- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Ngọn Hải Đăng Mù

15 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 37533)

hopluu-100_199_0_173x300_1Khúc bãi hình cánh cung. Phần cuối bãi đá ngầm lởm chởm khuất lấp với xóm chài Merang bởi một ngọn núi trọc kéo dài từ những cánh rừng dừa lả ngọn tới sát chân sóng. Ngọn hải đăng chót vót trên đỉnh núi trần trụi.

Đó là một ngọn hải đăng mù. Đúng vậy. Một ngọn hải đăng mù. Trên chóp đỉnh bốn cây cột sắt cao ngất, nằm giữa tầm bay của gió và in hình vào nền trời xanh biếc của đảo, ngọn hải đăng đêm ngày vẫn đứng đó, uy nghi và khả kính như một vị thần hiền trước một hải phận dữ, trong cái vị thế dẫn đường giữa sương mù và dông bão cho tàu thuyền đêm tối đi qua. Có điều là tự bao lâu rồi, ngọn đèn biển ấy không còn sáng nữa. Nó đã mù.

Mỗi lần từ hòn đảo tạm trú của chàng và đồng bào chàng đi vòng cánh bãi sang làng Merang để tìm một phiến cỏ óng mượt cho giấc ngủ lữ thứ quên đời dưới những bóng dừa, Hiển thường đứng lại một lát dưới chân ngọn núi. Nơi đây, bóng đá thả xuống, mặt cát mát đằm. Tựa lưng vào vách núi, cõi lòng như đã chết lặng vì quê hương nghìn trùng cách biệt, Hiển ném cái nhìn trở về trạm trú san sát những dẫy lều vải động ảnh dưới ánh nắng đảo dữ dội, theo dọc khúc bãi nơi hàng chục con thuyền Việt Nam đưa người tị nạn vượt biển đã chấm dứt cuộc hành trình dũng cảm, bây giờ thân thể tan nát vì sóng đảo nhồi đập, cát bãi đã chôn vùi dần, từng chiếc một, tới ngang thân. Chàng nhìn biển bên trên thường ngày phẳng lặng mà kỳ thực hung hiểm vô chừng với những cồn cát bồi lở bất thường theo nhịp quẫy động không ngừng của những luồng nước chảy ngầm chảy xiết.

Rồi xoay ngược tầm mắt, Hiển nhìn lên ngọn hải đăng cao. Suốt một dải bãi Merang, địa hình phẳng thấp với những cánh rừng dừa tăm tắp bất tận chỉ có ngọn núi trọc sừng sững đối diện với khúc biển hung hiểm là chiều cao và tầm xa duy nhất, ngọn hải đăng chót vót trên đỉnh núi trần trụi vậy là một ngọn hải đăng cần. Và nó đã được xây cất ở cái vị trí, cái địa thế lý tưởng nhất của một ngọn đèn biển.

Nhưng tại sao nó mù? Hàng hải thế giới từ phía Tây ngược đường lên Hương Cảng, Đông Kinh, từ phía Đông xuôi đường xuống Úc Châu và Nam Dương quần đảo, mùa hải trình này đã mượn một con đường biển khác? Tầu thuyền thế giới bây giờ trang bị hiện đại đã có điện tử và quang tuyến đưa đường không còn phải trông chờ vài dòng ánh sáng dẫn đạo của ngọn đèn biển trên đỉnh núi trọc? Tấm bản đồ những quốc gia Á Châu có hải phận ở vùng biển Thái Bình, quà tặng để lại của người chủ lều cũ đã đi Mỹ ngày Hiển mới tới đảo, những vụ chìm đắm, mắc cạn vì đêm tối sương mù và dông bão vì đá ngầm, sóng ngầm xảy đến cho những thương thuyền tối tân nhất vẫn thường thấy loan tin trên báo chí, khí tượng học tới bây giờ vẫn thường trực đóng vai trò báo động tàu thuyền trên biển -đại dương vẫn muôn đời là một nấm mồ- cho Hiển biết hai giả thuyết nẩy sinh trong đầu chàng về sự đã hết cần thiết của ngọn hải đăng mù đều không phải là sự thật. Vậy tại sao nó còn đứng đó mà đã hết chiếu sáng? Tại sao nó đã mù? Và mù tự bao giờ?

