- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

SỰ TIẾP NỐI CỦA “LEVIATHAN”: THỜI ĐẠI TRỐNG VẮNG TÌNH NGƯỜI

18 Tháng Hai 20224:41 CH(Xem: 32803)

maxresdefault-1513993260590


SỰ TIẾP NỐI CỦA “LEVIATHAN”:     
THỜI ĐẠI TRỐNG VẮNG TÌNH  NGƯỜI   
  
 Xem bộ phim Nga “Chống lại Tình yêu” ("Нелюбовь", 2017)     

Mai An Nguyễn Anh Tuấn     

 

Đó là cảm xúc mạnh nhất, là ấn tượng bao trùm trong tôi về bộ phim Nga “Chống lại Tình yêu” trên FB Khoanglangnuocnga, kể từ những cảnh dài không âm thanh ở đầu phim do máy quay lặng lẽ trượt qua hồ với những cây cối chìm trong băng tuyết, dưới mắt một cậu bé - tới cảnh cuối, sau cảnh tờ rơi tìm trẻ mất tích dán cột bê tông phủ tuyết, lại trở về cảnh đầu phim tựa trong thời tiền sử, giống như ở bộ phim "Leviathan" của chính đạo diễn bộ phim này: Andrey Zvyagintsev!

 

Bộ phim xoay quanh câu chuyện tấn bi kịch của một gia đình trẻ, và lý giải nguyên nhân cậu bé Alyosha đã bỏ nhà ra đi bởi không chịu đựng nổi sự hành hạ tinh thần khi thấy bố mẹ cãi nhau, lăng mạ nhau công khai như những kẻ thù địch, như đó là cách hữu hiệu và mau chóng thoát khỏi nhau để tìm đến Tình yêu “đích thực” của mình… Điều này, nhà phê bình phim người Nga Anton Dolin đã phân tích khá rõ trong bài viết “Chống lại Tình yêu - Bộ phim về sự trống rỗng” ở một tạp chí Điện ảnh: “Họ dường như sợ cô đơn và muốn có sự dịu dàng, quan tâm, ấm áp. Thật ra nhu cầu đó chính là sự tự lừa dối bản thân. Tình yêu của họ là một dạng ích kỷ lý trí, muốn giũ bỏ mọi yếu tố không cần thiết trong cuộc sống cũ. Vô cảm là biện pháp để quên đi mọi cảm xúc, và nếu được, hãy cứ sống mà không cần đến những cảm xúc” (Phan Bạch Yến dịch, FB Khoanglangnuocnga).

 

Nhưng theo tôi, nội dung ý nghĩa bộ phim không chỉ giới hạn ở đó; và nhà phê bình danh tiếng nọ chắc đã cố tình lờ đi điều này: các tác giả phim không muốn chỉ làm một phim tâm lý về sự tan rã gia đình, sự chạy theo tình cảm ích kỷ cá nhân, sự vô cảm trong quan hệ mẹ con, cha con, vợ chồng - dù họ đã làm được điều đó một cách sinh động, đầy thuyết phục - mà còn tham vọng “vẽ” lên một lối sống hiện đại đáng ghê sợ đang biến người ta thành những “robot” biết suy nghĩ: đó là sự dửng dưng của con người trước số phận của đồng bào, đồng loại. Tâm hồn họ tựa những tòa nhà bỏ hoang mà trong phim chúng bộc lộ tính biểu tượng âm thầm. Đây mới là thông điệp của đạo diễn: từ một bi kịch gia đình, bộ phim đã khái quát bi kịch của cả xã hội, gióng lên hồi chuông cảnh báo về hiện trạng người với người quay lưng lại với nhau; sự vô cảm từ những mối quan hệ thân thiết nhất trong gia đình sẽ dẫn đến sự hoang lạnh tình người toàn xã hội. Giữa một thế giới đầy bất ổn, những nạn nhân khốn khổ đang tự chèo chống một mình trong hoạn nạn liệu có cơ hội nào nhận được sự cảm thông từ bên ngoài, từ những người không cùng máu mủ, cùng dân tộc? Bộ phim đã vượt khỏi tầm một phim tâm lý xã hội bình thường để mang trong nó một cách đầy rung cảm ý nghĩa chính trị - xã hội lớn rộng, sâu sắc.

 

Xin hãy nhớ một trường đoạn phim nhiều ý nghĩa gần cuối phim: tại nhà Masha - cô người yêu của Boris, bà mẹ gạ con gái tìm cách moi tiền chồng mới để mở rộng diện tích, bởi “chỗ chúng ta ở đây chật như hũ nút” (cũng là kiểu người mẹ ích kỷ và ác nghiệt của Zhenya); cũng lúc đó, tại nhà chồng mới của Zhenya - mẹ chú bé đương mất tích, trên TV đang có một phóng sự truyền hình về cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Ukraine, các thành phố làng mạc bị phá hủy, hàng ngàn người chết, bánh mỳ phát miễn phí trộn với những thi thể bị xé nát, với lời kêu thét phẫn nộ trong nước mắt của một nữ công nhân: “Vì cái gì mà chúng tôi phải chết?”

