- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đối Diện

20 Tháng Mười Hai 201411:41 CH(Xem: 54947)

TranhDinhCuong-lapthe
Tranh Đinh Cường

 

 

 

1

 

Tân ngồi đối diện với viên sĩ quan mang quân hàm đại úy của quân đội nhân dân, anh lơ đãng nhìn khuôn mặt khắc khổ của cán bộ trước mặt, đang chăm chú đọc mấy tờ giấy vở học trò mà lướt mắt nhìn qua anh biết là tờ khai lý lịch của anh, tay áo trái được giắt vào thắt lưng vì tay trái anh ta cụt mất từ vai. Từ những ngày đầu tiên vào trại, tất cả trại viên phải miệt mài viết bản tự khai về lý lịch, viết đi viết lại… lần nào cán bộ cũng bảo là chưa thành thật khai báo, chưa kê khai hết tội lỗi của mình, chưa thành thật hối cải, chưa thành khẩn khai báo, v.v… và v.v… Mãi về sau, Tân mới biết đó là thủ thuật của cán bộ, họ xem bản sau và bản trước có điểm nào khác nhau không, mong tìm thêm được chút gì “mới”, cũng là cách giữ tù nhân không có thì giờ nhàn rỗi suy tính chuyện gì khác. May mà lý lịch của anh khá đơn giản: cha mất sớm, má ở vậy nuôi con, tới tuổi bị động viên, học khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức, ra đơn vị leo dần đến cấp bậc trung úy, giữ một vị trí có tính chiến lược, bị thương, được về tiểu khu … cho đến ngày bị bắt buộc phải buông súng và sau đó, trình diện học tập. Tân cũng có gia đình, vợ là giáo viên tiểu học, lương chỉ đủ sống hết sức tiện tặn một tuần, phải bán buôn chèo chống kiếm thêm tiền nuôi chồng cải tạo và hai đứa con mọn. Người chị ruột cũng còn sống nơi làng quê ngày xưa trong căn nhà cũ của gia đình còn lại sau khi cha mất. Tân cũng có một người anh ruột kế Tân, đi bưng từ lúc mới mười lăm tuổi. Tạo, anh của Tân trốn luôn theo cách mạng nhân một lúc về thăm nhà, sau khi cha mất ít lâu. Lúc đó Tạo và Tân đang học trung học ở trên tỉnh lỵ, sống nhờ vào người chị bà con. Tạo về quê thăm nhà, lấy thêm vật dụng và tiền bạc… nhưng rồi đi luôn, không trở lại, Tân và anh mất liên lạc nhau từ lúc đó.

 

 

Năm một chín bảy mươi hai, Tân là trung úy đại đội trưởng đồn trú đặc khu Long Toàn. Long Toàn nằm cách chi khu Long Khánh (Vĩnh Bình), chi khu Trường Long Hòa và cửa biển Ba Động không xa, và là những chốt an toàn cho tỉnh Vĩnh Bình vì cả Long Khánh, Long Toàn lẫn Trường Long Hòa tạo thành một vành đai đối diện với Cồn Cù và Láng Cháo bấy lâu nay được coi là vùng của Việt Cộng. Thỉnh thoảng bộ binh của Sư Đoàn hay Biệt Động quân cũng tung quân sục tìm, nhưng sau chiến dịch là rút về, lực lượng địa phương quân của miền Nam ở vùng này mỏng và đôi khi chỉ là những người của Việt Cộng hay có bà con theo phía bên kia, đứng ra làm lá chắn và kịp thời thông báo cho bộ đội hay du kích biết trước các cuộc hành quân của phía quốc gia. Đã có nhiều lần lực lượng càn quét đánh vào chỗ trống, chỉ có đàn bà, trẻ con và ông bà lão, thanh niên trong các xã ấp này không có ai.

 

Việt Cộng im tiếng ít lâu sau chiến dịch Mậu Thân, nay lại rục rịch bắt đầu. Đã có những cuộc chạm súng cấp đại đội và những tin tức tình báo cho thấy đã có mặt của quân chính qui Bắc Việt. Láng Cháo là một xã ở một cửa sông Hậu, một phần giáp biển, dân cư thưa thớt coi như ngăn cách với các xã ấp trù phú hơn phía trong bằng rừng cây mấm, cây giá và chà là, khi thủy triều lên là cả một vùng bao la nước ngập đến đầu gối, nên trở thành nơi lý tưởng để nhận vũ khí, đạn dược tiếp tế từ ngoài Bắc. Miền Nam không đủ quân để giữ một vùng dân cư thưa thớt và hoang vu như vậy, nên các chi khu Long Vĩnh, Long Khánh, Long Toàn và Trường Long Hòa trở thành một vòng đai bảo vệ an ninh cho những vùng đông dân hơn ở phía trong. Hai chi khu Long Khánh và Trường Long Hòa có hai khẩu đội 105 ly, nhằm yểm trợ pháo binh cho toàn vùng.

