- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,286,352

HAI NHÀ THƠ HUẾ

05 Tháng Ba 20198:59 CH(Xem: 1018)

(Viết, nhân đọc một tin… tức mình) - Lưu Dân


Huế là xứ thơ. Có lẽ do các yếu tố lịch sử, phong cảnh và nếp sống, vùng đất sông Hương núi Ngự là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ – cả nổi tiếng lẫn khét tiếng. Nếu kể hết tên, chắc chắn sẽ thiếu sót. Bài này chỉ viết lơn tơn – không phải với mục đích phê bình văn học hoặc tài liệu giáo khoa gì ráo – về hai tác giả mà cuộc đời và sự nghiệp có những liên hệ oái oăm về thân tộc và chỗ đứng của họ trên văn đàn và trong lòng độc giả.



Tố Hữu, bia miệng để đời

Theo tin của một số báo trong nước, đầu năm nay (2019) một khu lưu niệm nhá thơ Tố Hữu sẽ được xây dựng tại thôn Tân Xuân Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế "nhằm tri ân những đóng góp của ông cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng đất nước, góp phần giáo dục truyền thống và tạo điểm tham quan góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương”.

 

HaiNhaThoHue 1
Thông báo xây dựng khu tưởng niệm ông Tố Hữu tại Huế.




Kinh phí dự trù – chỉ mới dự trù thôi, chưa kể phần “chi phí phát sinh” thường thấy trong các dự án công cộng ở Việt Nam – là 28 tỷ đồng, lấy từ ngân sách nhà nước (tức tiền thuế của dân).

Để bạn có thể hình dung, khoản tiền ấy (hơn 1 triệu Mỹ kim) bằng chi phí xây dựng khoảng 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá cấp xã – không tính đến giá trị của diện tích đất khá lớn ở vị trí đắc địa của huyện.

Ừ, thì UBND Thừa Thiên – Huế có lý do để làm như vậy vì ông Tố Hữu không chỉ là một nhà lãnh đạo của đảng CSVN mà còn được coi như “nhà thơ cách mạng hàng đầu” của chế độ. Với họ, việc xây dựng khu lưu niệm là ưu tiên hơn 10 trường tiểu học hoặc 10 bệnh xá ở tỉnh miền trung “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn” này.

(Thật ra, khi còn sinh tiền, ông Tố Hữu khiêm nhượng nhận mình đứng… thứ nhì. Dĩ nhiên, người được xếp hạng trên ông là… “bác”, tác giả được bộ máy tuyên truyền của chế độ thổi lên như “nhà thơ vĩ đại nhất của dân tộc sau Nguyễn Trãi” và cũng là người viết nhiều quyển sách tự ca tụng mình dưới các bút hiệu khác nhau).Cuộc đời và sự nghiệp của Tố Hữu (1920 – 2002) được chia làm hai phần (không hoàn toàn rõ rệt vì chúng chồng lấn nhau): làm quan và làm thơ. Khi làm quan, ông cũng làm thơ ca tụng chế độ và khi làm thơ, ông viết những bài đầy chất miệng nhà quan.

Đời làm quan của Tố Hữu là một thất bại hiển nhiên. Khi ông đạt đến ngôi vị quan trường cao nhất cũng là lúc người dân sáng tác câu vè mỉa mai “Nhà thơ làm kinh tế / Thống chế đi đặt vòng”. [1]

 

HaiNhaThoHue 2
Nhà thơ Tố Hữu và tập thơ Theo Chân Bác


Đời làm thơ của Tố Hữu càng thảm hại hơn. Dù đã in hàng chục tập thơ và các sáng tác của ông được giảng dạy rộng khắp từ bậc tiểu học lên đến đại học trong nhiều thập niên, nhưng sự nghiệp văn chương của Tố Hữu ngày nay chỉ còn lại một cái bỉu môi kinh tởm bởi những người cầm bút cùng thời và thế hệ kế tiếp.

Họ không còn muốn đọc – và thậm chí, không thèm đọc – những bài thơ chiến đấu đầy tính “lãng mạn cách mạng” của thời Việt Bắc, Theo Chân Bác, Ba Mươi Năm Đời Ta Có Đảng hoặc Từ Ấy mà chỉ nhớ những đòn thù dã man của Tố Hữu vì tư oán và ghen tài đối với những văn nghệ sĩ chân chính chỉ viết theo lương tâm của người cầm bút.

