- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

“TRÂU ĂN MỘT ĐỒNG MÀ CON ĐÓI CON NO”

02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 7899)

hinh minh hoa 1
Hình minh họa do tác giả cung cấp



“TRÂU ĂN MỘT ĐỒNG MÀ CON ĐÓI CON NO”

Truyện ngắn Hoàng Thị Bích Hà

 

 

 

Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả.

Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.

 

Sáng hôm sau, ông ngoại gọi điện sang bảo:

-Con có vô Sài Gòn thì tới nhà của cậu Hải mà trọ. Nói với cậu ấy, cho cháu ở nhờ để đi học.

 

Như Nguyệt đáp:

- Dạ thôi ba, để con đưa cháu vô rồi tính.

 

Cúp máy, chị vẫn ngồi yên một lúc lâu. Thẫn thờ nhìn xa xăm, lòng bỗng đau như chạm vào quá khứ.

Nghe chị kể, tôi ngạc nhiên:

-Có sẵn nhà đó, sao không cho cháu ở, đỡ được bao nhiêu tiền trọ?

 

Nguyệt không trả lời ngay.

Nụ cười trên môi chị chợt tắt. Một khoảng lặng rơi xuống. Chị nhìn ra ngoài sân, nơi có cây cau thấp, thân lấm tấm những vết sẹo cũ của thời gian và bão tố. Chị nói với tôi:

- Không dễ thế đâu, nàng ơi.

Tui mừng vì con đậu đại học tốp đầu, chất lượng. Mừng! Nhưng lòng cũng đầy lo lắng. Nỗi lo cũng lớn dần theo từng bước chân con sắp đi xa. Tiền trọ, tiền ăn, tiền học..., Nhưng tui sẽ cố gắng lo cho con.


Chị lo những ngày con đi xa, ấm lạnh không có mẹ bên cạnh. Nhưng có lẽ để con ra với đời mới mau trưởng thành.

Những năm tháng tuổi thơ nghèo khó chợt ùa về.
 

Rồi rồi chị kể, chậm rãi như lần giở lại từng lớp ký ức đã cũ mà chưa hề nguôi.

-Ba tui… ổng đã bỏ mẹ con tui từ khi tui mới hai tuổi, anh Hai lớn nhất cũng mới mười tuổi, chị ba 5 tuổi, em trai nhỏ nhất mới ba tháng tuổi. Ông theo người đàn bà khác. Lúc ấy mẹ tui mới ba mươi tuổi. Một mình mẹ dắt bốn đứa con về quê ngoại Phong An, (cách Huế chừng hai mươi cây số) sống lay lắt bằng nghề ruộng, rẫy.

Về làng quê cũng nghèo. Mẹ cực khổ nuôi con bằng rau cháo qua ngày. Anh em tui cố gắng học, nhưng học được chừng nào hay chừng ấy, chứ không thể tới bờ tới bến. Anh Hai học hết lớp chín đành nghỉ, ở nhà làm phụ mẹ nuôi em. Chị Ba gắng gỏi lắm cũng chỉ đến lớp mười một rồi xin đi làm công nhân. Còn tui, học hết phổ thông, đành gác lại giấc mơ đại học, đi học may để mưu sinh. Đứa em út chọn con đường ngắn hơn: học trung cấp thú y rồi ra làm ở trạm xã. Còn cha tui, như một con nước khác chảy về phía đời sống của riêng mình.

 

Ông là một sĩ quan. Sau biến cố năm 1975 đi “cải tạo” hơn ba năm. Trở về, việc đầu tiên ông làm là tìm lại người tình của ổng. Rồi ông tìm mẹ tôi để nói phải trái về việc kết thúc. Cuộc ly hôn chóng vánh chưa được bao lâu cũng vừa kịp cho một hành trình khác: sang Mỹ theo diện HO cùng người đàn bà đã khiến ông rời đi năm xưa. Rồi ba tui dắt vợ mới của ổng qua Mỹ.

Ngày rời Huế để vào Saigon, ông mang theo cả va li tiền. Còn vợ cũ và bốn đứa con thì ở lại, trắng tay.

