- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NGƯỜI PHẬT TỬ ĐẦU TIÊN

18 Tháng Mười Hai 20242:30 SA(Xem: 16903)


photo- chùa QUỲNH VIEN - Hà Tĩnh
Chùa Quỳnh Viên nằm trên núi Nam Giới (xã Đỉnh Bàn, Thạch Hà)
nhìn từ trên cao. Ảnh: Giang Nam




Mai An Nguyễn Anh Tuấn

NGƯỜI PHẬT TỬ ĐẦU TIÊN

Truyện lịch sử


Câu chuyện về người Phật tử Việt đầu tiên tại núi Quỳnh Viên (Thạch Hà - Hà Tĩnh) đã được thư tịch cổ nói đến nhiều kể từ đời Trần; và cho đến thời hiện đại, nhiều nhà nghiên cứu sử học, Phật học Việt nam đã cố gắng gỡ bỏ các lớp vỏ huyền thoại để nhất trí khẳng định trên cơ sở khoa học rằng: Núi Quỳnh Viên là có thật, trên đó còn có một ngôi chùa Quỳnh Viên, mà tại đây, Chử Đồng Tử có duyên may gặp một nhà sư tên Phật Quang, được ông ta dạy những bài học đầu tiên về Phật pháp nguyên thủy. Gần đây nhất, TS. Lê Mạnh Thát tại một Hội thảo khoa học quốc gia đã chính thức đề nghị: "Tỉnh Hà Tĩnh cần tổ chức một cuộc khảo cổ về những di tích tại núi Long Ngâm, trong đó có nền nhà Chử Đồng Tử bên chùa Quỳnh Viên để góp phần minh chứng cho việc khẳng định vấn đề nêu ra – tức là: chùa Quỳnh Viên ngày nay là nơi phát tích của đạo Phật Việt Nam, và đương nhiên, Chử Đồng Tử là vị Phật tử đầu tiên của nước ta vào cuối thế kỷ II TCN, giai đoạn cuối cùng của thời đại Hùng Vương…

Thế nhưng, lớp huyền sử mang đậm màu thần tiên quanh câu chuyện có thực trên vẫn chưa được gỡ bỏ hoàn toàn, và thiên truyện lịch sử nhỏ này có tham vọng làm nốt công việc khó khăn đó…

***


Trên một chiếc thuyền buôn lớn năm cánh buồm của người Hoàng Chi thời cổ đại (một lãnh địa thuộc nước Ấn xa xôi), chàng thanh niên họ Chử nhìn mãi về phía thuyền vừa xuất bến, nơi Tiên Dung vợ chàng chắc còn đang lưu luyến từ lúc đôi vợ chồng trẻ chia tay không thể hẹn đích xác ngày gặp lại… Bến thuyền bắt đầu chìm khuất trong sương mù. Ông thương gia trung niên người Ấn kín đáo nhìn chàng vẻ cảm thông. Nửa năm trời ông đã lưu lại nhà của vợ chồng này tại khu buôn bán phồn thịnh của thị trấn Hoa Xá gần một vịnh biển lớn nước Văn Lang. Ngoài việc trao đổi hàng hóa, ông còn chú tâm dạy tiếng nước ông cho đôi vợ chồng trẻ ham hiểu biết và đã thực lòng đề nghị ông truyền dạy tiếng nói cùng các phong tục tập quán xứ Ấn. Ông hiểu mơ ước thầm kín của họ là được đến thăm viếng quê hương của Đức Phật, mà sau hai thế kỷ, công đức của Đức Phật đã bắt đầu lan tỏa tới các vùng viễn Đông, qua các thương nhân Phật tử trên những thuyền buôn của Ấn hoặc thuyền nước ngoài giao thương với người Ấn…

Sau nửa năm làm khách quý, ông khách buôn người Ấn bảo vợ chồng Chử:

- Tôi biết hai người chẳng phải là thương nhân bình thường… Quý vị buôn bán là để mong sản vật nước Văn Lang được nhiều vùng xa biết tới, đồng thời giúp nhiều đồng bào nghèo của quý vị đỡ vất vả trong cuộc mưu sinh… Tôi sắp về nước, muốn đền đáp tấm lòng quý hóa của anh chị: Hãy xuất một thoi vàng theo tôi về Ấn để mua vải vóc, hương liệu, đồ trang sức… Quý vị sẽ được lời gấp đôi thậm chí gấp ba đó! Nhưng, điều này chắc quan trọng hơn với quý vị… - Ông nhíu cặp mắt hiền từ - Tôi sẽ đưa các vị tới đảnh lễ tại gốc Bồ đề, nơi thái tử Tất Đạt Đa đã thiền tọa và chứng đắc giác ngộ trở thành Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.

Chẳng đợi chồng gật đầu đồng ý, Tiên Dung đã khuyến khích chồng bằng những lời chân thành ngọt ngào, rằng lang quân hãy đi một chuyến xa để thỏa chí ước nguyện của cánh chim bằng, ở nhà thiếp sẽ thay chàng lo liệu mọi việc ổn thỏa…

Sau một ngày thuyền căng buồm lướt sóng, Chử vẫn thấy thấp thoáng đất liền, rừng núi phía xa, chàng định hỏi thì ông người Ấn mỉm cười:

- Cậu đừng vội. Trước khi chúng ta ném mình vào biển khơi mênh mông mịt mù, tôi muốn đưa cậu tới thăm một chốn này đã…

Trước mắt họ là một vùng núi non hùng vĩ trùng điệp. Từ trên thuyền có thể nhìn thấy một cửa biển hoang vu mà nước sông đang ào ạt trào ra biển lớn.

Ông người Ấn chỉ tay:

- Đó là Cửa Sót… Dòng sông chảy men dãy núi thiêng Quỳnh Viên, còn gọi là Nam Giới sơn… Đây chính là điểm cuối cùng của nước Văn Lang…

Chử nhìn ông người Ấn vẻ kính phục. Ông cười xòa:

- Có gì đâu! Thuyền buôn phương xa chúng tôi cần hiểu rõ hình khe thế núi, địa lý phong thủy cùng phong tục tập quán nơi mình tới làm ăn mà… Nhưng chàng trai này, trước khi đến quê hương Đức Phật mà cậu hằng mong, thì cần tới thăm một đệ tử chân truyền của Ngài…

Thấy Chử ngẩn mặt ra, ông người Ấn từ tốn giải thích:

- Trên núi Mốc của dãy Long Ngâm - Quỳnh Viên sơn kia có một vị cao tăng nước tôi đã sang ẩn tu mấy năm nay… Lúc đầu ông theo một phái đoàn truyền giáo do vua A Dục sai đi, nhưng sau ông tách riêng ra để tới phương Nam này… Tên thực ông là gì tôi không rõ nhưng có biệt danh là But-đa-bra-ba (Buddabrabha), có nghĩa là “Ánh sáng của Phật”…

Chử thốt lên:

- Phật Quang! Còn But-đa, lâu nay dân tôi vẫn ngưỡng vọng Ngài và gọi thân quý là Ông Bụt…

Ông người Ấn gật gù, vẻ mừng rỡ:

- Tôi rất vui sướng khi biết đạo Phật đã lan tỏa ánh sáng của Ngài tới nhiều phương trời… Nào, ta hãy tới tiếp kiến sứ giả của Ngài… Nhưng cậu nên nhớ ông Phật Quang này còn được gọi là “ông Khoai”, vì đã mang giống cây khoai lang, cây mít nước tôi sang hướng dẫn dân vùng này trồng…

Hai người xuống một chiếc thuyền nan vừa được hạ từ thuyền buồm. Chử vất vả chèo thuyền và cập thuyền vào một bến vắng cách xa cửa sông. Rồi hai người trèo lên ngọn núi linh thiêng sẽ trở thành huyền thoại suốt nhiều thế kỷ sau. Hầu như không có đường, hai người phải thận trọng gỡ các cành cây, gai góc, dây leo um tùm để không gẫy cành và tổn thương dây leo. Ông người Ấn thỉnh thoảng ngước nhìn lên xác định phương hướng, chợt ông chỉ tay:

- Kia rồi!