Trường hợp Nhân Văn – Giai Phẩm ở miền Bắc (từ năm 1955-58) là một ví dụ rõ nét nhất. Cuộc đời oan khiên, bầm dập, tan nát của những tài hoa kiệt xuất trong nền văn học nước nhà như Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Cung… không thể nào đổ thừa cho ai khác ngoài Tố Hữu, Thứ trưởng Bộ Tuyên truyển kiêm “Quan đầu ngành” kiểm soát tư tưởng của giới văn nghệ sĩ miền Bắc.

Khi Nhân Văn – Giai Phẩm bùng nổ, Tố Hữu đã thẳng tay ra lệnh đàn áp, bắt bớ các thành viên cột trụ của phong trào. Tuy ngày nay vụ oan khuất Nhân Văn – Giai Phẩm đã sáng tỏ và các nạn nhân được phục hồi danh dự nhưng Tố Hữu vẫn dửng dưng như người vô can mặc dù nhiều người trong cuộc chỉ đích danh ông ta là kẻ bách hại tự do sáng tác của phong trào này.

HaiNhaThoHue 3
Nhà thơ Tố Hữu (bên trái) và Tổng Bí thư Lê Duẩn

Hãy nghe một vài nhận định tiêu biểu trong giới cầm bút ở cả hai miền, cùng và sau thế hệ của Tố Hữu:

Nhà văn Nguyễn Viện, một người bất đồng chính kiến sống tại Sài Gòn, cho rằng thơ của Tố Hữu không hay, thơ của ông nặng tính tuyên truyền, đôi khi đến nỗi khát máu và nịnh bợ quá đáng.

Nhà thơ Hoàng Hưng, sống ở miền Bắc, thuộc thế hệ những văn nghệ sĩ từng bị đàn áp trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, đồng ý rằng thơ Tố Hữu một thời đã thấm sâu vào dân chúng còn hơn cả ca dao nhưng vẫn là thơ tuyên truyền.

Ngoài cái việc chung (phục vụ cho chế độ) thì ông Tố Hữu còn có cái tư thù, vì nhóm Nhân Văn dám làm một cuộc hội thảo để phê bình tập thơ Việt Bắc của ông ấy, trong đó có hai người là Trần Dần và Hoàng Cầm.”

Một bài thơ của Tố Hữu được phổ biến và học tập rộng rãi trong thời Cải cách Ruộng đất, lại là những câu sát máu rợn người và vong bản tột cùng:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ.          

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,                                        

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt

Hoặc những câu thơ vô sỉ như thế này đã và vĩnh viễn là vết nhơ trong dòng thơ hiện đại Việt Nam, kể cả dòng thơ cách mạng:

Áo Ông trắng giữa mây hồng                                                                  

Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười                                                      

Stalin! Stalin!                                                                                          

Yêu biết mấy, nghe con tập nói                                                             

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!                                                                  

….

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười.

Ngay cả những bài thơ về tình yêu của Tố Hữu cũng “thấm đẫm tính đảng”:

Tim anh đó chia ba phần tươi đỏ

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ và phần để em yêu

Em khẽ bảo thế cũng nhiều anh nhỉ... [2]

Việt Nam là nơi có nhiều khu lưu niệm, tượng đài, bia đá nhiều nhất thế giới, một kỷ lục mà quan chức nhà nước rất tự hào. Người ta đua nhau xây dựng các công trình đó – để làm gì, ai cũng biết – dù có khi những nhân vật / sự kiện được lưu niệm chỉ là sản phẩm của sự lừa dối (như anh hùng Lê Văn Tám tẩm xăng chạy vào đốt trại giặc, liệt sĩ Võ Thị Sáu cài hoa lê-ki-ma lên mái tóc trên đường ra sân bắn, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai...).

Tố Hữu không là một trường hợp như vậy. Ông ta là con người với những câu chuyện có thật còn rỉ máu một thời chuyên chính vô sản. Ông ta có xứng đáng được người dân lưu niệm, lập bia hay không?