 

Từ đó, ổng cắt liên lạc với mấy mẹ con.

Mẹ tui một mình nuôi con trong cảnh khó nghèo. Ngày xưa, ba đi lính, gia đình theo chân ổng. Có con thì khai sinh để được hưởng lương con. Mẹ chỉ việc nội trợ, chăm sóc ông bà nội và các con. Vậy mà đùng một cái, ông bỏ ngang, chia tay vợ con khi đã tìm được tình yêu mới. Từ bữa nớ, tụi tui không còn nằm trong phần đời của ba tui nữa.

 

Mấy mẹ con dắt díu nhau về quê ngoại, sống tiếp trong thiếu thốn và nỗi buồn phụ bạc. Mẹ tui gầy như chiếc lá khô vì buồn, nhưng vẫn ráng làm lụng nuôi con. Mẹ bảo: các con là động lực sống của mẹ.

 

Mười năm sau, từ Mỹ ông trở về. Không phải để bù đắp, mà chỉ để thăm cha mẹ già. Bốn anh em Nguyệt được gọi lên. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, vài câu hỏi xã giao, rồi ai lại về với cuộc đời nấy.

 

Ổng chẳng hỏi gì đến mẹ tui. Rồi mấy năm sau, ổng về lại Huế mua đất, làm nhà. Ổng bảo: “Đi Mỹ vậy đủ rồi, nay về Huế dưỡng già.” Gia đình mới của ổng nay ở khu đô thị cao cấp An Cựu. Thằng con trai út của ổng với vợ sau là Thế Hải vừa đậu đại học năm ngoái, ổng liền bay vào Sài Gòn mua cho nó một căn nhà ngay quận Ba. Vì thế mà ổng mới bảo Thành Phong vô Sài Gòn xin ở nhờ cậu Hải.

 

Tui nghe mà im. Có những chuyện, nghe thôi là đủ.

Tui là con gái của ổng mà chẳng được ổng thương, nói gì đến cháu. Nên thôi! Biết rằng lúc này, sự giúp đỡ dù từ ai, nếu thật lòng cũng đều đáng quý. Biết là ở trọ thì phải tiền đóng, gạo góp mà ăn, chẳng dễ gì nhờ vả. Nhưng tui không thấy an toàn cho con.

 

Còn về phần tui, Như Nguyệt chậm rãi kể tiếp: tui học được, nhưng vì hoàn cảnh nên phải đi đường vòng. Sau phổ thông, tui đi làm thợ may để sống. Khi kiếm được chút đỉnh, tui mới thi vào Cao đẳng Sư phạm, thực hiện ước mơ làm cô giáo còn dang dở. Thực ra tui thích Đại học Sư phạm, khoa Sử, nhưng không dám mơ. Nghĩ rằng học cao đẳng cho nhanh, ba năm ra trường đi dạy. Rồi tui ra trường, xin được một trường huyện. Dạy được hai năm thì gặp anh Phạm Tiến, lúc đó đang làm thợ nhôm, xây dựng trường. Hai đứa quen nhau, một năm sau thì cưới.

 

Nhà Tiến ở Vĩ Dạ. Ba Tiến là thầy giáo về hưu. Mẹ chồng đã mất. Trong nhà còn mấy cô chị và em chồng, người làm giáo viên, người làm y tế cộng đồng. Chỉ có Tiến hoc chưa xong 12, nghỉ ngang đi học thợ nhôm. Tiến hiền, nhưng vô tâm. Đi làm xa, nửa năm mới về, khi đưa tiền, khi không. Tuy nhiên, anh ta có một ưu điểm: không gái gú, chỉ nhậu thôi. Còn mấy mụ o chị em chồng thì do dảnh lắm. Khó tính, hay kiếm chuyện. Bố chồng cho vợ chồng tui một miếng đất độ năm mươi mét vuông sau vườn, xây cái nhà để ở, nhưng không cho chủ quyền. Muốn ở thì ở, chứ mua bán cầm cố là không được.