Chử nhìn theo, những anh không thể nhận ra cái gì giữa vùng rừng rậm rạp âm u chứa đầy sự huyền bí. Anh cắm cúi bước theo người Ấn. Trên sườn núi có một khoảng không gian bằng phẳng, và một cái am tạo bằng tre nứa và cỏ in dấu vết mưa nắng đã hiện ra.

Hai người kính cẩn bước vào am cỏ, qua một lối cửa trống trơn. Sau một lúc định thần, họ mới nhận ra trong bóng tối om om có một dáng người đang tĩnh tọa với vẻ thư thái, thanh tịnh không biết đến ngoại cảnh. Ông ta trạc ngoại bốn mươi, khắc khổ, gầy, nhưng rắn chắc tựa lõi gỗ lim. Hai người chắp tay cúi đầu chờ đợi. Lát sau, nhà tu hành mà giờ ta sẽ gọi là Phật Quang từ từ mở mắt. Sư nói một câu như niệm chú bằng tiếng Pàli cổ xưa mà Chử chưa bao giờ được nghe từ ông thương gia Ấn, rồi sư nói bằng tiếng Ấn bình dân, Chử hiểu gần hết:

- Ngài trở về cố quốc, tới thăm bần tăng đó ư?

- Vâng, thưa Ngài. Con có đưa theo một người, mà con nghĩ duyên Phật sẽ cho người ấy có hạnh ngộ được Ngài khai mở cho về Phật pháp…

Nhà tu hành trên núi Quỳnh Viên giơ một bàn tay lên:

- Ta đã chờ đợi anh ta từ lâu… Mà đừng nói rằng: ta sẽ Khai mở điều gì cho người ấy, bởi đó là người đã tràn đầy Phật tính rồi… - Ông nhìn sang Chử - Này anh, sao giờ anh mới tới?

Hai người như há hốc miệng kinh ngạc. Nhà tu hành ẩn dật từ tốn tiếp:

- Đôi khi hạ sơn đi khất thực, ta đã được nghe các bác tiều phu, ngư phủ vùng này kể cho nghe về lai lịch cùng đạo hạnh của vợ chồng anh…

Chử thốt lên:

- Dạ thưa, chúng con đã có đạo hạnh gì đâu ạ?

- Chỉ riêng cái việc Công nương của Hùng Nghị Vương xóa bỏ ranh giới Sang - Hèn, Giàu - Nghèo để chấp nhận anh làm chồng, giữa khi anh không có một mảnh vải trên mình, đã rõ là phẩm hạnh của một người giàu tính Phật…

Chử kinh ngạc:

- Trời đất! Thầy biết cả chuyện nhân duyên trái khoáy động đến Qủy thần và Triều đình của chúng con!…

Sư mỉm cười:

- Câu chuyện này mà ở đất nước của ta, chắc hẳn sẽ có nghệ nhân biến thành trường ca để mọi người múa hát thâu đêm suốt sáng, và có học giả sẽ viết vào Kinh Dục lạc Kama Sutra dành cho tăng lữ quý tộc đó!

- Nhưng…

Nhà tu hành giơ tay ngắt lời:

- Anh định hỏi: sao gọi là Phật tính ư? Ta biết rằng, không ít kẻ cầm quyền phương Bắc luôn rêu rao bôi nhọ dân Giao Chỉ - Cửu Chân, nhưng chính họ phải cần học hỏi nhiều ở những người họ cố tình gọi là “cầm thú”, “không biết đạo nghĩa vợ chồng”! Họ biết rõ đó là những người “Thờ cha mẹ như thờ trời” giống y họ, nhưng lại hơn họ là biết sống theo một đạo lý Phật, cái đạo lý đương rất xa lạ với họ trong các cuộc chém giết tranh giành lẫn nhau, đó là: “cứu nghèo giúp thiếu, thương nuôi mọi người là đứng đầu của hạnh”… Công nương của anh đã nhìn thấy ở trong con người anh, giữa khi anh nghèo túng khốn quẫn nhất, cái Tình thương với nhân quần, với đồng bào anh… Và khi kết duyên trăm năm với anh trong cõi đời hữu hạn này cũng là kết với duyên Phật sẽ phải tồn tại trên mảnh đất này hàng ngàn năm nữa đó…