 

Tân bị điều về đó khá lâu. Long Toàn tuy vậy mà an ninh có khá hơn các chốt chiến lược kế cận, nhờ dân cư đông hơn và tương đối sầm uất hơn, nhưng cũng vì thế nên khó kiểm soát và bảo vệ cho dân chúng hơn. Khu Long Vĩnh, Long Khánh chẳng hạn, trời chạng vạng tối là lính rút hết vào mấy lượt vòng rào, trừ mấy chốt chặn an ninh bên ngoài. Cấp số của chi khu Long Toàn là đại đội nhưng quân số không quá trăm người. Mỗi đêm Tân tung hai tiểu đội ra ngoài làm thành vòng đai quanh khu vực. Từ lâu hoạt động của địch chỉ là những quấy rối nhỏ, men về vùng ven, thu thuế, rải truyền đơn tuyên truyền… không có một đụng độ lớn nào quan trọng nào cho đến tháng trước, tiểu đội do trung sĩ nhất Thạch Lên nằm chốt đụng phải một đơn vị không rõ quân số của địch. Sau hơn hai mươi phút, địch rút, bỏ lại trận hai xác chết. Tài liệu thu được cho thấy chúng thuộc một tiểu đoàn chính qui Bắc Việt. Phân tích tình báo trên tiểu khu gửi xuống cũng cho thấy địch đang gom quân mong đánh thủng vòng đai an toàn để có thể thọc sâu hơn vào bên trong, nhưng tài liệu không cho thấy địch sẽ tập kích ở chỗ nào. Cũng cách nay không lâu, lực lượng giang đoàn trong lúc tuần tiểu trên sông Hậu, dọc Cù Lao Dung đã chận bắt được một ghe chài chở vũ khí, đạn được đủ cung cấp cho cả một đại đội, gồm cả AK lẫn súng cối và B40. Những tin tức đó cho thấy sắp có cơn những biến động mới trong vùng.

 

Tân cho rà lại những tọa độ chấm trước quanh đặc khu, phòng khi bị tấn công, các khẩu đội từ Long Khánh và Trường Long Hòa có thể yểm trợ hữu hiệu và nhanh chóng. Vòng rào kẽm gai quanh chi khu cũng được nới xa thêm mười mét. Công sự phòng phủ cũng được củng cố thêm.

 

 

2

 

Đêm xuống cùng với cái oi bức mùa hè, muỗi bay từng đàn như vãi trấu, cùng với tiếng xè xè, rọt rẹt của máy truyền tin. Hạ sĩ Lập đang liên lạc với hai tiểu đội chốt bên ngoài, tình hình vẫn yên tĩnh như mọi ngày… chương trình ca nhạc của đài phát thanh Cần Thơ đã chấm dứt, Tân vén tay áo xem giờ, đã gần mười giờ mà không gian yên ắng như là khuya lắm, đài đang phát chương trình tin tức và bình luận cuối ngày, vài tiếng chó sủa ma, Tân vói tay tắt radio và chui vào mùng dỗ giấc…

 

Tiểu đội của trung sĩ nhất Hàn chốt ở phía cầu Long Toàn lên máy báo tình hình, chỗ này tiếp giáp với địa phận trách nhiệm của chi khu Long Khánh. Cầu đã bị phá hủy từ lâu, thay vào đó là một bến đò nối liền con lộ từ Long Toàn qua Long Khánh và ngược lại, hai bên chịu trách nhiệm an ninh ở hai đầu cầu. Tiếng binh nhất truyền tin liên tục trên máy:

 

- Đống Đa, Đống Đa, đây Chí Linh.

 

Tân chồm dậy, hạ sĩ Lập vẫn ngồi cạnh máy truyền tin.

 

- Đống Đa nghe, tiếng hạ sĩ Lập

 

- Phía thằng Lê Lai đang đụng, Chí Linh vẫn chưa thấy gì – Lê Lai là danh hiệu của chi khu Long Khánh.

 

Tân nói nhanh vào ống liên hợp:

 

- Chí Linh coi chừng mấy thằng con…

 

Tân chưa dứt lời thì một trái pháo rơi vào ngay cổng đặc khu, cả hai vùng dậy, chạy vội về phía công sự. Súng các loại bắt đầu nổ. Đêm tối như mực. Thêm một trái pháo rơi sâu hơn vào bên trong, địch đang điều chỉnh tác xạ. Tân lên máy liên lạc về tiểu khu và xin pháo sáng. Anh cũng báo cho hai tiểu đội bên ngoài biết đặc khu đang bị tấn công và lệnh cho hai tiểu đội giữ vững vị trí, chờ lệnh… Một trái B 40 bắn thẳng vào công sự phòng thủ của trung đội hai đang phòng thủ đặc khu, phá một lỗ thủng trên hàng kẽm gai và bờ tường, tiếng AK, M16 đáp trả nhau giòn giả. Cối 81 ly của địch nổ hàng loạt, một trái rơi gần cột cờ đặc khu… B 40 lại phá bung thêm một lỗ trên hàng rào gai phòng thủ. Một trái pháo sáng nổ bụp trên không, ánh sáng vàng vọt của hỏa châu soi lúc tỏ lúc mờ khung cảnh bên ngoài, vài bóng người vụt ẩn vụt hiện bên ngoài vòng rào… khẩu đại liên bên công sự góc trái của chi khu vẫn đều đều nhả đạn vào bất cứ chuyển động nào ở bên ngoài.