Một buổi chiều, sau giấc ngủ giữa rừng dừa đẫy mắt, Hiển đi vào xóm chài Merang, đã hỏi chuyện một ngư phủ Mã già và một em nhỏ Mã đang cởi trần xối nước ào ào bên cạnh một thành giếng trong vắt. Về sự tắt lặng của ngọn hải đăng mù. Bằng những cử chỉ hỗ trợ cho một thứ tiếng Mã đơn giản nhưng hiểu nổi chàng đã học được ít nhiều qua những lần chào hỏi và bắt chuyện với đám người Mã tươi tỉnh cởi mở bên làng Merang, chàng đã hỏi có phải ngọn hải đăng chỉ mới bị mất ánh sáng trong thời gian gần đây và nó sẽ một ngày nào được Sở Khí Tượng địa phương phái người tới sửa chữa? Ông già và đứa em nhỏ Mã Lai đều cười, lắc đầu, không phải. Họ nói ngọn hải đăng có đó đã tự nhiều năm không thể nhớ. Cũng từ nhiều năm nó đã mù. Và không nghe thấy chuyện nó một ngày có chuyên viên tới làm cho sáng lại.

Hiển đành chịu không đặt thêm những câu hỏi những giả thuyết khác về sự mù lòa của ngọn hải đăng. Nhưng mỗi lần từ đảo tạm trú sang làng Merang, tới ngang ngọn núi trọc nhìn quanh, chàng thấy những mục đồng Mã chăn dê trên sườn núi, bầy dê tan đàn lang thang, những đứa nhỏ Mã đen cháy ngồi vắt vẻo trên những tảng đá vừa đùa nghịch vừa ca hát, những ngọn cỏ bồng phất phất lồng nắng, những thân dừa thẳng vút và lả bay theo gió ở xa xa, rồi chàng nhìn những đời thuyền tị nạn chôn vùi vì đã hoàn tất hành trình trên cái nghĩa địa cồn bãi lộ thiên của chúng, rồi chàng nhìn những con dã tràng mải miết mất hút trên mặt bãi phẳng mịn, những lớp sóng cuốn cao và đổ xuống trắng xóa trong âm động bổng trầm và liên tục muôn đời của biển, chàng thấy hết thảy đều thuận hợp, những ngọn cỏ lồng nắng, những hàng dừa múa gió, những đời thuyền ngủ yên vĩnh viễn sau khi đã làm xong nhiệm vụ đưa người được giao phó, thảy đều thuận hợp, dã tràng chạy, sóng cuộn rượt, biển và cái âm thanh muôn đời không dứt của biển, thảy đều thuận hợp. Riêng chỉ ngọn hải đăng, ngọn hải đăng mù trên đỉnh núi trọc là không. Sự mù lòa của nó là một nghịch lý. Một nghịch lý lạ lùng và khó hiểu.

Chỉ mãi về sau này, lúc rời đảo tạm trú, Hiển mới tìm được một giải pháp cho cái hiện tượng nghịch lý của ngọn hải đăng mù. Cũng không chắc là giải đáp của Hiển có thật đúng không?

Thi thể còn ướt đầm nước biển của người cha đứa nhỏ -đứa nhỏ sau đó được toàn trại nhận làm cha đỡ đầu- hai mươi bốn giờ sau nhà chức trách Mã xuống từ thủ phủ tiểu bang Trenganu mới tìm thấy và vớt lên được khi nó nổi lên cách khúc biển có cồn ngầm và sóng ngầm chảy xiết khoảng hai dặm Anh, ngay dưới chân ngọn hải đăng mù. Người chết nằm sấp. Đầu chìm trong nước. Một cánh tay vắt lên thành đá, trong cái động tác của một người bơi từ khơi xa vào mệt lả vừa tới bờ, cái phao được thuật lại là đeo ở cánh tay ấy, đã mất.

Trên con đường nhỏ, con đường hàng ngày Hiển vẫn đi tới ngang ngọn núi trọc sang làng Merang, xác người đàn ông được đặt nằm trên cát rồi khiêng vào trại tạm trú. Đám cảnh sát Mã khiêng cái xác tới hết khúc bãi, trao trả cho đám người trẻ tuổi trong tổ chức thanh niên chí nguyện của trại dàn hàng đón lấy. Họ kéo thẳng chân, đặt hai tay người chết lên ngực rồi nâng ngửa tử thi lên ngang tầm vai, đi xuyên qua bãi đá bóng, tới đặt cái xác xuống, ngay ngắn, đầu hướng ra khúc biển dữ -nơi người chết buổi chiều hôm trước đã từ trên thuyền nhẩy xuống- trên hai phiến gỗ rừng lấy trong kho vật liệu dựng lều tạm trú cho những người mới tới đảo, hai phiến gỗ kê chính giữa cánh cửa lớn đi vào hội trường trại.