Thương gia người Ấn góp lời:

- Vâng thưa thầy, hai vợ chồng vị này đã dựng lên một khu buôn bán trù phú ở cảng biển Hoa Xá, trợ giúp bao người nghèo vật tư tiền của, công ăn việc làm, từ tiền bán thuyền bán nữ trang của Công nương Tiên Dung…

- Ta biết! Vợ chồng họ còn mở mang vài con đường buôn bán tơ lụa, trầm hương, đá quý xuyên nhiều vùng xa trên biển cả, trước mắt là giúp dân và sau đó sẽ góp vào công khố để lo nghiệp lớn triều đình…

Chử chắp tay cảm kích:

- Cám ơn thầy đã thấu hiểu! Nhưng chúng con chưa làm được bao nhiêu đâu ạ… Còn nhiều gia đình túng thiếu đang mỏi mắt trông chờ ở chuyến đi này của con sang đất Phật…

Sư lại ngắt lời:

- Không chỉ trông chờ ở chút lãi anh mang về đâu, chàng trai! - Chử mở to mắt dò hỏi, chờ đợi  - Họ còn trông chờ điều anh sẽ mang về lớn hơn rất nhiều kia… - Sư trầm ngâm lúc lâu rồi mới tiếp tục - Anh biết không, Phật tổ thời tại thế cũng đã phải buồn phiền về không ít đệ tử của Phật mà không chuyên tâm tu tập chính pháp mà chỉ thích ăn ngon, thích được cúng tặng các vật dụng quý hiếm và những tấm y đắt tiền ở nhà các thí chủ giàu có - Ông giơ một tấm y ở bên một bình bát và một cây gậy lên - Hai thương gia có biết rằng: ta vẫn thực hành các hạnh tu buổi đầu của Phật tổ nhằm tìm đường Giác ngộ, bằng chính tấm y này đây…

Nhà buôn Ấn cầm tấm y ngắm nghía:

- Con đã được nghe nhiều, nay mới mục kích. Đây có phải là tấm y phước điền, tấm cà sa như thửa ruộng gieo trồng phúc đức, được chắp vá từ những mảnh giẻ nhặt về từ bãi tha ma hoặc vải thừa nhà thợ may, phải không thầy?

Nhà tu hành gật đầu, mắt ông long lanh như rớm lệ:

- Không ít vị sư thời trước và hiện tại ở quê hương Phật còn mưu toan sửa đổi giáo lý và giáo luật để dễ tu hành, để trục lợi nữa… Thật đau lòng!

Sư đứng dậy, bước ra ngoài am, tới chỗ có thể nhìn trọn vẹn từ trên cao về phía Cửa Sót đang cuốn nước về biển Đông xa tít tắp. Hai người đi theo ông. Khung cảnh hoang sơ, lộng lẫy và u buồn đang rực lên trong ánh chiều tà…

Sư chỉ tay về bên trái:

- Dưới kia, có ngọn suối mang tên Hiêu Hiêu đón nước ngọt thơm của đá núi dãy Quỳnh Viên sơn - Ông lại chỉ tay về phía phải - Ngọn núi kia chạy ra sát biển, đón sóng biển ầm ào đêm ngày như tiếng sấm nên được gọi là Long Ngâm… Hai nhà buôn hãy xem: Thiên nhiên sao mà tuyệt diệu, chúng như kêu gọi các giáo pháp trên đời chỉ cần thuận theo chúng thôi, bằng tu dưỡng Tự ngã, hãy kính cẩn trước Thiên nhiên bằng Thiền (zen), bằng Du-già (yoga). Điều đó giúp chúng ta không chán nản khi đau khổ, không trở nên sa đọa khi hạnh phúc… Chừng nào tìm được trong ta cái thế giới chân thật không có gì bất biến, không có gì trường tồn, không bị trói buộc bởi không gian - thời gian, thì tức là đã đạt cõi Niết bàn rồi đó!

