- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
2,319,686,071,854,792,290

MỘT THỨ “CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TÀN NHẪN KHÔNG THƯƠNG XÓT” TRONG BỘ PHIM NGA AIKA.

01 Tháng Mười Một 202111:05 CH(Xem: 1921)

IMG20211031083018
Ảnh: Cảnh phim AIKA

 

 

 

MỘT THỨ “CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TÀN NHẪN KHÔNG THƯƠNG XÓT”
TRONG BỘ PHIM NGA AIKA
 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn   

 

Tôi xin tạm mượn nhận định của một nhà văn học sử Nga viết về văn hào F. Dostoyevsky để nghĩ về phim AIKA (sản xuất năm 2017) - bộ phim đã đoạt một số giải thưởng Quốc tế mà tôi vừa được xem, vì thấy rõ một điều: truyền thống hiện thực chói sáng của văn học Nga cổ điển - tiêu biểu là F. Dostoyevsky hóa ra vẫn được tiếp tục một cách xứng đáng trong văn học nghệ thuật Nga hiện đại (ở đây tôi chỉ xin nói tới một dòng của điện ảnh Nga tạm gọi là “Hiện thực tàn nhẫn không thương xót”) - có nghĩa là đã vượt qua vòng “Kim cô” Hiện thực xã hội chủ nghĩa từng thống trị tinh thần xã hội Xô Viết một thời gian dài dẫn đến những tác phẩm nghệ thuật nặng tuyên truyền phục vụ kịp thời và đã rơi vào lãng quên…

 

Dòng phim này đã tạo ra những tác phẩm điện ảnh khiến nhiều Festival phim Quốc tế phải kính nể không kém những phim Nga đã trở thành kinh điển (Bài ca người lính, Người thứ 41, Đàn sếu bay qua, Ga dành cho hai người, v.v) - đó là những phim như Trung tá, Xạ thủ Voroshilov, Vụ án cửa hàng thực phẩm số 1, YARIK, AIKA, v. v - những phim đã được giới thiệu bằng lời thoại phim tiếng Việt khá chuẩn bởi những người có một tình yêu đặc biệt đối với văn hóa - điện ảnh Nga…

 

Dòng phim này, theo như Ban quản trị FB “Khoảng lặng nước Nga”, đã bị không ít người phản đối, cho rằng đó là những phim “bôi đen” xã hội Nga đương đại, “ném bùn” vào đất nước của Lê Nin vĩ đại… Nhưng, cũng theo thông tin chính thức của BQT trang, đó là những phim “có ghi trên générique: “Được sự hỗ trợ của Bộ văn hóa Liên bang Nga” và không ít phim đoạt được những giải thưởng Quốc tế là những phim chính danh, được nhà nước Nga duyệt và thực sự xuất sắc”; còn phim AIKA mới đây nhất đã có 6 giải thưởng cho phim và diễn viên chính ở mấy Liên hoan phim danh giá!

 

Những vấn đề được các nghệ sĩ có lương tâm phản ánh trong các phim nổi bật nhất của dòng phim kể trên cho người xem thấy những vấn đề của toàn cầu mà người dân Nga và xã hội Nga hiện đại phải đương đầu giải quyết, đối phó - đặc biệt kể từ khi tan rã Liên bang Xô viết - như tàn phá môi trường, sự lũng đoạn Nhà nước, đầu cơ tài chính, nạn di cư, nạn buôn bán nội tạng người, sự suy thoái cạn kiệt những giá trị nhân văn, v.v. Những nghệ sĩ điện ảnh trung thực Nga hôm nay dũng cảm vạch ra những yếu kém, thiển cận và tham lam của không ít người trong giới cầm quyền bị thao túng, bị mua đứt hoàn toàn bởi những bàn tay “bạch tuộc” tài chính nhơ bẩn, những “Mafia” thế hệ mới… Nhiều trường đoạn phim đã miêu tả chân thực sự ăn đút lót trắng trợn, công lý như trò đùa được điều khiển bằng đồng tiền và địa vị của kẻ có quyền thế, chủ nghĩa cá nhân hoang dã bắt đầu đắc thắng, nhân phẩm và mạng người lương thiện bị coi rẻ, đồng chí đồng nghiệp sẵn sàng giết nhau để bịt đầu mối…

 

