- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

TIẾNG NÓI CỦA TRÍ THỨC VIỆT XƯA - NAY TRƯỚC SỰ SUY ĐỒI CỦA PHẬT GIÁO

31 Tháng Tám 202210:27 CH(Xem: 33203)
nu cuoi duc phat- tranh NK

Nụ cười Đức Phật 2006, phù điêu / bas-relief Nguyên Khai:

 [sưu tập Đổ Hoàng, Newport Beach]



Mai An Nguyễn Anh Tuấn
TIẾNG NÓI CỦA TRÍ THỨC VIỆT XƯA - NAY

TRƯỚC SỰ SUY ĐỒI CỦA PHẬT GIÁO

 



Những năm qua, công luận kêu ca phàn nàn nhiều về tình trạng khá suy đồi của sinh hoạt Tôn giáo - nổi bật ở đạo Phật Việt Nam, trước sự tàn phá thiên nhiên để xây dựng những khu Du lịch Tâm linh trá hình khủng nhằm lợi dụng Tôn giáo để kinh doanh… Và mới đây nhất, tràn ngập Mạng Xã hội là hình ảnh những con chim phóng sinh tội nghiệp bị nhốt trong lồng sắt để rồi sau đó ngắc ngoải trước cửa chùa, hình ảnh các vị sư đạo mạo mãn nguyện đặt tay lên đầu phụ nữ, trẻ em đang cúi rạp sát đất tựa Đức Chúa Trời ban phước lành, hình ảnh nhà sư ôm bát vàng đi “khất thực” song lại quơ tay vơ tiền cúng dường, v.v. Cộng với hàng chục câu chuyện không hề bịa đặt về hành vi của không ít nhà tu hành Phật giáo hôm nay cho thấy sự vi phạm hiển nhiên các giới luật nghiêm trang của Phật pháp kinh điển, như sinh hoạt xa hoa, ăn chơi trác táng, khuyến khích các hoạt động mang nặng chất kinh doanh trong các nơi thờ tự, kêu gọi người dân đừng đi du lịch & đừng tiêu tiền bất chính mà để dành cho cúng dường-xây chùa, như việc kiện cáo người dân đã xúc phạm cá nhân mình, v.v. Đáng thương thay, đáng buồn thay, khi một Đất Nước có truyền thống đạo Phật hàng ngàn năm giờ đây lại xuất hiện trong tâm tưởng người dân lương thiện không ít “sư hổ mang”, “ác tăng”!

Tôi chợt nhớ đến câu chuyện cúng dường mà thi hào Ấn Độ R. Tagore kể lại sau đây, trong một thiên tùy bút - thơ đặc sắc của ông:

 Sớm tinh sương, một vị khất sĩ đi trên đường phố sang trọng và rao: “Ai có gì quý báu nhất, hãy đem dâng lên Đức Phật”. Biết bao của cải châu báu bày ra, song vị khất sĩ cứ bước qua tất cả, rồi ông tới khu phố bình dân, và cũng rao như thế. Lại nhiều đồ đạc rải bên chân vị khất sĩ. Ông bước vào khu phố nghèo và lại rao lên… Một người đàn bà bước khỏi cánh cửa tồi tàn, gọi to: “Thưa ngài, xin ngài hãy đợi chút ạ”. Vị khất sĩ đứng im chờ đợi. Lát sau, có một bọc vo tròn ném ra từ sau cửa tới, cùng lời cầu xin nghẹn ngào của người đàn bà: “Thưa ngài! Tôi chỉ còn có độc nhất thứ này thôi… Mong Đức Phật thương tình”. Vị khất sĩ cầm vật đó lên: tấm váy chằng đụp của người đàn bà. Ông ta rưng rưng nói: “Thưa mẹ, đây quả là thứ quý báu nhất của mẹ dâng lên Đức Phật”…

 Thưa các vị tăng - ni đáng kính của Đại Việt xưa - Việt Nam nay!

 Người dân Việt ta vốn sùng Đạo Phật, và hiện cũng không ít người nghèo không kém người đàn bà Ấn Độ kia. Họ muốn dâng lên Đức Phật linh thiêng nhân từ niềm tin yêu sâu sắc của họ, cùng lời cầu mong được Bình An, Hạnh phúc… Nhưng trừ đôi ba kẻ giàu có bằng cách trấn lột của Dân và Tài nguyên quốc gia đã/ đang cúng dường hậu hĩ cho các ngài, thì phần đông chỉ lo được hai bữa ăn xoàng hàng ngày và lo học cho con cũng đã bạc cả tóc rồi, nên có lẽ cái thiêng liêng cao cả nhất của họ dâng lên Đức Phật chỉ là tấm lòng thơm thảo...