Lúc đó là buổi chiều. Vừa qua giờ phát thư. Hơi nóng dữ dội đã hết choáng váng trên những lều vải san sát. Mặt cát phẳng trước nhà hội trường đã mát lại, dần dần. Mọi người từ năm khu trong trại lui lại giờ nhen lửa thổi cơm bữa chiều trước những cửa lều, đi hết ra khoảng bãi trống ngoài hội trường đứng thành một vòng tròn rộng chung quanh tử thi. Cái vòng tròn im phắc. Một lát. Rồi nó đứt ra một đoạn. Từ chỗ đó, ban đại diện và hội đồng tư vấn trại đưa đứa nhỏ từ ngoài tiến vào.

Đó là một đứa nhỏ Việt Nam. Mũi tẹt. Tóc đen. Một đứa nhỏ vượt biển. Mấy chị phụ nữ trong ban phiên dịch và tiếp tân các phái đoàn ngoại quốc tới trại tính mặc cho đứa nhỏ một bộ đồ mới thay cho cái quần cụt sờn rách và cái áo ngắn tay đứt hết hàng khuy ngực nó đã mang trên người từ Việt Nam. Rồi họ rút lại ý định, nói là cứ để nguyên nó như vậy cho người chết dễ nhận. Không ai nghe thấy một tiếng động nào, ngoài tiếng sóng từ bên kia những cồn cát. Bàn tay bụ bẫm và nhỏ thó nắm chặt lấy tay người trưởng trại, đứa nhỏ, cặp mắt đen láy mở lớn, đi nghiêm trang theo sự hướng dẫn, từ từ tiến tới gần tử thi. Lúc người trưởng trại giữ nó đứng lại và cúi xuống hỏi: "Cháu biết đây là ai không?" Đứa nhỏ chớp mắt rồi nhìn đăm đăm và gật đầu. Bàn tay nó thoắt buông khỏi tay người trưởng trại và chỉ xuống cái xác chết vẫn còn ướt sũng, nó nói: "Đây là cha tôi;" Mấy nghìn cặp mắt của cái vòng tròn người bất động cùng nhìn ngón tay chỉ thẳng trong không khí. Khi đứa nhỏ bỗng run bắn rồi nức nở ngã sấp xuống cái tử thi và vùi đầu trên đó, cả ngàn con người im sững đều bật thành tiếng khóc.

Tấm thẻ tùy thân còn cất dấu được tới ngày vượt biển luồn vào gấu áo mang theo những chữ đọc thấy cho biết người chết tên là Đặng Vũ Thi. Rồi bằng vào những thuật lại của đám người đồng hành đã cùng cha con Thi trôi dạt suốt mười bốn ngày đêm trên một con thuyền, người ta biết được về Thi và cái chết của Thi như thế này. Thi 48 tuổi, sinh quán tại vùng ngoại ô Nghi Tàm, Hà Nội. Hiệp định Genève, Thi vừa lấy vợ và sinh con gái đầu lòng, bằng đuờng biển Hải Phòng xuống tàu đem cái tiểu gia đình vừa dựng vào Nam. Khỏe mạnh, chăm chỉ và lặng lẽ ít nói. Thi mở được một tiệm sửa xe gắn máy ở gần khu Trường Đua Phú Thọ cho tới ngày đúng lớp tuổi mình Thi bị gọi động viên. Ở đơn vị pháo binh, lúc cầm máy điều chỉnh tọa độ và định hướng cho những cuộc pháo kích cũng như lúc chuyển súng giữa rừng, Thi vẫn là anh thợ sửa xe gắn máy trầm lặng ít nói, những biểu tỏ dũng cảm phi thường không có, chỉ là anh pháo binh mờ nhạt làm tròn những công tác chiến trận thượng cấp đã qui định rõ ràng. Đầu năm 73, Thi bị thương ở trận đánh Đồng Xoài. Nằm trong một quân y hậu cứ sáu tháng rồi được giải ngũ. Nhờ vậy mà khi miền Nam mất, ra khỏi quân đội đã hơn hai năm, Thi không bị đưa đến một trại tập trung cải tạo nào, chỉ phải đi học chính trị một lớp sơ đẳng bảy ngày do phường khóm tổ chức. Lúc này, Thi đã có thêm ba đứa con. Hai đứa con gái thứ trên mười tuổi sinh kế liền con chị đầu lòng. Thằng con trai út duy nhất ra đời sau một khoảng cách, lúc phong trào vượt biển đã âm thầm lan tới khu phố Thi ở, thằng nhỏ mới hơn bốn tuổi.

