Lục xích phù sinh thiên địa trung... Mạn hứng kỳ 2).

Trong thơ, không chỉ một lần Nguyễn cho chúng ta biết: ông thấu hiểu NÚI là nơi gian khổ, bày thử thách lớn cho con người, thậm chí tạo ra sự cách biệt với cuộc sống hiện tại chẳng khác Âm - Dương trong một kiếp người: Chức quan buộc chân anh ở phía nam thành Lục Tháp-Đi vào đó ban đêm phải vượt đèo Hải Vân đá lởm chởm… Kể từ khi từ biệt, nay không biết đích xác ở nơi nào-Cuộc trùng phùng có lẽ phải đợi đến kiếp sau (Lục Tháp thành nam hệ nhất quan/Hải Vân dạ độ thạch toàn ngoan/…/ Nhất biệt bất tri hà xứ trú?/ Trùng phùng đương tác tái sinh khan. Ức gia huynh).

Nhưng Nguyễn cũng hiểu rằng, chẳng chốn nào tốt hơn NÚI để có được tầm nhìn thanh thoát và sức nghĩ khoáng đạt về non sông - thế sự: Một mình trèo lên núi cao, tầm mắt mới hẳn-Chuyện cũ của người anh hùng vẫn còn, như bức họa treo nơi bến sông (Độc thướng cao sơn nhãn giới tân/Anh hùng vãng sự quải giang tân. Ninh Công thành); NÚI mới là nơi có thể giúp ông trụ vững tinh thần giữa những khi Gió lạnh trên con đường xưa dồn cả vào một người (Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân. Dạ hành). Trong một lần Bắc hành, đi qua núi Hoàng Mai tỉnh Hồ Bắc, Nguyễn đã tạm rời cương vị một ông quan sứ để quan sát và ngẫm về lý tưởng điền viên của bản thân cũng như cái đích sống của người dân thường ở một sơn thôn, bộc lộ rõ lý do Hữu ái sơn tích của ông - tuy có khí vị của Đào Uyên Minh (Đào hoa nguyên ký) song thực chất là xuất phát từ trải nghiệm của một người đã sở kiến bao đau khổ đắng cay của cõi đời: Dưới chân núi có tùng cao-Trên núi có xóm xa… Việc đàn bà chỉ là xe sợi gai-Việc đàn ông là cầy cấy-Cầy cấy, lúc nhàn rỗi-Xuống núi chặt cành tùng… Sự hưng phế bên ngoài núi-Người ở trong núi đều không biết… Khi đầu bạc không về đây thì về đâu? (Sơn hạ hữu trường tùng/ Sơn thượng hữu diêu thôn/…/Nữ sự duy tích ma/ Kì nam nghiệp vân tỉ/ Vân tỉ cẩu đắc gian/ Hạ sơn phạt tùng chi/…/ Sơn ngoại hưng dữ phế/ Sơn trung giai bất tri/…/ Bạch đầu khứ thử tương an quy. Hoàng Mai sơn thượng thôn). Thời trẻ, khi lang thang với chiếc mũ vàng nhà sư khắp vùng “giang bắc giang nam”, lạc vào một Sơn thôn hẻo lánh, ông như được sống lại với giấc mộng “thoát tục” của đạo sĩ giữa thời thế đảo điên: Ở giữa muôn ngọn núi, xa cách gió bụi… Buổi chiều mục đồng gõ sừng trâu dưới đồng hoang-Ngày xuân các cô gái kéo gàu múc nước ở giếng ngọc-Ước gì thoát được trần tục-Mà ngồi dưới gốc cây tùng thú biết bao nhiêu! (Vạn sơn thâm xứ tuyệt phong trần/…/ Mục nhi giác chuỷ hoang giao mộ/ Cấp nữ đồng liên ngọc tỉnh xuân/ Ná đắc khiêu ly phù thế ngoại/ Trường tùng thụ hạ tối nghi nhân. Sơn thôn). Có lần, vị quan Hữu tham tri Bộ lễ họ Nguyễn tới núi Thiên Thai ở phía đông thành Huế, trong một ngôi chùa cổ như bị vùi trong đám lá vàng mùa thu, ông đã ngậm ngùi trong nước mắt nhớ lại cái ước vọng “lai khứ” ấp ủ bao năm: Triều vua trước vị sư già đi giữa áng mây trắng-Thương thay mình tóc đã bạc mà còn phải làm lụng vất vả-Chẳng thể cùng với non xanh giữ vẹn nghĩa thủy chung (Cổ tự thu mai hoàng diệp lý/ Tiên triều tăng lão bạch vân trung/ Khả liên bạch phát cung khu dịch/ Bất dữ thanh sơn tương thủy chung. Vọng Thiên Thai tự).