Chử bất giác quỳ sụp xuống lạy nhà tu hành:

- Thưa thầy, lâu nay con đi tìm chân lý Phật, và đang trên đường đến quê hương Đức Phật… Nhưng gặp thầy đây là con đã thấy Phật rồi…

Nhà tu hành vội bước tới đỡ Chử đứng lên:

- Không đâu! Trong anh đã có sẵn Phật rồi, tìm đâu xa! Giữa ta và anh hình như đã có duyên tự kiếp trước, còn kiếp này gặp nhau, ta cảm thấy có bổn phận giúp anh, chỉ chút ít thôi… - Chử nhìn sâu vào mắt nhà tu hành mà cả con người ông như toát ra ánh sáng Phật vừa linh thiêng vừa ấm áp - … Phải, đó là bổn phận chỉ cho người đi sau ta con đường thật sự dẫn đến sự An Lạc của tâm hồn…

- Con xin được ở lại đây làm đệ tử thầy, để được thầy truyền pháp đến nơi đến chốn…

Nhà tu hành người Ấn không dấu được sự xúc động mà sau nhiều năm tháng ông đã gửi hết vào cây cỏ trăng sao vùng núi Quỳnh Viên. Ông chắp tay kính cẩn trước người đệ tử mới, và cũng là duy nhất của ông, vui vẻ nhận anh làm Phật tử của Am Quỳnh Viên - gốc của ngôi chùa Quỳnh Viên sau này.

Chử nhờ ông thương gia Ấn thay anh tiếp tục thực hiện công việc buôn bán mà họ đã giao ước, và nhờ ông: nếu khi quay lại, không muốn lên núi Quỳnh Viên đón anh thì tới thị trấn Hoa Xá kể cho vợ anh nghe mọi chuyện đã diễn ra tại đây...

Chử học được ở sư Phật Quang phương pháp tĩnh tọa, thiền quán, điều hòa hơi thở, và được nghe sư đọc giảng nhiều đoạn Kinh sách quan trọng bằng nguyên tác Phạn ngữ… Độ gần nửa năm sau, thuyền buôn của ông thương gia Ấn quay lại núi Quỳnh Viên đón Chử. Chàng bảo chưa muốn về. Mấy tháng qua, sau lúc học Phật pháp, chàng san nền, vào rừng chặt tre nứa và đã dựng lên một ngôi nhà tranh nhỏ gần Am Quỳnh Viên để có dịp sẽ đón vợ lên cùng tu tập. Sư Phật Quang khuyên:

- Lúc này thì trò cần về Hoa Xá, đem ánh sáng Phật pháp cho dân Văn Lang. Cô ấy đang mong trò đấy!

Sư Phật Quang đưa cho Chử chiếc gậy, cái nón và chiếc bình bát, với lời dặn: “Trò cần giữ gìn ba vật này. Các việc Linh Thông đều nằm trong đó cả”. Sư mang “Ánh sáng Phật” không cần giải thích rõ và cụ thể, việc “Linh Thông” ra sao, bởi gần năm tuần trăng làm bạn với người Phật tử đầu tiên này của nước Văn Lang, ông hiểu: những đoạn Kinh Phật gốc ông đọc cùng vài kỹ thuật hành pháp truyền dạy thực ra chỉ là sự chứng nghiệm sáng sủa trong trái tim chàng trai nước Việt thuần hậu, lương thiện, và đã sẵn Phật tính như ông nhận ra ngay từ buổi ban đầu…