Nhà thơ Đỗ Trung Quân, tác giả của bài thơ Bài Học Đầu Cho Con được phổ nhạc với tựa Quê Hương (là chùm khế ngọt), một người cầm bút thuộc thế hệ sau ở miền Nam, nhận xét về Tố Hữu:

Ông ấy là một nhà thơ nổi tiếng, nổi tiếng theo kiểu là hàng đầu của văn học cách mạng. Nhưng đó là chuyện của cách mạng, không phải là chuyện của tôi… Cứ xây đi (khu lưu niệm Tố Hữu), để sau này người ta còn có cái để mà hạ xuống.

Mới hay ông bà mình từ xưa nói chẳng hề sai:

Trăm năm bia đá cũng mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Phùng Quán, nhà thơ chân thật

Tuy quan điểm sáng tác và vị trí xã hội khác nhau – và đối nghịch nhau – nhưng, như một định phận trớ trêu, Phùng Quán (1932 – 1995) và Tố Hữu lại có quan hệ thân tộc với nhau. Trong tác phẩm “Ba phút sự thật”, Phùng Quán viết ông gọi Tố Hữu bằng cậu nhưng thực ra Tố Hữu là bác (anh ruột của mẹ) của ông, theo cách xưng hô của người Bắc.

 

Phùng Quán bắt đầu viết từ rất sớm, khoảng năm 20 tuổi, phần lớn là văn. Ông nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay “Vượt Côn Đảo”, được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955 [3]. Nhưng sự nghiệp của Phùng Quán thật sự đi vào văn học sử - và cuộc đời ông cũng bắt đầu bị cuốn xoáy xuống tận cùng oan nghiệt vì họa văn tự - sau hai bài thơ “Lời Mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí” đăng trong Nhân Văn – Giai Phẩm năm 1957. Gần như lập tức, hai bài thơ này được coi như tuyên ngôn lương thức của giới văn nghệ sĩ miền Bắc lúc ấy.

 

HaiNhaThoHue 4
Phùng Quán thời trẻ

Phùng Quán bị kỷ luật, tống xuất khỏi quân đội và bị tước tư cách hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ ấy, ông bị lưu đày trong các trại tù cải tạo ở nhiều nơi và sống lây lất với kiếp “câu trộm, rượu chịu, văn chui” [4] suốt gần 30 năm cho đến thời kỳ “đổi mới” giữa thập niên 1980, khi các thành viên của Nhân Văn – Giai Phẩm được phục hồi danh dự.

Trong suốt thời gian bầm dập đó, tên tuổi Phùng Quán hầu như biến mất trên văn đàn dù ông vẫn “viết chui” (lấy tên người khác) và nhận được một số giải thưởng lớn (vẫn do... người khác lãnh) [5].

Phùng Quán chỉ chính thức cầm bút lại năm 1988 với quyển tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” đoạt Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng đã sáng tác nhiều bài thơ giá trị như Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe...

 

Oái oăm thay, năm 2007, tức 12 năm sau khi ông qua đời, Chủ tịch nước CHXHCNVN ký quyết định truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho Phùng Quán (cùng với Trần DầnLê ĐạtHoàng Cầm). Không biết dưới suối vàng ông có vui lòng lãnh nhận giải thưởng này không để đánh đổi cả cuộc đời bị đọa đày tủi nhục.

 

HaiNhaThoHue 5
Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)



Thơ Phùng Quán, đặc biệt là bài Lời Mẹ dặn (viết khi tác giả mới 25 tuổi), như kể chuyện, đơn giản đến mức ai cũng có thể viết được, nhưng nó lại có một sức hút kỳ lạ khó cưỡng vì chứa đựng một lý tưởng nhân văn thuần khiết và cao đẹp:

 

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
...

Rồi đến lúc lớn khôn, Mẹ dạy:

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
...

Đến khi trở thành nhà văn, tác giả tự nguyện:

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

 

Hơn nửa thế kỷ qua, bài thơ đã trở thành tài sản tâm hồn của nhiều thế hệ độc giả ở cả hai miền Nam Bắc. Chẳng có gì lạ mà sau này, trong tuyển tập 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ 20 của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục, Lời Mẹ Dặn được trang trọng in lại, dù vì nó mà tác giả đã long đong gần suốt một đời.