Tình trạng Phật giáo hiện đại có gì thực giống với những thời đã khiến nhiều danh sĩ Việt Nam từng lên án sự suy đồi của Phật giáo. Như Vua Lê Thánh Tông vốn là người có tình cảm sâu nặng với chùa chiền và Phật giáo, nhưng chính vì vậy ông càng cảm thấy phiền lòng và phẫn uất với sự sa đọa trong sinh hoạt Phật giáo một số tăng sãi. Truyện “Hai ông Phật cãi nhau” (Thánh Tông di thảo) là một trong cách tỏ thái độ phản ứng và phê phán tinh tế của một vị vua đã tạo nên thời đại Hồng Đức rực rỡ đối với một số ít phần tử chưa xứng đáng trong hàng ngũ tăng già lúc đó. Trước vua Lê Thánh Tông mấy thế kỷ, nhiều nhà nho vốn uyên thâm cả Phật lẫn Đạo cũng đã lên tiếng phê phán Phật giáo khi nó xa rời những yêu cầu cấp thiết của đời sống và Quốc gia mà sa vào thông tục; như lời tâu của nhà nho Đàm Dĩ Mông với vua Lý Cao Tông lên án Phật giáo làm bại hoại phong tục, phương hại giáo lý, sư sãi quá nhiều thoát ly lao động: “Hiện nay số sư sãi đã gần ngang với số phu dịch… (Bọn họ) tự kết bè lũ, lập càn thủ lĩnh, tụ họp thành bầy, làm nhiều việc xấu…” Vì vậy vua đã “xuống chiếu thải bớt bọn nhà sư theo lời Đàm Dĩ Mông” [1].

Các thời sau đó, những nhà nho sử gia, văn nhân nổi tiếng như Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, Lê Quát, Bùi Huy Bích, Phạm Nguyễn Du, v.v chắc đều yêu quý và hiểu đạo Phật, song cũng vì hiểu và yêu nên các ông không chấp nhận được sự suy đồi, bê tha của một số người hoạt động trong Tôn giáo thiêng liêng này, chứ không chỉ vì bênh nho phỉ Phật vì lý tưởng quân chủ mà các ông đang phụng sự.

Xin trích dẫn Trương Hán Siêu trong bài ký “Tháp Linh Tế núi Dục Thúy”: “Ông Thích Ca lấy tam không mà đắc đạo, khi tịch rồi, người đời sau ít phụng Phật giáo mà chỉ làm mê hoặc chúng sinh. Thiên hạ có năm phần đất thì chùa chiền chiếm hết một phần, bỏ cả luân thường, hao phí của cải. Bọn sư sãi thì rông dài, người khờ dại thì vội vã tin theo…”. Người theo Phật thì “lũ lượt đi ở chùa, không cày mà có ăn, không dệt mà có mặc, thất phu thất phụ thường dời nhà cửa, bỏ xóm làng, theo gió cuốn” [2].

Trên văn bia chùa Khai Nghiêm, Trương Hán Siêu nhấn mạnh hơn: “một bọn giảo hoạt gian ngoan, mất hết cả bản ý khổ hạnh không hư, chỉ ham chiếm đoạt được vườn sinh cảnh đẹp, để nhà cửa lộng lẫy như vàng ngọc, tay chân đông đúc như rồng voi… Hiện nay Thánh triều muốn tuyên phong hóa nhà vua để chữa phong tục đồi bại, dị đoan đáng truất bỏ, thanh đạo nên phục hưng… Thế mà cứ bo bo lải nhải chuyện Phật, ta định lừa ai? [3].

Lê Quát, trong văn bia chùa Thiên Phúc (Bắc Giang) cũng viết: “Từ trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta cũng cứ theo, không hẹn mà người ta cũng cứ tin; hễ nơi nào có nhà ở, là ắt có chùa chiền, bỏ rồi lại dựng, hỏng rồi lại sửa, số chuông trống lâu đài chiếm một nửa dân cư…” [4].