 

Như vậy là địch tấn công cùng một lúc Long Khánh và Long Toàn, nghe tiếng súng giòn giả và liên tục, anh nghĩ là quân số của địch phải lên đến cấp đại đội hay tiểu đoàn. Máy truyền tin lại thông báo định bắt đầu xung phong vào vòng rào an ninh của Long Khánh sau một trận mưa pháo. Thiếu Úy Định đại đội phó bên chi khu Long Khánh đã bị thương nặng, sau khi ra lệnh hạ nòng khẩu 105 ly, sẵn sàng trực xạ, còn trung úy Sơn đã tử trận sau trận pháo đầu tiên, bây giờ bên Long Khánh chỉ còn hai sĩ quan trung đội trưởng mà một là chuẩn úy mới đến đơn vị hơn tháng nay cầm cự với lực lượng đông đảo hơn gấp bội của địch. Tân đoán chừng địch cũng sắp xung phong vào đặc khu của mình. Quả không sai, sau một trận pháo đủ loại vào các công sự, máy phát điện trong đặc khu bị pháo trúng, bóng tối phủ trùm… địch bắt đầu ôm bộc pha tràn lên, qua ánh sáng của mấy ngọn hỏa châu, những thân người cứ từng đợt, từng đợt chồm lên, ngã gục trước hai khẩu đại liên đặt ở hai cánh của chi khu. Vài trái mìn phòng thủ và lựu đạn gài quanh đặc khu cũng đã nổ ghìm bớt sức tấn công của địch. Tuy vậy Việt cộng cũng đã lập được một đầu cầu gần bên công sự của khẩu đại liên bên trái. Tân ra lệnh khẩu đội bỏ vị trí, lui sâu vào trong cạnh bộ chỉ huy. Tiếng máy PRC báo:

 

- Đống Đa, Đống Đa, đây Chí Linh 1, tụi nó đông quá, chờ lệnh Đống Đa…

 

Tân nghe mấy tràng súng chát chúa qua máy, anh gọi lớn:

 

- Chí Linh, đây Đống Đa – Chí Linh, đây Đống Đa…

 

Không có tiếng trả lời, chỉ còn tiếng rè rè liên tục của máy truyền tin, Tân không còn liên lạc được với Hàn và tiểu đội của anh nữa…

 

Trận chiến không cân sức giữa hai trung đội còn đồn trú trong đặc khu với một lực lượng quá hùng hậu của Việt cộng. Tân đã cho gọi pháo yểm trợ bắn chận, từng đợt pháo rơi chính xác vào các tọa độ chấm trước, nhưng với chiến thuật thí quân, địch cũng đã vượt qua vòng rào cuối cùng, sau khi hy sinh một số cho hai quả mìn claymore. Địch sắp tràn vào đặc khu, anh đã yêu cầu tiểu khu xin phi cơ thả bom lên sát hàng rào cuối cùng của đặc khu, mong làm chùn bước địch quân. Sau hơn một giờ cầm cự, hơn một nửa lực lượng đồn trú lớp chết lớp bị thương, không còn khả năng chiến đấu. Cuối cùng tiểu khu ra lệnh cho Tân bằng mọi cách phải bỏ vị trí, đưa thương binh ra ngoài.

 

Tân lệnh cho hai khẩu đại liên bắn rát tạo lưới lửa để tản thương binh, xạ thủ bắn cho đến giây đạn cuối cùng rồi bỏ súng...

Khi Tân rút được ra ngoài, bên cạnh anh chỉ còn gần hai mươi binh sĩ thương tích cùng mình, bản thân anh cũng phải được dìu bởi hai binh sĩ khác vì một mảnh pháo ở bắp vế phải và một mảnh khác bên hông, máu nhuộm đỏ ướt lần băng cá nhân. Hai chiếc skyraider đang quần thảo trên không, rải đều lưới đạn lên đặc khu, cuối cùng hai quả bom được thả ngay trên khu vực, toàn bộ đặc khu trở thành bình địa.