Xem AIKA, từng phút phim từ đầu cho đến cuối, trôi qua trong cảm xúc khán giả là sự trĩu nặng lo lắng, xót thương cho thân phận một cô gái trẻ Kyrgyzstan di cư bất hợp pháp về Moskva. Cô bị lừa đảo trong kinh doanh, bị hãm hiếp mang thai hoang, rồi đành bỏ con mới dứt ruột tại nhà Hộ sinh chạy trốn giữa ngày tuyết rơi… Ở thuê trọ chui lủi cũng bất hợp pháp, bơ vơ tìm công việc mưu sinh giữa sự thôi thúc đe dọa đòi nợ, bị băng huyết vẫn cố xin làm mọi việc nhục nhằn, rồi bị quỵt tiền công, bị đuổi việc, cướp việc… Cô chỉ có lối thoát duy nhất để giữ tính mạng mình và chị gái mình, là bán đứa con mới đẻ trả nợ bọn cho vay nặng lãi ( Buộc ta phải nhớ đến hình ảnh đứa bé lạc mẹ bị nằm trên cáng bọn giết người cùng chuyện hàng ngàn đứa trẻ ở Liên Xô một thời hàng năm bị bán ra khỏi đất nước bởi bọn buôn nội tạng trong phim Nga YARIK!) Bị dồn vào cảnh ngộ bế tắc, cùng đường, bản năng sinh tồn của cô gái dường càng thêm mạnh mẽ, và dù có lúc nổi xung trước người cướp việc của mình, cô vẫn không đánh mất bản tính lương thiện… Và sau cùng, bản tính cao cả của người Mẹ đã sống dậy hoàn toàn khi cô ôm con từ nhà hộ sinh ra, nghe tiếng con khóc, và cô đã cho con bú sau mấy ngày phải cắn răng vắt sữa đổ đi cùng nước mắt!

 

Bộ phim như được quay theo trường phái “Tân hiện thực Ý” vào giữa thế kỷ trước, không có ngôi sao, không có dàn dựng trường quay mà bám vào sinh hoạt đời thường có những sự biến ngoài dự kiến của người làm phim - việc làm lông gà, chuyện chữa thú cưng, chuyện gạt tuyết trên đường phố, những cuộc mặc cả, đòi nợ trơ tráo lạnh lùng… Tông phim cơ bản chỉ hai màu Trắng - Xám diễn tả thành phố toàn cảnh với những con đường phủ băng tuyết trắng xóa và những ngõ hẻm, góc nhà tối tăm chứa những số phận trắc trở càng như thêm bấp bênh bởi máy quay cầm tay lướt qua hoặc dừng lại trong những cảnh hẹp… Và có nhiều cảnh phim đắt giá tác động tới cảm xúc hết sức tự nhiên và buộc người xem phải suy ngẫm, như cảnh cô gái người ướt sũng đang nén đau vì chảy băng huyết tìm đường vào nhà vệ sinh lại phải tránh mấy con chó hung hăng của bà nhà giàu đến phòng chữa thú y; cảnh cô gái khi đương lau dọn bãi thải của chó mèo thì phải ôm ngực vì tức sữa, lại còn phải tận mắt chứng kiến mấy chú chó con hau háu bú mẹ trên bàn mổ, những cặp mắt thú nhỏ long lanh niềm vui sống và tình mẫu tử mà cô thèm ước nhưng đành vứt bỏ một cách phũ phàng… Cái kết khá bất ngờ song cũng hợp logic tâm lý nhân vật và cả tâm lý người xem: cô gái trốn bọn mua bán trẻ trong một góc nhà, trộm cho đứa con đang khát sữa bú mẹ, và nước mắt của một người mẹ thật sự đã chảy ràn rụa - nước mắt duy nhất của cô gái bất hạnh trong suốt bộ phim! Những giọt nước mắt có khả năng lay động, thức tỉnh lương tri giữa cảnh ngộ cả trời đất lẫn lòng người đang băng giá; câu chuyện tâm lý trong một số phận cụ thể đã bật ra một vấn đề xã hội nóng bỏng buộc hàng triệu người xem phải suy nghĩ: Số phận con người rồi sẽ ra sao trong một hoàn cảnh xã hội chưa biết đến khi nào chấm dứt sự thù địch, thú tính, đầy bạo lực (dù phim không hề có một cảnh bạo lực cụ thể nào)?

 

Sự thẳng thắn, không né tránh hiện thực, dù chúng có tàn nhẫn, đau đớn tới đâu, nhằm rung những hồi chuông báo động thật dữ dằn trước sự tan rã của Tính người - Tình nhân loại trong thời đại này, phải chăng đó cũng là một Sứ mệnh cần thiết và cao cả của người nghệ sĩ ở bất cứ đất nước nào? Tôi tin bộ phim AIKA có thể gợi ý được rất nhiều cho văn nghệ sĩ Việt Nam hôm nay…

 

Một số giải thưởng cho phim AIKA của đạo diễn Sergei Dvortsevoy:

2018: Giải “Cành cọ vàng” dành cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (Samal Eslyamova) tại Liên hoan phim Cannes lần thứ 71.