Người hàng xóm mách mối vượt biển và đi cùng thuyền với cha con Thi thuật lại với ban Tư vấn trại là cuộc vượt biển mà mãi mãi rồi Thi mới chịu thực hiện với đứa con út mang theo, động lực chính là sự khuyên nhủ dỗ dành và đốc thúc khẩn thiết của người vợ. Người đàn bà ấy dưới chế độ mới đã thấy sự tìm đường ra đi, dù là chia lìa đứt ruột, cho người đàn ông được sống đời mình trong tự do hơn là sự đoàn tụ trong cùng đường và tuyệt vọng. "Nghe em. Còn mấy lượng vàng vừa đủ trả tiền chỗ trên thuyền cho cha con anh. Anh đưa con chúng ta đi cho sau này nó được học hành, nó không phải sống trọn đời nó với cái chế độ này, nó được nên người. Vợ chồng ta yêu thương ăn ở với nhau suốt bấy nhiêu năm như thế đủ rồi. Anh phải đi, đừng lưu luyến. Rồi mẹ con em tìm đường đi sau. Chúng nó là gái không cần. Nhưng thằng con trai chúng ta, anh phải đưa nó đi theo mới được." Bao nhiêu đêm nghe vợ vừa ôm, vừa khóc vừa dỗ dành đứt từng khúc ruột, cuối cùng Thi bồng đứa con trai bốn tuổi nửa đêm ra biển.

Những ngày trên biển của Thi được kể tiếp, và những phút sau cùng, cho đến khi xác chết Thi nổi lên dưới chân ngọn hải đăng mù:

- Suốt mười bốn ngày đêm, anh ấy chỉ ngồi yên một chỗ. Ai hỏi mới nói. Ngoài vài lúc mệt lả thiếp đi, cứ ôm con thức suốt đêm ngày và suốt dọc đường, chỉ ngồi nhìn trở lại, nhìn trở về Việt Nam. Chiều hôm qua, cả thuyền reo hò khi trông thấy bờ đảo ở xa xa, anh ấy cũng chỉ lặng lẽ ngó theo mọi người, không nói. Thuyền đã cạn lương thực từ hai hôm trước. Nước chỉ còn đủ mỗi người một ngụm, ai nấy đều mệt lả. Dầu cũng gần cạn không thể kéo dài đường thêm nữa. Thuyền quay mũi tiến vào nhưng không hiểu sao sóng không lớn lắm, mà cứ một quãng lại bật văng trở lại. Tưởng đắm mấy lần. Mãi sau người tài công mới khám phá ra rằng khắp khúc biển chạy dài đều có đá ngầm sóng ngầm, và tốt nhất là có một cái gì dò đường đi trước thấy khúc nào nước không chảy xiết ra hiệu cho thuyền đi theo cái đó là một người. Cả thuyền im phăng phắc. Anh ấy cũng vậy, ôm chặt con, nhìn vào bờ và cúi đầu xuống. Trời lại sắp tối. Vẻ lo âu kinh hoàng hiện rõ. Cuối cùng có một tiếng "tôi" cất lên. Cả thuyền mừng rỡ. Thế rồi anh ấy đứng dậy, trao đứa con cho người ngồi cạnh, nói với nó: "Bố vào bờ rồi lại trở về thuyền với con." Đoạn anh ấy đón lấy cái phao, đeo nó vào cánh tay và ra mạn thuyền tung mình nhảy xuống.

Mọi người chỉ còn thấy kẻ xuống biển dò đường trong một khoảnh khắc ngụp lặn nổi chìm qua những con sóng. Rồi cái phao bật lên, văng đi.