 

 

3

 

 

Đó cũng là trận mà Tạo là chính ủy của lực lượng tấn công. Trên đã cung cấp cho anh hai tiểu đoàn, gồm cả bộ đội chính qui và du kích. Lực lượng tấn công Long Khánh gồm hai đại đội. Điểm chính mà trên muốn thanh toán là đặc khu Long Toàn, anh đã dùng hơn một tiểu đoàn, cộng với một tiểu đội cối tăng viện. Lúc màn đêm buông xuống, phủ một màu đen đồng lõa, viên tiểu đoàn trưởng báo cáo các cánh tấn công đã vào các vị trí, chỉ còn chờ lệnh của chính ủy. Anh cùng ba Qui, tiểu đoàn trưởng, duyệt soát lại mọi chi tiết đã hoạch định. Mọi việc đều khớp với kế hoạch ban đầu, các cánh quân đã được ém kỹ, chỉ còn chờ phía lực lượng chịu trách nhiệm bên chi khu Long Khánh nổ súng, mở màn cho mặt trận nghi binh. Vài tiếng chó xa xa. Cơn gió chướng không xua được không khí oi bức và đàn muỗi đói bu quanh hơi người. Mười giờ mười lăm, tiếng cối và đạn đủ loại vọng về từ phía chi khu Long Khánh. Mười lăm phút sau, Tạo ra lệnh cho cối pháo tới tấp vào đặc khu Long Toàn, ánh đèn pha trên lô-cốt cạnh cổng chính tắt phụt, chỉ còn những làn đạn lửa đan chéo nhau. Súng các loại nổ rền điểm thêm những tiếng cối... Ba Qui lợi dụng bóng đêm, ra lệnh xung phong, tiếng kèn thúc những thân người chồm dậy, ôm súng xông tới; hai khẩu đại liên từ hai góc của đặc khu nhả đạn tới tấp, tạo thành lưới lửa, ghìm bộ đội xuống đất.

 

- Bộc pha, toán bộc pha đâu, Tạo gầm lên át tiếng súng.

 

Tạo ra lệnh cho đặc công ôm bộc pha phá lổ hổng cạnh ụ đại liên trong đặc khu, làm đầu cầu cho toán xung kích. Bộc pha làm thủng một lỗ lớn trên hàng kẽm gai, kèn xung phong lại nổi lên, từng toán người lại ôm súng tràn lên, tràn lên, một quả B40 nổ ngay trước ụ đại liên, súng phóng lựu M79 tới tấp từ trong đồn đáp trả, những thân người gục xuống, có xác nằm vắt qua kẽm gai. Ngoài kia hàng người vẫn nhào lên như những con thiêu thân lao vào ánh lửa. Một quả mìn claymore nổ, soi rõ những thân người gục xuống, lớp khác lại chồm lên, đạp lên những xác người vắt vẻo trên hàng rào kẽm gai. Pháo binh yểm trợ từ Trường Long Hòa bắn phủ chụp trên trận địa, cứ co dần vào sát hàng rào cuối cùng của đặc khu…

 

***

 

Khi lực lượng tấn công tràn được vào đặc khu, các ổ kháng cự cuối cùng bị dập tắt, xác người nằm ngổn ngang, có người bị B40 thổi bay mất đầu, có người bị đạn xuyên qua cổ chết gục mà mắt vẫn mở trừng, có người chết banh xác vì cối, không khí khét đặc mùi thuốc súng và mùi máu. Không còn nghe tiếng M16 kháng cự của quân đồn trú, nhưng đồng thời Tạo cũng nghe tiếng rít xé gió của khu trục trên trời, Tạo hiểu ngay là quân đồn trú đã rút được hết ra ngoài, nhường trận địa cho phi pháo, anh liền ra lệnh bộ đội rút nhanh ra khỏi mục tiêu vừa chiếm được để tránh tổn thất, nhưng không kịp nữa rồi, pháo binh bắn cấp tập, đạn pháo nổ chụp ngay trên đầu, pháo sáng soi rõ mọi vật... Cuối cùng Tạo còn kịp nghe tiếng nổ đinh tai của quả bom từ chiếc khu trục rồi tất cả tối sầm.

 

 

4

 

 

Lúc Tạo tỉnh dậy, toàn thân ê ẩm, anh cựa mình cảm thấy đau nhói bên trái. Tạo mò mẫn trong bóng tối, khám phá dần anh bị băng bó toàn thân. Quanh anh là bóng tối dày đặc và không một tiếng người, chỉ có tiếng rì rầm của chiếc máy đuôi tôm ở trên cao, và tiếng óc ách của nước trong khoang ngay chỗ anh nằm, anh biết mình đang nằm dưới khoang của một chiếc ghe bầu… Anh khát nước kinh khủng, không có ai bên cạnh, chung quanh yên lặng chỉ trừ tiếng máy tàu đều đặn. Anh mò tay xuống dưới sạp nằm thấm nước đưa lên miệng liếm láp, nước lờ lợ và lẫn mùi dầu… Không biết giờ này đơn vị của anh ra sao, anh đang đi đâu? Chịu, chung quanh chỉ là một màn đen bưng kín mắt, không khí chung quanh nóng bức và ngột ngạt. Đói, khát, đau đớn và tiếng máy tàu đều đều lại đưa anh chìm vào cơn mê.