HaiNhaThoHue 6
Thơ đề trên thơ - Phùng Quán

Dịch giả Nguyễn Hiệu, nguyên Trưởng ban Tu thư của Đại học Vạn Hạnh và cũng là một bạn tâm giao với Phùng Quán, đã đưa ra lý do sâu xa của sự thù hận và trù dập ấy. Ông cho rằng bài thơ mang đậm tính phản kháng, trực tiếp chạm đến một nhân vật mà ai cũng biết, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Hiệu nhận xét:

 

"Bài Lời Mẹ Dặn nó có một ý nghĩa lớn. Đối với Phùng Quán, với tôi và rất nhiều người bởi vì bài thơ ấy anh viết năm 25 tuổi thôi nhưng anh đã nói những điều đại kỵ đối với miền Bắc trong ấy có bốn câu “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét / Dù ai ngon ngọt nuông chiều / Cũng không nói yêu thành ghét / Dù ai cầm dao dọa giết cũng không nói ghét thành yêu.”

 

Những câu này trực tiếp nhắm vào Hồ Chí Minh và nhắm vào giáo dục miền Bắc tức là không ai yêu Hồ Chí Minh cả nhưng mà từ nhỏ tới lớn mọi người được dạy là ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng? Cái câu của Phùng Quán bảo “Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét” là câu chạm nọc họ kinh khủng lắm.

 

Cho nên đến năm 1995 thì họ muốn xoa dịu những người trong Nhân Văn - Giai Phẩm, họ hứa in cho mỗi người một tập thơ và 5 triệu tiền nhuận bút thế nhưng họ bảo với Phùng Quán là phải bỏ bài thơ “Lời Mẹ Dặn” ra, Phùng Quán nhất định không chịu và sau khi anh chết họ mới chịu in bài thơ này."

 

HaiNhaThoHue 7
Phần mộ của Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm

Phùng Quán mất ngày 22.01.1995 (cũng là ngày sinh của ông) tại Hà Nội. Sau khi vợ ông, nhà giáo Vũ Bội Trâm, qua đời năm 2010, thể theo lời di chúc của ông: Tôi sẽ đào nấm huyệt / Cạnh mồ cha mẹ tôi, gia đình đã đưa hài cốt ông bà về cải táng (năm 2011) tại quê nhà ở làng Thanh Thủy Thượng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Phần mộ trang nhã và khiêm tốn của họ - do bạn bè và những người ái mộ trong và ngoài nước quyên góp xây dựng (không phải 28 tỷ đồng trích từ ngân sách nhà nước) – chỉ chiếm một diện tích khoảng 20 mét vuông, nằm thoai thoải trên một triền đồi nhỏ, nhìn xuống một hồ nuôi cá và, cách đó không xa, một con đường làng nhỏ mang tên ông với một “Quán nhậu bình dân Phùng Quán”.

 

HaiNhaThoHue 8
Lưu Dân tại ngã ba đường Phùng Quán và quán nhậu bình dân Phùng QuánThêm chú thích

Từ nay, Phùng Quán vĩnh viễn thoát khỏi cuộc đời “câu trộm, rượu chịu, văn chui” vì không ai còn có thể giam hãm hoặc cấm đoán một hồn thơ khẳng khái và chân thật của ông được. Hồ cá trước mặt, quán nhậu bên cạnh và văn của ông đã được người đời khắc lên trên đá.

(Nếu bạn có dịp đến thăm, ngôi mộ Nhà thơ Phùng Quán và Nhà giáo Vũ Thi Bội Trâm nằm cách Thành phố Huế khoảng 6km về phía nam, trên đường đi phi trường Phú Bài. Bạn phải để ý kỹ vì chỉ có một tấm bảng nhỏ phía tay mặt ghi dòng chữ “Mộ Phùng Quán” dẫn vào một hương lộ có thể chạy xe hơi, khoảng 10 phút là tới.)

Theo lời kể của một người bạn thân trong gia đình, Phùng Quán đã có lần đến thăm Tố Hữu, khi người cậu là quan chức cao cấp của chế độ và đứa cháu lại là một nhà thơ phản động. Hai người chỉ dấm dẳng dăm câu vì không hợp nhau. Đại khái Tố Hữu có lời khuyên gì đó nhưng Phùng Quán không nghe và bỏ về. Sau, Tố Hữu lại nhắn: “Quán, đừng dại nữa!” Nghe chuyện, Phùng Quán cười: “Mình dại lâu rồi, nhưng chỉ muốn làm người chân thật.”

Bây giờ, cả hai đều đã trở thành người thiên cổ.