Suốt đêm đó, những người trẻ tuổi trong đoàn thanh niên chí nguyện của trại thay phiên nhau cầm đuốc tới sáng trước cái quan tài được đóng lại bằng những phiến gỗ tươi dùng để cất nhà cho người tị nạn, mới đốn về từ cánh rừng già sau trại. Và buổi sáng, lúc mặt trời vừa tỏa hết đóa nan quạt rực rỡ của nó trên mặt biển óng ả, cả trại xếp hàng vượt qua những cồn cát, những hàng dương đưa tiễn Thi đến nơi an nghỉ cuối cùng của người vượt biển là một cồn cát thấp kế liền cái nghĩa địa tầu thuyền. Thi được đưa xuống lòng đất của hòn đảo xa lạ anh đã tới được bằng cái chết của anh, đầu hướng về Việt Nam. Lúc Hiển rời khỏi đảo, ra khỏi trại trên đường sang Mỹ, ngôi nhà hội mới hoàn thành của đoàn thanh niên chí nguyện trại, trong một buổi lễ khánh thành đơn giản, được đặt tên là Hội trường Đặng Vũ Thi.

Sau này, trong ý nghĩ Hiển, mỗi lần trí nhớ chàng hiện lên vùng trời đảo Mã khuất tịch và lòa nắng ấy là hòn đảo tạm trú của chàng có hai ngọn hải đăng. Một ngọn không biết đã có tự đời nào, đứng chót vót trên đỉnh ngọn núi trọc. Ngọn ấy mù. Còn sống, còn chót vót, nhưng mù. Và một ngọn, đã nghìn năm, đã hư vô. Ngọn ấy cháy sáng, mãi mãi, vùng sáng vĩ đại, tầm sáng bát ngát. Ngọn đèn biển thứ hai này xuyên thủng hết mọi thứ sương mù và đêm tối dầy đặc nhất của trái đất này cộng lại. Đó là ngọn đèn biển vượt tuyến, một ngọn đèn biển Việt Nam. Ngọn lửa bất tử ấy sáng rực, từ cái phút Thi lao mình xuống biển.

Rồi đẩy ý nghĩ đi xa hơn tới cùng khắp nhân thế hiện giờ, là sự kiếm tìm giải pháp cho một hiện tượng nghịch lý. Ngọn hải đăng mù cuối cùng không phải là một trạng thái nghịch lý. Cái thế giới, Hiển đang sống này thiếu gì những hải đăng mù. Nhiều lắm. Cùng khắp. Trăm nghìn. Bọn lãnh đạo hèn đớn lùi bước trước cái xấu cái ác lấn tới. Những hải đăng mù. Bọn trí thức, bọn cầm bút quốc tế tác giả của những bản tuyên ngôn nhân quyền lừng lẫy, chấn động, nhưng lại không dám có một dòng chữ, một tiếng nói, một hành động nào cho những người như Thi, như đứa con nhỏ của Thi. Những hải đăng mù. Bọn chính khách, bọn đại diện hàng năm mặc đồ lớn đáp phi cơ phản lực tới họp hội diễn thuyết ở những tòa nhà kiếng cao ngất soi bóng xuống mặt hồ Leiman và dòng sông Hudson, nhân danh loài người, nhân danh tự do và giải phóng, nhưng câm họng ngoảnh mặt trước cả trăm nghìn trí thức nghệ sĩ cùng quê hương với Hiển đang bị đầy ải trên chính quê hương họ. Những ngọn hải đăng mù. Những ngọn hải đăng mù nhiều vô tận ấy là hiện tượng nghịch lý vĩ đại nhất của thế giới ngày nay.

Nhưng một hiện tượng nghịch lý đơn lẻ khi đã đạt tới một tỉ lệ nào để trở thành phổ quát, lại không nghịch lý nữa. Mà trở thành hợp lý. Riêng Đặng Vũ Thi lao mình xuống biển tìm đường sống cho đồng hành, và chết, mới nghịch lý. Hiển chỉ tìm được giải thích cho ngọn hải đăng mù trên đỉnh núi trọc ở hòn đảo tạm trú chàng đã sống sáu tháng ở trước đó khi lên đường sang Mỹ như thế mà thôi. Vậy chắc là như thế.