 

Lúc tỉnh dậy lần nữa, anh thấy mình nằm trên một chiếc sạp tre trong ánh sáng mờ mờ của chiếc đèn chong nhỏ soi sáng một không gian hẹp, chỉ vừa đủ cho chiếc sạp nằm và chiếc bàn gỗ tạp. Anh muốn cựa mình, nhưng toàn thân ê ẩm. Tạo cố nhớ lại trận đánh, lúc anh vừa nhận thức được quân trú phòng trong đặc khu rút hết ra ngoài và vừa nghe tiếng khu trục gầm thét trên bầu trời, anh hiểu ra là địch muốn phá thành bình địa đặc khu, tiêu diệt luôn đơn vị vừa chiếm đóng. Anh toan ra lệnh rút ra ngoài thì một quả bom rơi gần đó, tiếng nổ và sức ép, hất Tạo văng vào một góc công sự, rồi anh không còn biết gì nữa… Bây giờ thì Tạo hiểu anh đang bị thương và nằm ở đâu đó. Có tiếng bước chân và tiếng lịch kịch mở cửa, ánh sáng rõ dần, một người đàn bà cầm đèn và một tô cháo bước vào, Tạo cố cử động.

 

- Đồng chí tỉnh rồi à.

 

- Đây là đâu vậy?

 

- Nhà của cơ sở, đồng chí bị thương nặng, được đưa về đây đã năm hôm rồi. Đồng chí ăn chút cháo nhen, mấy ngày nay nằm mê man.

 

Anh hỏi tin tức về đơn vị của mình, người đàn bà không biết gì, chỉ cho biết anh bị thương rất nặng, cánh tay trái đã bị mảnh bom cắt mất, đồng đội đã băng bó mang về đây dưỡng thương.

 

Mất hơn một tháng nằm dưới hầm bí mật trong một căn nhà cơ sở, anh mới được liên lạc đưa về gặp Liên Khu. Tạo mới được biết lực lượng tấn công do anh chịu trách nhiệm gồm hơn tiểu đoàn chính qui và du kích, được tăng phái một tiểu đội cối và một tiểu đội đặc công, đã bị xóa sổ gần như hoàn toàn. Tiểu đội cối may mắn nằm ngoài để yểm trợ nên thoát khỏi trận mưa pháo và bom biến đặc khu Long Toàn thành bình địa. Tiểu đoàn trưởng Ba Qui chết tan xác trong trận phi pháo. Tạo may mắn bị hất văng vào góc công sự, mấy bao cát đổ chụp trên người… Khi du kích moi được anh ra thì Tạo đã bất tỉnh, cánh tay trái bị mảnh bom cắt lìa, họ phải xé áo Tạo, buộc chặt vào vết thương và thay nhau cõng anh thoát ra ngoài với chừng hơn chục bộ đội và du kích thương tích tả tơi. Gần như trọn bộ lực lượng tấn công đặc khu Long Toàn bị tiêu diệt. Trong thời gian dưỡng thương ở liên khu, anh phải viết đi viết lại báo cáo khuyết điểm của mình, không tiên liệu được lực lượng phòng thủ đã gọi phi pháo trút bom đạn lên đặc khu sau khi rút được ra ngoài, làm tiêu hao lực lượng nòng cốt của Mặt Trận. Anh thành khẩn nhận khuyết điểm và xin hạ tầng công tác.

 

 

5

 

 

Tháng Năm năm Bảy Lăm, anh cùng một nhóm cán bộ và bộ đội về tiếp thu tiểu khu Vĩnh Bình. Sổ sách giấy tờ của tiểu khu bị tiêu hủy gần hết khi địch tháo chạy, nhưng may mắn tài liệu của phòng hành quân phần lớn vẫn còn nhưng anh tìm mãi không thấy báo cáo về trận đánh vào đặc khu Long Toàn năm nào. Lòng cứ thấy ê chề về sự thất bại của mình, anh cố tìm mà không biết mình tìm gì…

 

Cho đến một ngày, anh về thăm nhà.

 

Má đã mất từ hồi tổng công kích Mậu Thân, không biết vì đạn của bên nào, sau khi bỏ nhà cửa mồ mả cha ông ở làng quê lánh về thị trấn sống tạm. Tạo chỉ gặp lại chị, chồng là trung sĩ sư đoàn 9, không ưa cán bộ Việt Cộng như Tạo nên giao tiếp giữa hai người đàn ông không mấy thân thiện, nhưng chị Thơ của Tạo thì mừng vô kể khi tìm gặp lại người em bao năm không tin tức. Chị kể mọi chuyện của gia đình, chuyện má trước khi chết còn cố nói với chị làm sao tìm cho được Tạo. Chị nói về hai anh em của Tạo đi lính cho hai bên, má cứ lo là có ngày hai thằng con của bà đối mặt nhau, bắn nhau.