Thế mới hay, khôn (như Tố Hữu) cũng chết, mà dại (như Phùng Quán) cũng chết. Một khu lưu niệm hàng ngàn mét vuông trị giá tiền tỷ hay một phần mộ nho nhỏ tha hồ gió reo trên đồi cũng như nhau thôi. Chỉ còn lại trơ trơ ngàn năm một tấm bia miệng.

*************

[1] Câu vè này nói về Tố Hữu và Võ Nguyên Giáp. Tố Hữu từng nắm chức vụ Phó Thủ tướng phụ trách về kinh tế trong những năm 1980. Quyết định của Tố Hữu về “Giá, Lương, Tiền” đã khiến tốc độ lạm phát của Việt Nam lúc ấy tăng đến 770%. Trong thời gian này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị hạ tầng công tác do sự đấu đá nội bộ, Ông ta bị sỉ nhục bởi “công tác đảng giao” về làm Chủ tịch Ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch.

[2] Đoạn thơ này sau năm 1975 bị dân cà-phê vỉa hè “nhái” lại để mô tả hiện tượng cán bộ CS hủ hóa, bỏ bê gia đình chạy theo đào nhí: Lương anh đó chia ba phần to nhỏ / Anh dành riêng cho bả phần nhiều / Phần bao em và phần để anh tiêu / Em sẽ bảo thế cũng liều anh nhỉ...

 

[3] Trong một bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Lập, Phùng Quán thú nhận truyện Vượt Côn Đảo là… bịa. Hồi đó, ông nghe người ta kể lại một phần ông bịa ra chín phần. “… Cho đến ngày anh (PQ) ngồi kể cho mình (NQL) nghe, khoảng năm 85 – 86 chi đó, anh vẫn chưa biết Côn Đảo méo hay tròn. Trong đó có mấy câu anh tả con đường từ nhà tù ra Bãi Dương (trường bắn) được lót xương của các tù nhân bị án tử hình. Là anh bịa ra thế để nâng cao lòng căm thù Đế quốc thực dân chứ xương người làm sao lót được đường. Chẳng ngờ trong hồi ký của một ông ở tù Côn Đảo về (ông này nổi tiếng lắm, không dám nêu tên) khi viết về con đường này cũng tả y chang như anh, cũng con đường lót xương các tù nhân…”

 

“Cũng chuyện tù Côn Đảo, trong Trường ca Võ Thị Sáu, anh (PQ) viết tuổi 16 chị Sáu vẫn hái hoa lê-ki-ma cài tóc. Buổi sáng ngày bị hành hình, chị đã ngắt một nhành hoa lê-ki-ma cài lên mái tóc, trên đường ra pháp trường, vừa đi vừa hát. Anh đâu biết lê-ki-ma là cây gì, nghe cái tên đẹp thì tưởng hoa của nó chắc đẹp lắm. Sau này mới biết lê-ki-ma thực ra là cây quả trứng gà, hoa đã xấu lại đầy nhựa, “ngắt một nhành hoa cài mái tóc” có mà dở hơi… Anh Quán cười khà khà, nói sau này hễ viết về chị Võ Thị Sáu thì người ta lại bê nguyên chi tiết này vào, vui quá là vui.”

 

[4] “Sinh kế” của Phùng Quán trong suốt quãng đời bị trù dập là câu cá trộm (không có giấy phép) vào ban đêm ở các hồ quanh Hà Nội, nhiều nhất là ở Hồ Tây. Ông trở thành “thợ câu” do sự giúp đỡ và che chở của vài người bạn lính trong đơn vị cũ hâm mộ thơ ông. Ban đầu, ông không biết nghề, chật vật lắm mới đủ một bữa “cơm đầu ghế” (ngày nay gọi là cơm bụi), nhưng về sau ông trở thành một “chuyên gia bậc nhất” trong giới câu trộm. Phùng Quán tính rằng trong thời gian đăng đẳng đó, ông đã câu trộm được 4 tấn cá. Ông hứa rằng khi được “trở lại đời”, ông sẽ đến chợ Đồng Xuân lạy tạ những bà hàng đã mua cá chui của ông và đền cho họ những sáng tác tim óc của mình… cho công bằng.