 

Mẹ chị vẫn ở quê, ngày một yếu đi. Như Nguyệt đều đặn chạy xe về thăm. Năm ngoái, mẹ chị trải qua mấy cơn thập tử nhất sinh. Người cha năm xưa có đến bệnh viện một lần, trước khi bà mất đúng một ngày.

 

Mẹ mất, chị như mất cả bầu trời. Chị thương mẹ lắm! Nếu không có mẹ chèo chống nuôi con, bốn anh chị em bây giờ ra sao? Khi cha đã bỏ mẹ, thì đồng nghĩa với việc ổng cũng bỏ luôn con:

-Có người làm cha vẫn có trách nhiệm nuôi con, nhưng ba tui thì không (chị kể). Trong khi ba đứa con của ổng với vợ sau sống êm ấm như trên nhung lụa.

 

Nguyệt cười, mà ánh mắt buồn, nhìn xa xăm như ngược về miền ký ức:

Chị nhìn tôi, giọng trầm xuống:

-Nàng thấy đó, con ổng mới đậu đại học Sài Gòn, ổng tức tốc bay vô mua nhà cho ở liền. Còn tui, cũng là con ổng nhưng không có cái phước ấy.

 

Nhớ một câu nói của dân gian có câu: “Trâu ăn một đồng mà con đói, con no.” Nghịch lý là vậy!

 

Sau mấy năm, gặp lại chị kể: "Con trai đầu của tui Thành Phong học xong Đại học Bách khoa, có việc làm ổn định tại Vũng Tàu. Con gái út, Bích Nguyệt cũng rất giỏi, tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Sài Gòn, nay làm ở quận Ba. Tui vẫn đi dạy. Chồng tui vẫn đi làm thợ ở tỉnh".

 

Tôi mừng cho chị, xuất thân đáng lẽ không đến nỗi côi cút, vậy mà cũng lao đao. May mà còn có mẹ!

 

Như Nguyệt đảm đang, chịu khó như mẹ. Và bây giờ, trời không phụ lòng người: các con đã thành công.

 

Hiện nay, gia đình ba Như Nguyệt vẫn ở cùng thành phố với nàng ấy, nhưng cha con ít gặp. Nói đúng hơn, có gặp thì cũng vì lý do nào đó chứ chẳng mặn mà gì.

 

Năm ngoái, tôi về Huế, Như Nguyệt dẫn tôi lên nhà nội (ở phía chùa Linh Mụ trên cách chừng nửa cây số). Chúng tôi thăm lại mảnh vườn xưa. Ông bà nội đã qua đời. Bên cạnh nhà nội là căn nhà của mẹ con Như Nguyệt hồi nhỏ, lúc ba chị chưa bỏ đi và mẹ chị và bốn anh em chưa dọn về nhà ngoại. Nay nhà cửa xuống cấp, chỉ còn mảnh vườn với vài cây cối. Thỉnh thoảng, Như Nguyệt lên cuốc cỏ, chặt lá dong về gói bánh, khi thì chặt chuối ba lùn về dú chín cho con ăn. Chị bảo:

-Tuần trước, tui có gặp ba tui cũng lên vườn chặt buồng chuối đem về cho vợ con ổng.

 

Hai cha con đứng cùng một vườn.

Chào nhau mấy câu.

 

Rồi người này quay lưng, người kia cúi xuống chặt tiếp buồng chuối.

Như chưa từng là ruột thịt của nhau.

 