 

Má không hiểu gì hết. Má không hiểu tại sao cứ đánh nhau liên miên, đánh nhau từ hồi bà còn con gái cho đến bây giờ, không mấy khi yên. Má không hiểu vì sao người Việt lại giết nhau… cũng như ngày xưa, chính chồng bà là người đi kháng chiến, được gài về vùng quốc gia làm xã trưởng, nằm vùng làm cơ sở, tai mắt cho cách mạng. Nhưng rồi ông lại bị chính các đồng chí trong đó về xử lý trong một đêm mưa gió với bản án là “xử lý tên ác ôn hoạt động cho ngụy quyền”. Về sau, khi móc nối cho Tạo thoát ly, người ta có giải thích cho bà đó là do hiểu lầm, ban ám sát không thuộc đơn vị của chồng bà, nên không biết ông ta hoạt động cho cách mạng, chừng ở trên biết được thì chuyện đã rồi, nên tạo điều kiện cho anh em Tân, Tạo thoát ly để sửa sai. Người về móc nối cho các con bà thoát ly là người bạn lâu năm của chồng bà, thỉnh thoảng vẫn ghé thăm, có khi chỉ ghé nói vài ba chuyện rồi đi, có khi ở lại nhà đôi ba ngày… lúc nào cũng vậy, chồng bà luôn quí mến. Chỉ đến khi chồng chết, bà mới biết ông ta là người bên kia. Lần Tạo từ tỉnh về lấy thêm lương thực và tiền bạc, vật dụng, Tạo được đưa luôn vào bưng, bà mất tin con từ đó.

 

Rồi đến một ngày Tân cũng bị động viên, đóng lon chuẩn úy về tiểu khu Vĩnh Bình. Như vậy hai người con trai của bà đang cầm súng đứng về hai phía. Dù không có chút tin tức của Tạo, nhưng hàng đêm bà thắp nhang van vái Phật Trời cho hai anh em đừng gặp nhau trong một trận chiến, đừng bắn nhau, vì khi đụng trận có ai nhìn thấy rõ kẻ trước mặt mình là ai đâu.

 

Qua lời chị Thơ, Tạo biết em mình có thời gian trấn đóng ở Long Toàn và bị thương, rồi về Tiểu Khu Vĩnh Bình. Tạo không nói gì nhưng trong lòng cũng mong ước là anh em đã không gặp nhau trong trận đánh ác liệt năm đó, trận mà anh đã hy sinh hơn tiểu đoàn cho phi pháo và bản thân anh đã để lại nơi đó cánh tay trái và lòng kiêu hãnh của mình. Anh cũng cảm thấy như má, thật là bi thảm nếu anh em Tạo lại cùng tham chiến trong trận Long Toàn năm nào, mỗi người lại đứng về một phía.

 

Bây giờ Tân đang học tập cải tạo, trớ trêu thay lại đang lao động ở trại cải tạo Long Toàn. Người em dâu, vợ Tân là một cô giáo tiểu học, lương không đủ cho bản thân và hai đứa con còn dại, biết chồng học tập ở đó mà lâu lắm mới gom góp đủ tiền mua quà thăm nuôi chồng, mà lần nào cũng chỉ vài bánh thuốc rê, vài viên thuốc tây, một ít thức ăn khô… Tạo nhủ lòng phải tìm gặp em mình.

 

 

6

 

 

Bây giờ thì Tạo biết rõ ai là người mà ngày xưa ở Long Toàn đã gọi phi pháo dội thẳng lên đặc khu, sau khi quân trú phòng đã rút hết ra ngoài. Tạo cay đắng biết cánh tay mình đã để lại trong trận đánh tàn khốc đó, phần nào chính là do Tân, dù biết em mình chỉ làm theo phản xạ của một chiến binh, chính em mình đã dùng yểm trợ phi pháo, súng đạn của Mỹ để diệt gọn hơn một tiểu đoàn gồm cả chính qui, đặc công và du kích, và nhất là đã hủy hoại thành quả mà anh tưởng đã nắm được, kết quả đã đẩy Tạo phải tự kiểm thảo, hạ tầng công tác… Lòng kiêu hãnh của một con người trui rèn trong cách mạng từ lúc còn là một thiếu nên, trong lòng luôn rực lửa căm thù Mỹ Ngụy bị lung lay khi nhận biết trong thành phần địch cần tiêu diệt không khoan nhượng, lại có thằng em trai hiền lành của mình. Dù thấm nhuần tinh thần cách mạng, luôn nhìn chính phủ Sài Gòn như một con cờ của Đế Quốc Mỹ, sĩ quan và lính ngụy như những kẻ không còn tri thức lương tâm, luôn ăn gan, uống máu, bắt bớ hiếp đáp người dân vô tội, anh vẫn không tin Tân là hạng người đó.  Hình ảnh của Tân trong trí anh là một cậu bé hiền lành, có phần nhút nhát, luôn tránh những đám đông.  Ngày xưa lúc còn đi học, Tạo luôn là người chăm sóc, bảo vệ cho Tân, luôn giành lấy những công việc nặng nhọc… cho đến ngày theo cách mạng, rời xa gia đình hấp thụ những tư tưởng đấu tranh giai cấp, giải phóng quê hương.  Tạo theo cách mạng là mong có ngày nhìn thấy đất nước mình không còn bóng dáng kẻ ngoại xâm, mang lại tự do no ấm cho người dân…