Ở nơi hang đá, suối thác như thiên nhiên xếp đặt từ thời Bàn Cổ của xứ Lạng, khi Nguyễn Cúi nhìn xuống thấy thành có nhiều sự đổi thay mà ngậm ngùi khôn xiết (Phủ thán thành trung đa biến thiên) thì cũng là lúc thuận lợi nhất để ông hiểu rằng, điều có ý nghĩa nhất giúp tâm ông “dĩ bất biến ứng vạn biến” trước mọi va đập sắp tới chỉ có thể là: Lòng này thường định không xa rời đạo thiền (Thử tâm thường định bất ly thiền. Đề Nhị Thanh động). Và cũng có lúc, tại NÚI, Nguyễn thấm thía hơn đâu hết sự vô vị của những “thiên lý mộng”, như lần đi đón sứ nhà Thanh vào mùa đông năm Giáp Tý 1805 tại Lạng Sơn: Mái tóc bạc phơ, cứ phải phong trần mãi-Đường danh lợi làm luỵ đến sự khóc cười-Tâm sự anh hùng đã nguội lạnh, không còn nghĩ đến chuyện ruổi rong-Đứng dưới Đoàn Thành, nước mắt đẫm khăn (Tiêu tiêu bồng mấn lão phong trần/ Anh hùng tâm sự hoang trì sính/ Danh lợi doanh trường luỵ tiếu tần/ Đoàn Thành thành hạ nhất triêm cân. Xuân tiêu lữ thứ). Xứ Lạng là nơi gợi cho Nguyễn tư tưởng hư không của đạo Phật: Sơn tăng cùng rặng trúc đều yên lặng-Mục đồng cưỡi trâu ung dung chẳng gì bằng (Sơn tăng đối trúc lưỡng vo dạng/ Mục thụ kỳ ngưu nhất bất như. Lạng Sơn đạo trung).

Nhưng cũng chính tại vùng NÚI biên viễn Tổ quốc mình, Nguyễn Du là nhà thơ nước Việt hiếm hoi - nếu không muốn nói là duy nhất - đã phán xét về cái phi lý, độc ác của bọn hiếu chiến phương Bắc từng tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, bằng tiếng cười riễu cợt của ông, trước khung cảnh hoang sơ hùng vĩ nguy hiểm từng trở thành cạm bẫy đối với chúng: Núi liên tiếp, cao vút tận mây xanh-Nam bắc chia ranh giới ở chỗ này-Là nơi nổi tiếng nguy hiểm đến tính mạng-Thương thay, bao nhiêu ngươì vẫn phải đi về qua đây…Từ thuở xa xưa, gió lạnh đã thổi bao đống xương trắng-Chiến công của tướng nhà Hán có gì đáng khen! (Liên phong cao sáp nhập thanh vân/ Nam bắc quan đầu tựu thử phân/ Như thử hữu danh sinh tử địa/ Khả liên vô số khứ lai nhân/…/ Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt/ Kỳ công hà thủ Hán tướng quân. Quỷ Môn quan). Tại Trấn Nam Quan, Cửa ải hùng vĩ đứng trấn giữa muôn nghìn núi non (Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm), nhà thơ đã bộc lộ cảm nghĩ hùng tráng của cả một dân tộc ý thức sâu sắc về chủ quyền Độc lập Tự chủ qua hàng trăm năm: Bức thành lẻ loi phân chia hai nước-Bên tai còn nghe văng vẳng tiếng nhạc quân thiều (Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện/ Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm. Trấn Nam Quan). Chuẩn bị đi sứ, nơi núi non trập trùng xứ Lạng, nhà thơ có cảm giác Mây đá Đoàn thành chiều hôm nay như có ý đợi ta (Đoàn thành vân thạch tịch tương hậu), và ông đã viết ra những câu thơ độc đáo về sứ mệnh của văn chương: Thân bằng cố hữu ở núi Hồng Lĩnh càng ngày càng xa cách-Quái lạ, nỗi nhớ nhung lại dễ cắt đứt-Khi tráp có ngọn bút thay đao (Hồng lĩnh thân bằng nhật tiệm dao/ Quái đắc nhu tình khinh cát đoạn/ Khuông trung huề hữu bút như đao. Lạng thành đạo trung). Không chỉ vì ông đang làm tiếp công việc của thân phụ năm xưa (Nguyễn Nghiễm từng nhiều lần tới đây lấy tư liệu viết sách Lạng Sơn Đoàn thành đồ), mà bởi chính mảnh đất núi non này đang chứng kiến một sự kiện đặc biệt, và đem thêm sinh lực mới cho ông: trong khi thực thi công việc của một sứ thần, ông sẽ có dịp khám phá những sự thật về một đất nước bí hiểm bằng kiến văn và ngòi bút của mình.