Sài Gòn, ngày 10 tháng 4 năm 2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 137796)
T ại sao chị lại hay buồn? Những cuộc tình. Tôi luôn là người thua thiệt. Ngay cả khi chị bỏ người ta sao? Tôi chưa khi nào bỏ ai cả. Là người ta bỏ tôi chứ.
02 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 125685)
N hững tàng cây ngả nghiêng trong gió. Lá me xanh rải đầy đường. Cơn đói bò lan ra cả ngoài da. Chỉ còn hai tiếng đồng hồ nữa là tới giờ hẹn. Không còn cách nào khác. Hắn đạp xe vòng quanh con phố. Bụng quặn lên ngàn con sóng. Biển động cấp năm trong bao tử và ruột non ruột già.
02 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 134622)
T ôi cúi xuống chỉ cho người cha những chấm đỏ tìm thấy tụ lại trên những mảnh xương chưa tan hết. Những chấm này thật hiếm hoi, không ai hiểu tại sao lại có. Người Á Đông tin là chỉ ai có một đời sống thánh thiện, tốt đẹp mới có những vệt son này lưu lại trên xương. Bổn phận của tôi là nhặt những mảnh xương này, thận trọng bỏ từng mảnh xương vào một cái máy xay nhỏ và tán ra như bột để trộn lẫn vào phần tro than.
02 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 141748)
C hó Cố Đô, Chó Thủ Đô, Chó Thái Bình, Chó Nhật Tân, Chó Cao Nguyên, Chó Phố Núi, Chó Thui Rơm, Chó viết bằng tiếng Anh, Chó ngồi lê vỉa hè uống rượu Kim Sơn, Bàu Đá, Chó ngồi bàn ghế gỗ hương uống Tiger rượu ngoại. Chó xướng danh lên hóa đơn đỏ để khấu trừ mỗi chuyến khách đi công tác.[...] Điểm hẹn Thịt Cầy. Cầy tơ bảy món. Chó Hà Nội.
01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 124612)
Ô ng nội tôi là người cuối cùng trong dòng họ còn biết chữ nho. Ông có chín người con, 2 trai 7 gái. Ba tôi là con trai trưởng. Cái thời của ông còn nặng nề “trọng nam khinh nữ”. Trước khi mất, ông ngã bịnh một thời gian. Biết mình không sống được lâu, ông cho gọi tất cả những người con từ khắp nơi trở về...
01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 122667)
... T ừ phòng tắm bước ra, nàng ngây người nhìn tôi phì phèo điếu thuốc lá, buồn cười thật anh nhỉ, lúc trên ôtô em cứ buồn ngủ rũ ra, chỉ muốn nhanh chóng đến nơi thuê nhà, đến đây lại tỉnh như sáo? Tôi lặng lẽ đốt thuốc. Mỉm cười nhưng không bắt chuyện.
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 123196)
Đ êm úp mặt vào vách, tôi nhớ đến người con gái trên chiếc thuyền nan. Dưới ánh trăng thân thể nàng trắng ngần như tượng sứ. Trong giấc ngủ chập chờn, đôi tay nàng vẫn đều đều khỏa nước, khỏa lấp cả sự day dứt trong tôi. Tôi thấy cả nàng và tôi đều đứng ngoài trò chơi ấy, nàng ngồi bên tôi ngắm những cụm cỏ xanh um buồn bã...
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 123438)
S huhun mang ánh mắt của một lời nguyền, thứ ánh mắt in trên một thỏi sắt. Nhìn hắn như một lưỡi kiếm bén mang linh hồn của Musashi Miyamoto. Tôi biết đến Musashi khi nào tôi không thể xác định, tên của võ sĩ vang danh trên khắp lục địa Bắc Á. Musashi trao cho Nhật Bản sức mạnh của kẻ yếm thế: Go rin no sho. Thuật xâm chiếm của vũ trụ như hai giải ngân hà nhập một, như hai lưỡi kiếm của hai mắt phải nhập một.
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 121958)
H ằng đêm tôi sống trong lo sợ. Chung quanh tĩnh lặng, tối ám đến hoang mang. Gió lộng đánh phần phật trên các cánh cửa. Cứ độ giữa đêm, tiếng chân thình thịch đến từ xa, từng bước dẫm nặng nề. Tôi thu mình, rúc sát vào vách. Tôi trong suốt trong màu mực của đêm, không nhìn thấy cả chính mình...
17 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 139719)
LTS : Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, nhà văn Quý Thể hiện định cư tại USA.Hân hạnh giới thiệu một trong những truyện ngắn như những nụ cười ý nhị của Quý Thể gởi đến quí độc giả và văn hữu của Hợp Lưu. TCHL