Xin lưu ý rằng: hầu hết những lời trên lại được khắc ngay trên những tấm bia ở các chùa, được các vị sư trụ trì các đời trân trọng, bảo quản! Điều đó chứng tỏ: những nhà tu hành chân chính cũng đồng tình với sự phê phán nghiêm khắc của các trí thức đối với những gì bất cập, hư hỏng của nội bộ tăng đoàn và sinh hoạt Phật giáo!

Những lời nhận xét - phê phán trên chứa đựng những sự thực hiển nhiên, lại dường như mang cả nhiệt huyết còn ấm nóng của các vị Tổ dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử - dòng đạo Phật nhập thế của nước Đại Việt được khơi nguồn và phát triển từ thời đại Lý - Trần oanh liệt. Tư tưởng thiền nhập thế đó phải chăng cũng là tư tưởng của Thiền sư Pháp Thuận từng khuyên Vua Lê Đại Hành: “Vô vi trên điện gác/ Chốn chốn tắt đao binh” (Vô vi cư điện các - Xứ xứ tức đao binh. Quốc tộ), của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” được Phật hoàng Trần Nhân Tông nói rõ và đã thực hiện: “Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên; Đói cứ ăn no mệt ngủ liền; Của Báu trong nhà thôi tìm kiếm; Vô tâm trước cảnh hỏi chi Thiền”…

Thời nay, trước sự suy đồi của Phật giáo, trí thức Việt cũng đã có khá nhiều tiếng nói nghiêm khắc, chân tình - như các tác giả Chu Mộng Long, Dạ Ngân, Nguyễn Thế Khoa, Thái Hạo, v.v. Và đặc biệt có một “người trong cuộc” là Hòa thượng Thích Thông Lạc đã nhiều lần lên tiếng gay gắt, trực diện, cụ thể - tuy ông đã bị phản đối không ít từ chính trong nội bộ tăng đoàn Phật giáo, nhưng lại được sự đồng tình của nhiều nhà tu hành chân chính, của phần đông cư sĩ - Phật tử và công chúng rộng rãi. Chỉ cần đọc một đoạn trong bài Hỏi Đáp: NHỮNG TRÒ MÊ TÍN LỪA ĐẢO TRONG CÁC CHÙA, để thấy ông đã thẳng thắn vạch ra những vấn đề nóng bỏng tính thời sự và chân tình khuyên bảo các Tăng Ni - Phật tử:

“Hỏi: Trung tâm thành phố Hà Nội có một ngôi chùa, ở phố Bà Triệu, tại đây đã thực hiện di dân hai lần, tổng chi phí lên tới vài chục tỷ đồng, để cho nhà chùa được rộng rãi khang trang và riêng biệt… Quý sư ni ở đây hành đạo bằng pháp tụng kinh, gõ mõ, dâng sao, giải hạn... và đặc biệt vào khóa lễ đầu năm có làm một chiếc thuyền Bát Nhã bằng giấy để chở vong linh người chết về Tây phương, Niết Bàn... Vậy những việc làm trên của các sư ni có đem lại lợi ích gì cho Phật pháp, cho các sư ni và cho chúng sanh không ạ?

Đáp: Tụng kinh, gõ mõ, dâng sao, giải hạn, làm thuyền bát nhã bằng giấy để chở các vong linh về Tây phương, Niết Bàn, v.v, đó là những việc làm mê tín lừa đảo những tín đồ nhẹ dạ vì thương cha mẹ và những người thân nên bỏ tiền ra cúng để các sư cô ghi tên họ được đưa về Tây Phương Cực Lạc, đó là một việc làm mê tín lạc hậu nhất trong các kinh sách phát triển mà các sư cô thực hiện.

Những việc làm này là những việc phỉ báng Phật giáo, có mục đích tiêu diệt Phật giáo, thấy những việc làm này người có trí hiểu biết sẽ đánh giá Phật giáo là một loại tôn giáo mê tín, lừa đảo, tín đồ, do đó việc làm này  không có lợi mà còn có hại cho Phật giáo rất lớn. Những việc làm này nó không có lợi ích cho con người khiến cho con người tiền mất tật mang chỉ có những người hành nghề bất chánh này là có lợi ích mà thôi.

Bằng chứng như trong thư đã nêu, các ni sư chỉ hành một cái nghề mê tín này mà nhà chùa có hằng tỷ bạc dám bỏ tiền ra di dân để nhà chùa được rộng rãi khang trang hơn. Cho nên không có cái nghề nào làm giàu dễ như làm nghề mê tín trong các chùa. Nghề mê tín là nghề bói khoa, chiêm tinh, cúng sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu dựng vợ gả chồng, làm nhà xây mồ mả v.v.