Mai Thảo

(trong tập Ngọn hải đăng mù, Làng Văn, 1986)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Sáu 201812:14 SA(Xem: 56300)
Linh hồn lang thang qua hiu hắt chợ quê, như ai níu chân lại, đi không rời. Đi đâu xa rôi vẫn nhớ nhất chợ quê. Thức ăn tươi rói mới hái từ liếp rau sau nhà, rùa rắn tôm cá đồng từ bảy dòng sông tụ về, một nhắm rau sam chua, đọt bí nham nhám, bắp chuối sứ non, củ khoai từ lừ đừ, trái cà chua vườn nhỏ đèo đẹt, mấy trái me chín dốt, cọng đậu đũa tươi ngon, đọt rau lang mướt mắt, rau má đồng, rau đắng đất...tất cả đều được bày ra trên rỗ nhựa ,mẹt tre bắt mắt.
28 Tháng Năm 20185:45 CH(Xem: 55882)
Sáng, An dậy sớm, ủi thẳng thớm chiếc váy đủ màu và tô lên môi màu son mới trước khi rời khỏi nhà...Hôm ấy, ngày đầu tiên An đặt chân đến văn phòng TsMedia, đó là tòa nhà cao vút nằm ngay trung tâm đại lộ Victoria. Khanh lẫn lộn trong hơn năm mươi nhân viên già, trẻ, lớn, bé, Châu Á, châu Âu… nhưng An dễ dàng phát hiện ra Khanh bởi đôi mắt rất Việt Nam, dáng người cao ráo và nụ cười hồn nhiên như đứa trẻ. Trưa hôm ấy, An thấy tách cà phê pha sẵn đặt trên bàn mình, bên dưới là tờ note được ghi nắn nót bằng tiếng Việt : “Số điện thoại khi cần trợ giúp 6265653445”. An vô cùng ngạc nhiên quan sát cử chỉ mọi người trong phòng và giật thót tim khi chạm phải nụ cười Khanh giấu sau máy tính.
25 Tháng Năm 201812:45 SA(Xem: 56898)
Lủ nhỏ không chỉ mê mẫn nhan sắc chị Tuyết như mấy anh choai choai chuyên lượn lờ trước cổng nhà chị, mà mê cặp em sinh đôi của chị hơn cả. Hai đứa bé bụ bẫm tầm 3 tuổi không có gì đặc biệt hơn đứa trẻ khác. Ngoại trừ miếng da đen như da lợn nằm choán từ cổ đến hết nửa lưng! Em cũng như lũ nhỏ, vừa tò mò vừa mê thích được tận tay sờ mó tấm lưng da lợn của hai anh em sinh đôi. Tấm da sần sùi thô ráp vì rậm rạp lớp lông đen cứng ấy có sức thu hút lạ kỳ.
18 Tháng Năm 20188:59 CH(Xem: 52880)
Chúng tôi hỏi: -Cậu cần gì? Triết bảo: -Tớ cần được tự do sáng tác. Tớ yêu cầu gia đình trả tớ giấy bút mực màu bảng vẽ, kể cả đàn địch của tớ, kể cả máy tính nữa. Tớ cũng yêu cầu hàng xóm không tọc mạch, tớ yêu cầu công an hộ khẩu không ghé qua ghé lại hỏi han ông cả thủ, tớ yêu cầu tập thể không ai được kỳ thị tớ, tớ cũng là đồng nghiệp cũ của nhiều bạn trong cơ quan, mà tớ còn học giỏi, đỗ cao và đỗ sớm hơn khối đứa đấy. Viện trưởng bây giờ, hồi đi bộ đội về, tớ phụ đạo nó thi đại học chứ ai… Rồi tớ yêu cầu gia đình, mọi người, trước khi cấp giấy cho tớ làm thơ, vẽ tranh, làm nhạc, viết kịch thì không được hỏi tớ định viết vẽ gì, cái đó là quyền của tớ… Tớ cũng yêu cầu các cửa hàng net ở xung quanh tạo điều kiện để tớ được vào mạng tự do lướt web, vào facebook, vào bờ lốc nọ bờ lốc kia…
17 Tháng Năm 201812:16 SA(Xem: 53829)