 

Đôi vợ chồng mới đang chăm chú theo dõi thời sự kia đâu có thể ngờ rằng: đó là câu hỏi thét vào mặt tất cả những người đang sống yên bình, ấm áp, no đủ nơi có bể bơi và dụng cụ thể thao cao cấp - trong đó có họ, những người đã vô tình đứng vào hàng ngũ những kẻ dửng dưng hưởng thụ trước bao số phận bất hạnh, và chồng thêm vào nỗi bất hạnh kia bằng chính sự lạnh lẽo tình người của họ! Sự bất ổn, nỗi đau khổ của nhân loại sẽ còn tiếp diễn, những em bé ngây thơ sẽ còn bị mất tích, bị ném vào lò thiêu người của bọn phát xít mới, nếu như những người lớn đang tạm sống ở nơi yên ổn cứ rúc đầu trong nhu cầu cá nhân ích kỷ như một thứ “ung thư tinh thần” tới hồi vô phương cứu chữa! Chiến tranh, xung đột sắc tộc - tôn giáo, những lò lửa mới của lòng tham vô độ thời hiện đại sẽ còn đắc thắng khi tìm được “đồng minh” của chúng là những “Philixtanh” đời mới, những kẻ chỉ sống cho bản thân mình, trái tim băng giá trước nỗi khổ đau nhân loại - họ là sản phẩm của một thời đại khô cạn tình người, trống vắng tình thương, và họ cũng tham gia vào sự sinh sôi nảy nở của “con quái vật tinh thần” thời đại, khủng khiếp chẳng kém “Leviathan” mà trong đó, mọi giá trị cao quý của Con người đều trở thành vật mua bán - đổi chác! Ngay từ đầu phim, hình ảnh chú bé Alyosha một mình lang thang đi giữa một vùng ngoại ô Moskva ngập trong tuyết trắng đã gợi cho người xem sự cô đơn cùng cực của trẻ thơ giữa một bối cảnh thiên nhiên buốt giá; và tới kết phim, hình chú bé ấy trên tờ rơi tìm kiếm cùng dải lụa mỏng phất phơ mà cậu từng ném trên ngọn cây là còn nhắc nhở tới sự tồn tại của cậu, đã thực sự cứa vào lòng người về nỗi đau trước sự trơ trọi của cậu giữa cuộc đời lạnh giá - trong đó Tình thương đã bị cướp giật, bị đánh mất…