 

Tạo ngồi yên, nhìn Tân bằng đôi mắt bi phẩn mà không nói được gì. Làm sao có thể trách Tân được, Tân chỉ làm bổn phận của người lính ngay tại mặt trận. Ví thử lúc đó, Tạo biết người chỉ huy của đặc khu Long Toàn là Tân thì anh phải làm sao? Anh có dồn hết tâm trí mình để lên phương án tấn công một cách toàn diện như lúc đó anh đã làm không. Cái bi thảm của cuộc chiến này là xương máu của người Việt đã đổ xuống vì bom đạn của hai khối cộng sản và tư bản lúc bấy giờ, ai cũng nhân danh cho chủ thuyết mình đang theo và tin rằng mình đã làm đúng. Cả miền Bắc và miền Nam có ai chế tạo, sản xuất được cây súng, viên đạn nào đâu? Có sản xuất được quả bom, khẩu pháo nào đâu? Tất cả chỉ được mang từ ngoài vào. Và tính chất bi thảm đó đã tăng lên bội phần khi anh em ruột đứng về hai phía, bắn vào nhau, một bên vì lý tưởng giải phóng, một bên vì tự vệ, như trường hợp của Tạo và Tân. Ngày xưa má của Tạo không có một ý niệm nào về cuộc chiến, nhưng bà đã lo sợ cái bi thảm ấy sẽ xảy đến cho các con của bà, sự cầu nguyện hàng đêm của bà cũng không ngăn được việc anh em bắn nhau xảy ra, dù cả Tân và Tạo không hề ý thức việc đó.

 

Tạo ngước mắt nhìn thẳng vào em đang ngồi trước mặt, cố hình dung lại hình ảnh của Tân hơn gần hai mươi năm trước để cảm nhận thấm thía rằng không ai có lỗi trong việc này, nhưng sao trong lòng vẫn có chút ân hận. Cuộc chiến tương tàn đã đưa anh em Tạo, và có thể còn nhiều trường hợp tương tự, vào một tình huống bi thương không dễ xóa nhòa.

 

Tạo lên tiếng, hỏi cho có hỏi:

 

- Anh quê ở đâu?

 

- Thưa cán bộ, huyện Cầu Ngang

 

Đó không phải là câu anh muốn hỏi, tất cả đều nằm trong bản lý lịch của Tân nằm trước mặt Tạo, anh chỉ muốn nghe giọng nói của Tân, giọng nói mà anh đã không được nghe từ mấy mươi năm nay.

 

Bỗng nhiên Tạo lại hỏi, câu hỏi bậc ra không ý thức:

 

- Hồi cuối năm bảy hai, anh ở đâu?

 

- Thưa cán bộ, lúc đó tôi là đại đội trưởng giữ đặc khu Long Toàn.

 

 Tạo nuốt nước miếng, như cố nuốt vật gì khó nuốt:

 

- Anh nói tiếp đi!

 

- Tôi bị thương trong trận cuối năm đó, về dưỡng thương ở Quân Y Viện Cần Thơ, sau đó tôi được điều về ban ba của tiểu khu cho đến ba mươi tháng tư…

 

Tạo lơ đãng ngồi nghe mà trong lòng có thừa sự chua chát. Tất cả đều nằm trong bản tự khai của Tân. Anh lại tiếp tục hỏi và Tân cứ tiếp tục trả lời, Tạo cũng không biết tại sao mình lại hỏi, để nghe những câu trả lời mình đã biết. Cuối cùng, Tạo nói sau khi xếp lại bản tự khai của Tân:

 

- Bây giờ anh cứ yên tâm học tập, chấp hành kỷ luật cho tốt, thành tâm hối cải tội lỗi chống lại nhân dân, chống lại cách mạng, chúng tôi sẽ sớm xét cho anh trở về với gia đình…

 

***

 

Tháng Tư năm một chín tám mốt Tân được ra trại, sau gần sáu năm lang thang hết trại này sang trại khác. Về đến nhà sau những mừng mừng tủi tủi, Tân mới được chị Thơ và vợ anh cho biết Tạo còn sống, trở về hỏi về anh đã đến tìm thăm anh ở trại cải tạo. Qua lời kể chuyện, Tân ngỡ ngàng khi biết viên sĩ quan cụt tay trái nói chuyện với anh hồi ở trại lao động Long Toàn ba năm trước chính là Tạo. Nhưng Tân không hề biết anh mình là người đã lên phương án tấn công cứ điểm, là người đã mang một quân số gấp ba lực lượng đồn trú để tấn công cũng không biết chính anh mình đã sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, mong bẻ gảy sức kháng cự của lực lượng trong đặc khu để nhổ đi cái gai trên đường lấn vào trong của Mặt Trận, sửa soạn cho hiệp định Paris ký kết sau đó vài tháng.