Với Nguyễn Du, có lẽ chỉ ở NÚI, thi nhân mới có cái thế tốt nhất, một không gian lý tưởng nhất để có thể khách quan đánh giá, phán định những sự thật, những bản chất của Nhân cách, những lẽ Đúng - Sai của lịch sử: Ngoài thành núi vẫn xanh như trước-Kẻ gian cướp nước người nào còn? (Thành ngoại, thanh sơn tự cựu thì/ Gian hùng soán thiết nhân hà tại? Cựu Hứa Đô).

Những ngày tháng nhà thơ lang bạt nơi Thuỷ viễn sơn trường (sông xa núi dài), Vì lợi danh mà tóc trắng vẫn còn rong ruổi ngoài vạn dặm (Vạn lý lợi danh khu bạch phát), bởi tánh cũ vẫn còn ngông cuồng (cố thái duy cuồng tại) thì điều an ủi lớn nhất là: Cố chịu khổ lạnh suốt ba tháng nữa-Sẽ được ngắm hoa mai trên đỉnh núi (Nhương tận khổ hàn tam duyệt nguyệt/ Lĩnh đầu lạc đắc khán mai hoa. Từ Châu đạo trung). Chính ở nơi Linh Sơn, Nguyễn đã rút ra điều cốt tử của triết lý đạo Phật Đại thừa in đậm trong thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nước ta: Ta đọc Kinh Kim cương hơn nghìn lần-Nhiều yếu chỉ sâu sắc trong đó ta không rõ- Đến nay, dưới đài đá “Chia kinh”-Mới hiểu kinh “không chữ” mới thật là chân kinh (Ngã độc Kim Cương thiên biến linh/ Kì trung áo chỉ đa bất minh/ Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ/ Chung tri vô tự thị chân kinh. Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài).

Chính ở NÚI, Đại thi hào nước Việt khi ngẫm về giá trị văn chương của một tác giả nước bạn, đã “khắc” vào hòn đá thời gian một chân lý lớn mà giản dị cho muôn đời: Nhà thơ không thấy nữa-Đọc thơ như thấy người-(Như) hòn núi lớn chứa đầy của quý (Thi nhân bất đắc kiến/ Kiến thi như kiến nhân/ Đại sơn hưng bảo tạng. Đề Vi, Lư tập hậu). Và đó cũng chính là biểu tượng cho giá trị bất hủ trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du mà ông đã tự khắc vào ngọn “Thi Sơn” chữ Hán! Ngọn “Thi Sơn” đó, chứa đựng những cảm xúc và suy ngẫm về NÚI đã khiến nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã khái quát về Con người - Tác giả Nguyễn Du như sau: “Hóa ra Nguyễn Du không phải chỉ là Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia; mà hình ảnh gợi đúng về ông phải là những ngọn núi, núi đơn độc, núi vượt lên trên sự bằng phẳng. Và thơ Nguyễn Du là một thứ tiếng rền của núi!”(11).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hà Văn Minh - Nguyễn Thị Lan Anh: “Khảo luận về chữ Hán và phân tích hệ thống từ vựng trong Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du”. Những tiếp cận mới trong nghiên cứu-giảng dạy về Nguyễn Du và Truyện Kiều (Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia), NXB ĐHHQG HN, 2021, tr.121.

2. Thơ trích dẫn chủ yếu lấy từ: Mai Quốc Liên - Vũ Tuấn Sán (Dịch nghĩa và chú thích). Nguyễn Du toàn tập, tập 2, NXB Văn học, HN 2015.