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
03 Tháng Tám 201910:10 CH(Xem: 46580)
Khi cuộc đấu tranh giành quyền con người đang xảy ra tại Hồng Kông, khi những tinh hoa của phong trào dân chủ ở xứ sở này đang làm cả thế giới ngưỡng phục, khi hầu hết người VN cũng đang hướng về cuộc đấu trí ngoạn mục của người dân Hồng Kông với tất cả lòng ngưỡng mộ, tôi muốn nhắc với chúng ta về một người con gái của đất nước mình. Ngày hôm nay, ở Trà Vinh có một mái nhà nho nhỏ đang ấm lên vì được đón cô trở về.
16 Tháng Bảy 201911:23 CH(Xem: 47185)
Lần đầu được đọc tập ký hoàn chỉnh của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, một tác giả người Việt hải ngoại, tự nhiên trong đầu tôi nảy ra sự so sánh với hàng ngàn vạn bài ký “mậu dịch” của hơn tám trăm tờ báo dưới sự chăn dắt của Ban Tuyên giáo Trung ương. Hóa ra, đó toàn là những sản phẩm đồng phục được chế tác bởi những tác giả, qua sự đào luyện của hệ thống trường ốc, trong đó, cá tính đã được mài nhẵn, tư tưởng được kiểm soát chặt chẽ, mọi phản biện xã hội đều bị giới hạn trong phạm vi cho phép, vì thế, cái gọi là ký ấy chỉ là những văn bản véo von ca ngợi, tự sướng của những cây bút thủ dâm chính trị, tự huyễn hoặc mình. Loại báo chí ấy chẳng những không có lợi, mà trái lại, rất có hại, bởi nó thực chất là dối trá, lừa phỉnh nhân quần.
12 Tháng Sáu 20196:05 CH(Xem: 47932)
Bài thơ chữ Hán Điệp tử thư trung (Con bướm chết trong sách) được xếp ở sát cuối phần Làm quan ở Bắc hà (1802-1804), trong Thanh Hiên thi tập.(1) Có thể nói đây là một trong những bài thơ hay nhất, và kỳ lạ bậc nhất của Tố Như, khi ông chưa tới tuổi “tam thập nhi lập.” Hay và kỳ lạ, song xưa nay nó mới chỉ được điểm qua, chưa hề được phân tích bình giải một cách thấu đáo. (Trong khi, bài Độc Tiểu Thanh ký xếp liền sau đó lại được khai thác khá kỹ trong hàng chục bài viết - ở các bậc phổ thông, đại học và nhiều diễn đàn văn chương). Có lẽ, bởi tính chất kỳ lạ và trừu tượng đến khó hiểu của nó?
15 Tháng Năm 20195:35 CH(Xem: 51694)
Trên vạn dặm Trung Hoa, trong số những di tích lịch sử tôi có dịp được tham quan, có lẽ đền thờ Nhạc Phi nằm ở chân núi Thê Hà cạnh Tây Hồ, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang là di tích để lại cho tôi nhiều ấn tượng khó quên hơn cả. Đặc điểm nổi bật nhất trong kiến trúc của khu đền là giữa không gian rộng rãi, có khu mộ Nhạc Phi cùng con trai Nhạc Vân, đối diện là bốn bức tượng sắt quỳ nhốt trong cũi sắt, đã tạo nên nét đặc sắc chưa từng thấy trong các di tích lịch sử ở Trung Quốc cũng như trên thế giới… Hơn hai trăm năm trước, đại thi hào Nguyễn Du đã tới nơi này, để lại 5 bài thơ chữ Hán vịnh sử bất hủ về Nhạc Phi và những kẻ thủ ác hãm hại người anh hùng của đất nước Trung Hoa cổ đại.
14 Tháng Năm 20199:20 CH(Xem: 48753)
Bài thơ: “Cúng Dường” của thiền sư, thi sĩ Tuệ Sĩ đã được nhiều giảng sư, luận sư, triết gia chuyển dịch, tất cả đều dịch rất sát, rất hay, nhưng trên ý nghĩa của mặt chữ, đã khiến dư luận cảm thương, tội nghiệp khi đọc thi phẩm này, mà theo tôi, sự giải thích sát nghĩa như vậy đã ngược lại hoàn toàn tính hùng vĩ và đại bi tâm của nhân cách tác giả và thi phẩm.
13 Tháng Năm 20198:54 CH(Xem: 51457)
Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình trung nông lớp dưới. Bố Huy Cận đậu tam trường làm hương sư ở Thanh Hoá, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng. Mẹ Huy Cận là cô gái dệt lụa làng Hạ nổi tiếng ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ.
24 Tháng Tư 201911:02 CH(Xem: 49195)
Nhà báo Pháp Paul Dreyfus là một trong 25 nhà báo Pháp có mặt tại Sài Gòn vào giờ phút cuối cùng của tháng Tư năm 1975. Trong cuốn sách của mình với tựa đề "và Sài Gòn sụp đổ" (Et Saigon tomba - Collection Témoignages 1975), tác giả đánh giá sự kiện Sài Gòn thất thủ là sự kiện 'quan trọng nhất' với hệ thống cộng sản châu Á sau cuộc tiến vào Bắc Kinh năm 1949 của Mao. Ông thuật lại những cảm nhận cá nhân qua những lần tiếp xúc với đại tướng Dương văn Minh, tổng thống cuối cùng của miền Nam, theo giới thiệu sau qua lời dịch của nhà báo Phạm Cao Phong từ Paris: Theo Paul Dreyfus, tướng Minh là "một người minh mẫn và nắm vững tình hình". Những tâm sự của tướng Minh thời điểm đó mang lại một cách đánh giá đa chiều về nhân vật gây nhiều tranh cãi.
17 Tháng Tư 20197:44 CH(Xem: 44585)
Tám bài thơ viết về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên mà chúng tôi đã/ sẽ khảo sát đều được đại thi hào Nguyễn Du viết khi chu du trên sóng nước Tiêu Tương, vùng Hồ Nam - nơi nổi tiếng với “Tiêu Tương bát cảnh” từng thu hút cảm hứng vô hạn của bao thế hệ văn nhân, nghệ sĩ Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…
08 Tháng Tư 20199:47 CH(Xem: 42534)
Khoảng thời gian ba thế kỉ XVII-XVIII-XIX là thời thịnh của thể loại truyện nôm. Các nhà văn thời này đều có chấp bút và đã lưu lại nhiều tác phẩm văn chương lôi cuốn nhiều thế hệ người đọc. Truyện Phan Trần là một truyện nôm ra đời trong thời kì này, cụ thể là khoảng cuối thế kỉ XVIII, trễ lắm là đầu thế kỉ XIX.
02 Tháng Tư 201910:27 CH(Xem: 49321)
Cũng như hai bài thơ Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu đã khảo sát ở phần I, trong các bài thơ còn lại về chủ đề này, Nguyễn Du vẫn say mê trò chuyện, luận bàn, thậm chí tranh cãi với Hồn oan nước Sở từ hơn hai ngàn năm, như hồn đang hiển hiện quanh quất bên mình, trên dòng sông lịch sử tựa một nấm mồ lớn đang vùi lấp thân xác của một con người tri âm tri kỷ đặc biệt đối với ông.