Sau này, câu chuyện về ba bảo vật sư Phật Quang trao cho Chử sẽ thành truyền thuyết hấp dẫn đến say lòng: Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã hóa phép chúng ra Cung điện Thành quách Phố xá nhằm đánh lừa quan quân triều đình kéo đến hỏi tội đôi vợ chồng… Sự thật thì các việc “Linh Thông” của Phật giáo quyền năng mà sư dặn chỉ là chuyện “năm giới Cấm” và “mười điều Lành”, khả dĩ giúp người theo Phật pháp chân chính sẽ đạt được trạng thái “không lạnh, không nóng, không đói không khát, công nghiệp và phước đức hội tụ, đạp lửa không bỏng, đi dao không đứt, muốn đi thì bay, ngồi thì phóng quang, biến hóa không chừng, ẩn hiện vô chừng, mọi thứ độc không thể làm hại” - như Kinh sách từng nói rải rác mà ông đúc kết lại. Ông tin rằng chàng trai này sẽ có một sức mạnh tinh thần phi phàm để giúp gia đình chàng và đồng bào của chàng vượt qua mọi thử thách khốc liệt đang chờ đợi trên mọi nẻo đường. Nhưng ông không thể ngờ: bắt đầu từ những Phật tử đầu tiên như Chử Đồng Tử - Tiên Dung, đạo Phật Việt đã bắt đầu thấm vào lòng người dân đất nước này như một nguồn suối trong lành không bao giờ vơi cạn trước mọi thủ đoạn tàn độc, có khả năng giúp hồi phục mọi vết thương lòng đau đớn, hóa giải mọi hận thù, và nhân lên vô hạn tình yêu thương ngay cả khi nó có nguy cơ bị cạn kiệt, bị truy đuổi…

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

  