2018: Giải Grand Prix tại Liên hoan phim quốc tế lần thứ 28 ở Cottbus của Đức và Giải thưởng của Ban giám khảo.

2018: Giải Grand Prix tại Liên hoan phim Tokyo Filmex

2018: Lọt vào danh sách rút gọn của giải Oscar trong đề cử "Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất".

v.v.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 200912:00 SA(Xem: 88609)
K ể từ năm 1975, hàng năm cứ đến mùa giỗ Đệ Nhị VNCH dịp tháng Tư là những kẻ thua cay lại lôi Trịnh công Sơn ra làm quả banh da của võ sinh quyền Anh đấm cho đỡ ngứa tay ngứa miệng...
13 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 84012)
Năm 1995, Vi Thuỳ Linh đăng in bài thơ đầu tay của mình trên báo Tiền phong . Năm 1999, nhà xuất bản Hội Nhà văn in tập thơ Khát của chị; Nguyễn Trọng Tạo khi viết lời tựa cho tập thơ đó, đã xác quyết mạnh mẽ rằng: Vi Thùy Linh đi vào thơ hiện đại bằng “con ngựa chữ nghĩa dậy thì”.
22 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 21040)
Độc giả ngày nay có lẽ không mấy người biết Vũ Khắc Khoan là ai. Mặc nhiên ông là một trong những tác gia lớn - tên tuổi có lẽ không nổi tiếng như Võ Phiến, Mai Thảo hay Thanh Tâm Tuyền - đã để lại những tác phẩm độc đáo, đánh dấu những biến chuyển quan trọng về bút pháp và tư tưởng, trong nửa sau thế kỷ XX, của văn học Việt.
22 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 25023)
"Mới" đây là mới được công bố. Trong sự nghiệp sáng tạo nhiều mặt của mình, Lưu Quang Vũ ký thác tâm sự sâu nặng nhất, thể hiện mình rõ nhất ở thơ.
23 Tháng Hai 200912:00 SA(Xem: 79849)
Tập tài liệu được nói tới ở đây là một tập hợp những bài viết của “một số lão đồng chí đã từng công tác trong Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam đầu những năm 50 của thế kỷ 20” theo lời của Nhóm biên tập sách viết trong Lời Cuối Sách vào tháng 12 năm 2001.
17 Tháng Giêng 200912:00 SA(Xem: 21700)
Năm 2007, hội họa của Lê Bá Đảng chuyển sang một giai đoạn mới mà ông gọi là cõi người ta.  Cách đây hai mươi năm, họa sĩ đã tìm ra chất liệu thể hiện không gian Lê Bá Đảng , khai phá lối nhìn nhiều chiều về cõi nhân sinh trong hội họa. Cõi người ta là một họa trình mới, kết hợp không gian với tâm linh con người, thể hiện tâm hồn con người trong không gian và trong tạo vật.
17 Tháng Giêng 200912:00 SA(Xem: 28361)
Nửa đầu thế kỷ, thơ Việt có chuyển đổi về mặt cơ cấu, từ mô hình kiểu trung đại chuyển sang một mô hình hiện đại. Khi thơ như một cơ cấu đã ổn định, từ sau 1945, cái định hướng rõ nhất là chuyển đổi chức năng để phục vụ xã hội. Trong cả hai cuộc vận động, người ta đều thấy Xuân Diệu là một trong những tên tuổi được nhắc nhở nhiều nhất.
09 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 20768)
Lý Nhuệ (Li Rui) sinh năm 1950 tại Bắc Kinh, nguyên quán ở Tự Cống, tỉnh Tứ xuyên. Ông bắt đầu sự nghiệp viết văn từ năm 1970. Các tác phẩm chính: Tập truyện ngắn Hậu thổ , các tiểu thuyết Cây không gió, Chốn xưa, Ngàn dặm không mây, Ngân thành cố sự . Lý Nhuệ đạt giải thưởng Truyền thông văn học Hoa ngữ lần thứ V.
08 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 21577)
Truyện của Phạm Ngọc Lương tỏa ra một không khí, thoáng tưởng dịu dàng, nhưng đọc kỹ thì thật sự kinh hoàng: pha trộn giữa điên và thực về cái chết. Ba cái chết: chữ chết, môi trường chết và đạo đức chết ...
29 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 19061)
Sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng dựa trên ba tiêu đề chính: Tác phẩm lịch sử: hai tiểu thuyết Đêm hội long trì, An Tư và kịch Vũ Như Tô , sáng tác trong khoảng 1939-1945. Tác phẩm thời đại: kịch Những người ở lại và tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô , viết trong khoảng 1954-1960. Và Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng trải dài trong 30 năm, từ 1930 đến 1960.