[5] Khoảng năm 1969-70, Phùng Quán mượn tên một người em họ đang làm công nhân lâm trường ở Nghệ An để gửi bài dự thi viết về Lenin do tờ Phụ nữ Liên Xô tổ chức. Mục đích của ông là cố giật… giải an ủi, với phần thưởng là chiếc đồng hồ báo thức cho con gái đi học khỏi trễ giờ. Với thân phận phản động hạng nặng, Phùng Quán làm gì dám mơ một thứ hàng xa xỉ như vậy mà chỉ có cán bộ cấp cao mới có sổ mua. Nào ngờ, truyện ngắn Như con cò vàng trong cổ tích mà ông viết ngoáy trong hai ngày lại… chiếm giải nhất, với phần thưởng là một chiếc xe đạp. Báo hại người em họ của ông vừa lãnh giải thưởng văn học vào hạng giá trị nhất của Liên Xô vừa… đái trong quần, vì được báo đài cả miền Bắc ca tụng như “sản phẩm trí tuệ của giai cấp công nhân Viet Nam”. Sau này, khi biết tác giả thật, bộ máy tuyên truyền của chế độ cũng tắt tiếng luôn.

 

 

LƯU DÂN

 

Nguồn : SBS Radio, Australia – Vietnamese.

 

https://www.sbs.com.au/yourlanguage/vietnamese/vi/article/2019/02/26/blog-hai-nha-tho-hue?language=vi