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười Một 20257:28 CH(Xem: 6671)
Khi qua Mỹ định cư,tôi liên lạc ngay với Trần Hoài Thư (cuối năm 2005). Mãi đến 12 năm sau (2017) khi về hưu, tôi mới có dịp liên lạc với nhà văn Lê Thị Huệ và nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh. Những người nầy đã khuyến khích tôi cầm bút trở lại.
18 Tháng Mười Một 20257:22 CH(Xem: 7410)
Có ai giống như tui còn nhớ lại thời mình hồi còn nhỏ xíu, cỡ hai tuổi không ta? Tui không nói dóc đâu. Bây giờ ở tuổi 65 tui vẫn nhớ hồi đó đó.Cái trí nhớ "kỳ cục" của tui nó toàn nhớ rõ cái gì đâu đâu. Tui lớn hơn cái thằng em kề tui 2 tuổi. Hồi Má tui đi sanh nó, tui nhớ mình cứ ngồi ngoài cửa mà chờ. Ba tui dỗ ngọt rằng là:sẽ cõng tui trên lưng theo ý tui, vì trời lạnh quá, mà tui vẫn cứ chờ mà hổng chịu vào nhà. Khi Má đi sanh về, Má trùm đầu mang vớ đi nhè nhẹ vào cái buồng nhỏ trong nhà, Ba tui bồng thằng em. Tui lót tót theo sau. Tui nhớ ba tui nói với Má về tui: "Nó là đứa sống t Tui lớn hơn cái thằng em kề tui 2 tuổi. Hồi Má tui đi sanh nó, tui nhớ mình cứ ngồi ngoài cửa mà chờ. Ba tui dỗ ngọt rằng là:sẽ cõng tui trên lưng theo ý tui, vì trời lạnh quá, mà tui vẫn cứ chờ mà hổng chịu vào nhà. Khi Má đi sanh về, Má trùm đầu mang vớ đi nhè nhẹ vào cái buồng nhỏ trong nhà, Ba tui bồng thằng em. Tui lót tót theo sau. Tui nhớ ba tui nói với Má về tui: "Nó là đứa sống tì
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 7796)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
18 Tháng Mười Một 20256:53 CH(Xem: 10425)
Iio Sōgi (1421−1502) rất nổi tiếng trong giới văn chương đương thời. Ông sáng tác vô cùng sung mãn và để lại hơn chín mươi tác phẩm - tuyển tập, nhật ký, phê bình thơ và tiểu luận về văn học cổ điển. Thiền giả thi sĩ Matsuo Bashō coi ông là một trong những người thầy nghệ thuật của mình. Nhà văn R. H. Blyth nhận xét rằng ông “gần như quá thi vị và nghệ sĩ đến mức không thể là con người”. Những bài thơ dưới đây do Bạt Xứ dịch từ bản tiếng Anh của William Scott Wilson. - Bạt Xứ
09 Tháng Mười Một 202510:34 CH(Xem: 6281)
"Tuyển tập II chân dung văn nghệ sĩ" là một công trình mới của Nhà văn Ngô Thế Vinh, giới thiệu 18 văn nghệ sĩ và nhà văn hoá thành danh thời trước 1975 ở miền Nam Việt Nam. Những tác phẩm, chân dung và chứng từ trong tuyển tập này minh chứng cho một nền văn nghệ nhân bản, năng động và đột phá đã bị bức tử sau biến cố 30/4/1975. Do đó, tuyển tập là một nguồn tham khảo quí báu về di sản của nền văn nghệ và giáo dục thời Việt Nam Cộng Hoà. (NGUYỄN VĂN TUẤN)
09 Tháng Mười Một 202510:13 CH(Xem: 7565)
Đêm qua bão đi ngang qua Qui Nhơn. Mưa to lắm, gió phần phật rít lên từng cơn mưa theo tiếng hú của mùa dông bão. May quá, tôi đã về nhà bình an. / Mấy ngày đi bụi, bù lăn bù lóc dầm mưa dãi nắng bên ngoài tôi sốt rồi. Hôm qua đầu choáng váng, nhức đau cả toàn thân; tôi ghé trạm xá đo huyết áp nhưng huyết áp không sao mà tôi sốt lên đến 40 độ... Là tôi đó, cái tuổi 60 đã già rồi mà lại không ở yên một chỗ cứ thích rong chơi. Đêm nay, tôi trùm mền nằm nghe bão dông, tôi lạnh đến run người. Thành phố lại bị cúp điện, điện thoại hết pin không thể sạc được, tôi nằm chờ trời sáng.
03 Tháng Mười Một 20254:17 CH(Xem: 10618)
Sao không ở cùng tôi thêm chút nữa, cơn mưa... để rót đầy tình tự mùa Thu trên bờ úa nắng, để riêng che một cõi hương xưa đằm thắm theo về. Hương ngai ngái của đất vừa chớm ướt, sợi mưa chỉ còn là nỗi run rẩy trên bàn tay bé nhỏ lá ơi, hãy chắt chiu đến tận cùng có thể, cho tôi nhìn sâu thẳm âm thanh là những hạt long lanh đến thế.
03 Tháng Mười Một 20253:42 CH(Xem: 10516)
có một người không nói, mà hoa cười / không bước đi, mà gió cũng theo về / không hẹn trước, mà chiều như đã đợi / một bóng hình đằm thắm giữa cơn mê.
03 Tháng Mười Một 20253:32 CH(Xem: 8819)
Tháng 11 - 2025, đại tường Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Lễ đại tường là ngày giỗ năm thứ hai hai sau khi một người qua đời. Đại tường không chỉ là một nghi thức tang lễ nối dài mà là một triết luận sinh diệt siêu vượt những tín lý từng được cho là siêu việt của văn hóa và tôn giáo Á Đông, đặc biệt trong Phật giáo; nhất là khi nói đến một bậc danh tăng như Thầy Tuệ Sỹ lại càng mang nhiều ý nghĩa
03 Tháng Mười Một 20253:19 CH(Xem: 11601)
Ướt chùng lòng anh / Thềm mưa bụi / Con tàu lầm lũi vùng quên lãng / Đi vào đi vào sương, hoa muồng vàng mù tối / Đắng khói hai hàng cây nuôi dưỡng tình đầu /
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9745)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16589)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15590)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16016)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 792)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2933)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2769)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2708)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 648)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4954)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6836)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6120)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 747)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2323)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2470)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2698)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2217)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2023)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2187)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2225)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 575)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13192)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29167)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35523)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10504)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12401)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1867)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2769)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3022)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3087)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3807)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7538)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6901)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9381)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.