Kết quả xét nghiệm lần cuối cùng cho thấy các thể bệnh đã phát triển khá nặng, nhưng anh không muốn tất cả trở thành một bộ phim, như loại phim Hàn quốc xem nát một thời bên nhà bởi các bà hàng xóm của mẹ anh và bọn trẻ cấp hai, cấp ba… Anh cũng không bắt chước những bệnh nhân bên Phi châu gồng mình lo toan cho con cái, trồng luống rau cạnh lỗ huyệt mộ tự đào, để lo trước cho các con sau khi họ ra đi… Anh không nghĩ gì hết, chỉ lặng lẽ ngắm nhìn trời mây và lũ trẻ…
16 Tháng Năm 201810:24 CH(Xem: 51907)
Tiếng chuông cửa bất ngờ vang lên. Nàng giật thót người nhón từng bước chân, nheo mắt lại he hé nhìn xuyên qua cánh cửa màu trắng. Đôi mắt to với hàng mi dài đang nhìn thẳng vào nàng khiêu khích. Anh đứng đó, sừng sững như ngọn núi, chìa chai rượu nàng yêu thích trước mặt “Xin lỗi, quí cô có yêu cầu một chai Merlot? Rất hân hạnh được phục vụ!”. Liền sau động tác chuyên nghiệp của một người làm quản lý khách sạn 5 sao hơn 10 năm đó là nụ cười tươi, chuyển động cơ mặt cùng ánh mắt nhìn thẳng vào chiếc áo ngủ mỏng manh nàng khoác trên người. Nàng mỉm cười ngước lên nhìn anh, tầm mắt nàng chỉ tới được chiếc cằm vừa vặn trên gương mặt thanh tú. Sau màn trình diễn mời rượu điêu luyện là màn rót rượu vào ly cho nàng thẩm định.
10 Tháng Năm 201811:21 CH(Xem: 56741)
Chẳng biết từ bao giờ hình ảnh mẹ đã đồng nhất với cây hương nhu lá tía. Chị Hai nói có lẽ từ lúc mẹ sanh chị ba, bố dắt người tình đầu tiên vào tận nhà bảo sanh thăm mẹ, cô ấy đẹp và trẻ, và gợi mùi hương nồng nàn. Lúc đó ôm chị Ba trong vòng tay còn non ngày tháng, khi bà hơ lá hương nhu cho mẹ, mái đầu của mẹ đã gục xuống run rẩy như chiếc lá hương nhu gặp lửa than.
09 Tháng Năm 20183:31 CH(Xem: 54164)
Hôm nay, động cơ và nguyên nhân tối tăm nào đã thúc đẩy tôi, thêm một lần, trở thành kẻ cắp đốn mạt? Tôi nhớ đến cảm giác vừa ngất ngây khoái lạc vừa lo sợ luống cuống lúc vội vàng rời trạm xăng. Bỗng nhiên tôi lợm giọng, muốn ói. Chiếc xe đã vào đến lối đi tráng ximăng, Hạnh tắt máy mở cửa bước ra, vòng qua phía tôi, “Xuống anh.” Nàng đưa tay ra cho tôi nắm. Tôi cầm bàn tay của nàng, bàn tay nóng ấm mềm mại. Tôi nói, “Cảm ơn em, anh đi được.”
08 Tháng Năm 20189:17 SA(Xem: 55541)
Mẹ tôi không đẹp như mẹ nó. Mắt mẹ tôi cũng buồn, nhưng quanh năm đỏ quạch vì mẹ tôi luôn thiếu ngủ, mẹ gánh gánh xôi đi từ sáng sớm, chiều về lại lật đật đãi đậu, lượm nếp, tước lá chuối chuẩn bị nấu nồi xôi khác vào giữa khuya. Mẹ ghé lưng xuống phản cạnh tôi chỉ độ một, hai tiếng đồng hồ là đã lật đật trở dậy nhen lửa chuẩn bị cho gánh xôi sáng.
04 Tháng Năm 20182:42 CH(Xem: 51172)
Sau khi mẹ hắn chết, người ta gọi hắn là thằng Ngồi. Người ta kể với hắn rằng ra đời từ một tai nạn trong rừng cao su. Người ta kể mẹ hắn mù lòa cũng từ tai nạn trong rừng cao su ấy. Người ta lấp lửng về cha hắn, người đàn ông bí ẩn của tối canh ba trong rừng cao su. Người đàn ông bị cụt một lóng ngón tay út.