3. Hà Văn Minh - Nguyễn Thị Lan Anh: “Khảo luận về chữ Hán và phân tích hệ thống từ vựng trong Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du”, Sđd, tr.124.

4. Trần Đình Sử. Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dục, HN, 1999, tr.254, 255.

5. Trần Đình Sử. Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Sđd, tr.117

6. Hàn Triệu Kỳ. Ẩn sĩ Trung Hoa, Cao Tự Thanh dịch, NXB Trẻ, 2001, TP.HCM, tr.25.

7. Khâu Chấn Thanh. Lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, Mai Xuân Hải dịch, NXB Văn học, HN, 2001, tr. 222.

8. I.X. Lixêvich. Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc, Trần Đình Sử dịch, NXB Giáo dục, HN, 2000, tr.69

9. I.X. Lixêvich. Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc… Sđd, tr.71.

10, 11. Vương Trí Nhàn. “Nguyễn Du như một thi sĩ”, Nguyễn Du Thơ và đời, Nhóm trí thức Việt tuyển chọn, NXB Văn học, HN, 2016, tr.205

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Tám 20259:54 CH(Xem: 12592)
Một lần, khi bước lên tam cấp bằng gạch tàu xưa của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô Sài Gòn, tôi cảm thấy rất sống động, bóng ba tôi trong bộ quần áo màu mỡ gà của ngày ông ra đi, cầm một cây gậy tre đứng dưới bóng cây, tôi nghe rõ như hồi tôi 19 tuổi, ba sẽ làm một hòn non bộ dưới gốc cây này, và tôi đã viết, ở đó, câu thơ … hãy bước lên bậc-tam-cấp-thời-gian, quá khứ-hôm nay-và ngày mai. Và chọn một giấc mơ … đó là điều gắn bó tôi với ba bậc thềm tam cấp. Không phải vì cái ý nghĩa của ba chủ thể Trời – Đất – Con Người trong tri giác tam sinh, để nhắc nhở vô thường Sinh Lão Bệnh Tử, mà tôi cảm giác ba bậc thềm ấy như một dòng thời gian hư ảo. Khi bước lên nó như thể bước vào ngưỡng của giấc mơ. Nó là kinh nghiệm tôi có được khi cảm giác ấy được lặp đi lặp lại, thành một quy ước vô thức mà tôi cho rằng chỉ những ai sống thường trực trong nó mới cảm biết.
19 Tháng Tám 20255:49 CH(Xem: 17735)
Trương Vĩnh Ký (1837–1898) từ lâu đã là một nhân vật nhiều tranh cãi trong lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông là trí thức Tây học sớm nhất, thông thạo nhiều ngoại ngữ, có đóng góp nhất định cho việc phát triển chữ Quốc ngữ. Nhưng đồng thời, ông cũng là viên chức phục vụ trực tiếp cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Giữa hai cực sáng – tối ấy, giới nghiên cứu và văn học Việt Nam đã có những cách đọc rất khác nhau. Một số nhà phê bình văn học, tiêu biểu như Nguyễn Vy Khanh, xem ông là “tinh hoa văn hóa” và là niềm tự hào của dân tộc. Trong khi đó, sử gia Vũ Ngự Chiêu, dựa trên tư liệu gốc và phương pháp khoa học, đã khẳng định Trương Vĩnh Ký là một trí thức bản xứ cộng tác với ngoại bang. Câu hỏi lớn được đặt ra: chúng ta cần văn học để dựng nên huyền thoại, hay cần sử học để nói sự thật?
16 Tháng Tám 20254:58 CH(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
13 Tháng Tám 20251:51 SA(Xem: 13713)
Nhân vụ một giảng viên trường Cao đẳng y tế tại Hà Nội tối ngày 16/7/2025, sau khi nhậu say về đã đâm liên hoàn, gây tai nạn thảm khốc. Một người tử vong tại chỗ, ba mẹ con bị thương, một cháu nhỏ tiên lượng xấu, làm hư hỏng 8 phương tiện khác. Khi tỉnh rượu chỉ còn biết ôm lấy nỗi ân hận sâu sắc, nhưng lỗi không chỉ thuộc về người cầm lái mà còn trách nhiệm của những bạn nhậu, những người ép uống. Lời khai của can phạm, do uống say, mấy lần trước có gọi xe về, có app đặt xe lái hộ, nhưng hôm nay, không hiểu sao lại tự tin lái được (người say khôngbao giờ nghĩ là họ say) lên xe lao đi, đạp nhầm chân ga…