Nghề mê tín là nghề cúng bái, tụng niệm, cầu siêu, cầu an, làm ma chay, làm tuần cúng vong, tiễn linh, mở cửa mả, đốt tiền vàng mã và nghề dán kho đụn, quần áo, mũ nón, v.v, đó là nghề lừa đảo lường gạt tín đồ Phật giaó. Kinh sách Nguyên Thủy không bao giờ đức Phật dạy, duy chỉ có kinh sách phát triển mới có dạy điều này mà thôi.

Người cư sĩ đệ tử của đức Phật phải có trí tuệ, phải xác nhận thấy biết những điều mê tín không lợi ích cho mình cho người, những điều phi lý mất công bằng, vô đạo đức thì nhất định không làm theo, hoàn toàn không để cho người khác lợi dụng mình, lừa đảo mình. Có như vậy mới làm sáng tỏ lại Phật giáo, mới đem lại nền đạo đức nhân bản không làm khổ mình khổ người…

Tóm lại, quý vị cư sĩ phải đề cao cảnh giác và thường nên tránh xa những giáo pháp trừu tượng, mê tín, cúng bái, cầu siêu, cầu an, bùa chú, thần thông, dù bất cứ những loại thần thông nào, chúng là những pháp môn lừa đảo chứ không có ích lợi gì cho ai cả, quý vị nên nhớ kỹ đừng để mắc lừa, tốn hao tiền bạc, công sức tu tập mà chẳng giải thoát gì, chỉ phí uổng công khó cho một đời tu mà thôi” [5].

Hoặc tâm sự của ông trong PHÁP MÔN NIỆM PHẬT: “Phải sống trong thực tế, đừng mơ mộng ảo huyền, toàn thứ bánh vẽ, thật sự không ích lợi gì cho kiếp sống hiện tại của con người các con ạ!”, hay là: “Những tu sĩ và cư sĩ Phật giáo đều là những bậc Thánh tăng, Thánh ni và Thánh cư sĩ. Vì thế trong đời sống hiện tại trên thế gian, hằng ngày quý vị phải biết cách thức sống đúng đạo đức nhân bản - nhân quả thì sự an vui hạnh phúc mới thực sự là chân thật. Do muốn biết cách thức sống đúng đạo đức nhân bản - nhân quả  nên phải biết rõ ràng từng hành động thân, khẩu, ý của mình như thế nào đúng và như thế nào sai giới luật, sai giới luật là phạm giới. Sống đúng giới luật là sống đúng đức hạnh, sống đúng đức hạnh là sống thương yêu nhau, đem lại sự an vui cho nhau. Sống phi giới luật là sống vô đạo đức, sống vô đạo đức là sống đem khổ đau cho nhau, chẳng biết thương nhau”[6].

Những tiếng nói của trí thức Việt trung thực, nối tiếp truyền thống từ nhiều thế kỷ nhằm phê phán hoạt động Phật giáo - sự phê phán nghiêm khắc, chân tình, để Phật giáo nói chung và ngôi chùa nói riêng cần trở lại linh thiêng và tiếp tục gần gũi với tâm hồn người dân Việt, kể từ thời Bắc thuộc, nói như cố GS. sử học Trần Quốc Vượng: “đạo Phật thấm vào lòng người dân Việt cổ như nước thấm vào lòng đất”, và “Phật giáo trở thành một tư tưởng dân tộc và tổ chức Phật giáo (tăng đoàn, cư sĩ, Phật tử) trở thành một lực lượng dân tộc” [7].

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Hà Nội, 10/8/2022

_______________

[1] Đại việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb KHXH, HN 1972, tr.289.

[2]. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập II, NXB Văn học, HN 1976, tr.196.

[3]. Đại việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb KHXH, HN 1972, tr.156.

[4]. Thơ văn Lý Trần, Tập III, NXB Văn học, HN 1978, tr.145.

[5]. http://phatphapchanthat.blogspot.com/2013/03/su-ong-thich-thong-lac-neu-ra-nhung-gia.html.

[6]. Văn Hóa Phật giáo truyền Thống, Lời nói đầu, tập II, Nxb Tôn Giáo, HN 2011.

[7]. Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nhiều tác giả, Viện triết học, HN 1986, tr.141.


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1417)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 2032)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 3906)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 4062)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 4679)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 4305)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 6702)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 7077)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 7552)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 7111)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…