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Năm 20195:35 CH(Xem: 391)
Trên vạn dặm Trung Hoa, trong số những di tích lịch sử tôi có dịp được tham quan, có lẽ đền thờ Nhạc Phi nằm ở chân núi Thê Hà cạnh Tây Hồ, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang là di tích để lại cho tôi nhiều ấn tượng khó quên hơn cả. Đặc điểm nổi bật nhất trong kiến trúc của khu đền là giữa không gian rộng rãi, có khu mộ Nhạc Phi cùng con trai Nhạc Vân, đối diện là bốn bức tượng sắt quỳ nhốt trong cũi sắt, đã tạo nên nét đặc sắc chưa từng thấy trong các di tích lịch sử ở Trung Quốc cũng như trên thế giới… Hơn hai trăm năm trước, đại thi hào Nguyễn Du đã tới nơi này, để lại 5 bài thơ chữ Hán vịnh sử bất hủ về Nhạc Phi và những kẻ thủ ác hãm hại người anh hùng của đất nước Trung Hoa cổ đại.
14 Tháng Năm 20199:20 CH(Xem: 409)
Bài thơ: “Cúng Dường” của thiền sư, thi sĩ Tuệ Sĩ đã được nhiều giảng sư, luận sư, triết gia chuyển dịch, tất cả đều dịch rất sát, rất hay, nhưng trên ý nghĩa của mặt chữ, đã khiến dư luận cảm thương, tội nghiệp khi đọc thi phẩm này, mà theo tôi, sự giải thích sát nghĩa như vậy đã ngược lại hoàn toàn tính hùng vĩ và đại bi tâm của nhân cách tác giả và thi phẩm.
13 Tháng Năm 20198:54 CH(Xem: 310)
Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình trung nông lớp dưới. Bố Huy Cận đậu tam trường làm hương sư ở Thanh Hoá, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng. Mẹ Huy Cận là cô gái dệt lụa làng Hạ nổi tiếng ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ.
24 Tháng Tư 201911:02 CH(Xem: 696)
Nhà báo Pháp Paul Dreyfus là một trong 25 nhà báo Pháp có mặt tại Sài Gòn vào giờ phút cuối cùng của tháng Tư năm 1975. Trong cuốn sách của mình với tựa đề "và Sài Gòn sụp đổ" (Et Saigon tomba - Collection Témoignages 1975), tác giả đánh giá sự kiện Sài Gòn thất thủ là sự kiện 'quan trọng nhất' với hệ thống cộng sản châu Á sau cuộc tiến vào Bắc Kinh năm 1949 của Mao. Ông thuật lại những cảm nhận cá nhân qua những lần tiếp xúc với đại tướng Dương văn Minh, tổng thống cuối cùng của miền Nam, theo giới thiệu sau qua lời dịch của nhà báo Phạm Cao Phong từ Paris: Theo Paul Dreyfus, tướng Minh là "một người minh mẫn và nắm vững tình hình". Những tâm sự của tướng Minh thời điểm đó mang lại một cách đánh giá đa chiều về nhân vật gây nhiều tranh cãi.
17 Tháng Tư 20197:44 CH(Xem: 718)
Tám bài thơ viết về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên mà chúng tôi đã/ sẽ khảo sát đều được đại thi hào Nguyễn Du viết khi chu du trên sóng nước Tiêu Tương, vùng Hồ Nam - nơi nổi tiếng với “Tiêu Tương bát cảnh” từng thu hút cảm hứng vô hạn của bao thế hệ văn nhân, nghệ sĩ Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…
08 Tháng Tư 20199:47 CH(Xem: 991)
Khoảng thời gian ba thế kỉ XVII-XVIII-XIX là thời thịnh của thể loại truyện nôm. Các nhà văn thời này đều có chấp bút và đã lưu lại nhiều tác phẩm văn chương lôi cuốn nhiều thế hệ người đọc. Truyện Phan Trần là một truyện nôm ra đời trong thời kì này, cụ thể là khoảng cuối thế kỉ XVIII, trễ lắm là đầu thế kỉ XIX.
02 Tháng Tư 201910:27 CH(Xem: 972)
Cũng như hai bài thơ Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu đã khảo sát ở phần I, trong các bài thơ còn lại về chủ đề này, Nguyễn Du vẫn say mê trò chuyện, luận bàn, thậm chí tranh cãi với Hồn oan nước Sở từ hơn hai ngàn năm, như hồn đang hiển hiện quanh quất bên mình, trên dòng sông lịch sử tựa một nấm mồ lớn đang vùi lấp thân xác của một con người tri âm tri kỷ đặc biệt đối với ông.
09 Tháng Ba 201910:26 CH(Xem: 1117)
Hơn hai trăm năm trước, trong một cuộc “Bắc hành”, đại thi hào Nguyễn Du đã viết tới tám bài thơ chữ Hán về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên. Trong “tòa lâu đài” thơ chữ Hán Nguyễn Du (Mai Quốc Liên), có một mảng thơ rất quan trọng là nói về các danh nhân văn hóa - lịch sử, đặc biệt là về các bậc thầy văn chương Trung Hoa. Tám bài thơ nói trên mà chúng tôi sẽ khảo sát có trữ lượng suy tưởng - cảm xúc cực kỳ phong phú, sâu sắc, cho thấy cả trái tim lớn của đại thi hào nước Việt dành cho một nhà thơ-nhà ái quốc vĩ đại của Trung Hoa cổ xưa, đồng thời thể hiện bút pháp siêu việt của Nguyễn Du trong khả năng khám phá chiều sâu tâm hồn bản thân lẫn đối tượng miêu tả, trong sự sáng tạo về nghệ thuật ngôn từ của một nhà văn-nghệ sĩ Việt Nam kiệt xuất thời Trung đại.
24 Tháng Giêng 201911:51 CH(Xem: 1704)
Lâu nay, trong tiếng gào khóc của người dân oan khắp ba miền đất nước, hoà trong nước mắt bao giờ cũng có những kể lể, trách mắng, đầy phẫn uất với tiếng “nó”: nó đến kìa; nó rình rập; nó ác lắm;… hay chúng nó tàn nhẫn lắm!
03 Tháng Giêng 201911:15 CH(Xem: 2221)
Chữ Nghiệp mang sắc thái đạo Phật đó được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học phân tích khá kỹ lưỡng, xoay quanh thuyết Thiên mệnh hay Định mệnh, thuyết Nghiệp báo - Nhân quả chủ yếu để nói về thân phận nhân vật nàng Kiều. Nhưng thiết nghĩ, hai câu thơ ấy, đầu tiên phải vận dụng ngay cho chính tác giả của nó. Cái Nghiệp đó, đối với Nguyễn Du, từ thời trai trẻ, đã được ông coi như “án phong lưu” mà ông phải tự nguyện mang tới suốt đời! (Phong vận kỳ oan ngã tự cư)(2). Nghiệp gì vậy? Có điều gì hệ trọng và thống thiết buộc Nguyễn Du phải bật lên lời tự vấn về giá trị sự tồn tại của ông trong cõi đời phù du này khiến nhiều thế hệ người Việt Nam phải xúc động và gắng tìm hiểu nguyên do: Trước khi chết còn lo mãi chuyện nghìn năm (Thiên tuế trường ưu vị tử tiền. Mộ xuân mạn hứng) - Không biết hơn ba trăm năm sau, Thiên hạ ai là người khóc Tố Như? (Bất tri tam bách dư niên hậu/Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. Độc tiểu thanh ký).