31 Tháng Bảy 202511:31 CH(Xem: 11192)
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
04 Tháng Bảy 202512:16 SA(Xem: 13038)
Một ngày của trung tuần tháng Chín năm 2002, sau khi thoát ra được vòng rào con Đập Mạn Loan, con đập lịch sử, con đập thủy điện đầu tiên trên sông Langcang-Mekong. Từ huyện Manwan bằng đường bộ, chúng tôi lên tới cổ thành Đại Lý (Dali) trời cũng đã sẩm chiều. Đại Lý vẫn được so sánh như một tiểu Kathmandu của Nepal, nơi có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử của hơn 1 triệu sắc dân Bạch (Bai) với gốc rễ văn hóa lâu đời từ hơn 3 ngàn năm. Từ thế kỷ thứ 7, đã có một nước Nam Chiếu (Nanzhao) rất hùng mạnh từng đánh bại quân nhà Đường vào thế kỷ thứ 8. Sang thế kỷ thứ 10 trở thành vương quốc Đại Lý cho tới thế kỷ 14, thời Nguyên Mông (Mongol Yuan) thì không chỉ Đại Lý mà toàn vùng Vân Nam đã trực thuộc vào nước Trung Hoa.
29 Tháng Năm 202512:23 SA(Xem: 19917)
Trong những năm gần đây, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI : Artificial Intelligence) đã tạo ra một làn sóng quan tâm sâu rộng trong giới viết lách. Với nhiều người, đây là một phương tiện mới mẻ, đáng để thử nghiệm. Nhưng với không ít người khác , nhất là những cây bút kỳ cựu hoặc thủ cựu, thì sự xuất hiện của AI đặt ra những hoài nghi, thậm chí phản ứng: Có nên xử dụng AI khi viết văn? Nếu có sự trợ giúp như thế, tác phẩm đó có còn là của cá nhân? Người viết có còn xứng đáng đứng tên tác giả? Tôi từng bỡ ngỡ và đặt những câu hỏi ấy khi mới tiếp xúc với AI. Nhưng nhờ trải nghiệm thực tiễn, tôi dần nhận ra bản chất thật sự của công cụ này – và càng hiểu rõ hơn đâu là ranh giới giữa công cụ hỗ trợ và ý tưởng sáng tạo. Bài viết này chia xẻ góc nhìn cá nhân ấy, không nhằm tranh luận hay áp đặt, mà như một cách giúp bạn đọc hiểu rõ hơn: trí tuệ nhân tạo không hề thay thế con người, và việc xử dụng AI trong sáng tác – nếu trung thực và có ý thức – là điều hợp lý và xứng đáng.
25 Tháng Tư 20255:54 SA(Xem: 17664)
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng. Có bố là công chức từ thời Vua Bảo Đại, ngay sau Hiệp định Genève 1954 ông quyết định đem toàn gia đình vào Nam và chọn định cư ở Đà Lạt. Vũ Xuân Thông tiếp tục theo học trường công lập Trần Hưng Đạo, tới Tú tài 2 không có lớp nên VXT phải vào Sài Gòn theo học trường Chu Văn An cho đến hết năm cuối trung học
16 Tháng Tư 20259:16 CH(Xem: 19302)
PHIM “ĐỊA ĐẠO” của Đạo diễn BÙI THẠC CHUYÊN “Từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước. Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!” TRẦN KHẢI.
18 Tháng Hai 202510:37 CH(Xem: 20498)
Rising Asia là một tạp chí học thuật đa ngành, ra 3 số mỗi năm, hoạt động từ 2021, chủ bút là TS Harish C. Mehta, hiện giảng dạy tại Đại Học Toronto, có trụ sở tại Bengal Ấn Độ. Tạp chí là nguồn tài nguyên để nghiên cứu, và giảng dạy về các vấn đề xã hội Châu Á. Mỗi tập của tạp chí đều có các bài bình luận giải thích về mọi khía cạnh của lịch sử, kinh tế, ngoại giao, văn học, y tế, khoa học, quân sự và văn hóa Châu Á.