 

Sau những thông tin đó, Tân cũng không có dịp gặp lại anh mình cho đến ngày gia đình Tân định cư ở Mỹ theo diện HO.

 

 

7

 

 

Sau gần hai mươi năm trên xứ người, năm hai ngàn mười anh thu xếp trở về sau khi nhận được thư của chị Thơ nói Tạo đang bệnh nặng. Dù không cùng lý tưởng, tình máu mủ đã thôi thúc anh về để gặp lại người anh không cùng chiến tuyến.

 

Ngồi cạnh giường bệnh, anh chăm chú nhìn thân hình khô héo trên giường mong tìm lại hình ảnh của người anh thủa nào, nhưng anh chỉ tìm thấy trên gương mặt hốc hác, một tia nhìn bao dung. Tạo cố nắm lấy tay Tân, nước mắt ứa ra từ đôi mắt khô héo. Nụ cười héo hắt trên môi. Thân thể Tạo gầy còm trong bộ quân phục bộ đội cũ kỷ. Chế độ chu cấp cho thương binh hưu trí của nhà nước chỉ có chừng.

 

Hai người yên lặng rất lâu, Tân không biết phải nói gì với anh. Cuối cùng Tạo hỏi, rồi tự trả lời:

 

- Chú biết anh mất cánh tay này lúc nào không? – Trong trận Long Toàn năm một chín bảy hai đó.

 

Tân thầm kêu Trời, nghẹn ngào ứa nước mắt nhìn anh.

 

Những ngày cầm súng chống lại những người cộng sản mù quáng nghe theo những lý thuyết man dại, mang súng đạn trút lên đầu dân lành, Tân nghĩ là mình đang làm người bảo vệ cho dân, bảo vệ cho tự do, dân chủ, cho nền cộng hòa còn non trẻ của miền Nam.  Thảm cảnh Mậu Thân, Đại Lộ Kinh Hoàng… càng làm cho anh tin tưởng rằng người cộng sản chỉ biết hận thù, chỉ có đảng, chỉ có đấu tranh giai cấp.  Anh cầm súng cũng trong ý niệm không muốn nhìn thấy vợ con mình, gia đình mình, ngày nào đó lại là những nạn nhân vô tội của những quả rocket 122 ly, phóng bừa bãi vào thị trấn, thành phố…

 

Bây giờ thì đã rõ, thương tích trên thân thể anh, trên anh Tạo, là do chính anh em mang tới cho nhau.  Còn bao nhiêu gia đình Việt Nam rơi vào thảm cảnh này trong cuộc chiến mà cả hai bên đều nhân danh cho lý tưởng mình đang theo.

 

Cuối cùng thì ai thắng, ai bại?

 

 

Hòa Đa

Houston – 2013

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Hai 20152:57 SA(Xem: 59154)
Quang Trung Nguyễn Huệ (1752-1792) và nhà Tây Sơn (1778-1802) là một thí dụ tiêu biều của lối viết sử một chiều trong khối sử văn cổ điển. Các tác giả thường chọn một phe để tái dựng giai đoạn lịch sử này, chẳng hạn, như “sử mệnh cách mạng của thợ thuyền đồng ruộng hay nông dân,” từng được Karl Marx thời trẻ gọi là”bị khoai của cách mạng vô sản [bag of potatoes].”
28 Tháng Giêng 20151:28 SA(Xem: 56311)
Anh G thân mến, Gửi bài cho anh về hội họa để cho vào Văn Học số sau, chẳng nhớ tôi có nói gì về hai cái truyện ngắn của Mai Kim Ngọc và Vũ Quỳnh Hương không? Hai truyện của Thế Giang quả là đặc biệt. Nhưng tôi nghĩ “khám phá” lớn kỳ này của Văn Học là MKN và VQH. Rất khó tin rằng đó là hai cây bút mới. “Mới” từ lúc nào?
28 Tháng Giêng 20151:21 SA(Xem: 59550)
Vòng vèo từng sợi mây trời Vẽ chi đậm nhạt ngôn lời đong đưa Em ngồi vẫy tóc nắng mưa Sầu hai giếng mắt dây dưa những gì Hay là mộng mị li ti Bồng bềnh biển gió trôi về ngàn phương.
27 Tháng Giêng 20159:03 CH(Xem: 55031)
Có người chỉ đọc vì mê cái bìa sách đẹp. Có người đọc vì thích sưu tập sách. Hảy tìm người đàn ông biết đọc mình, từ trang đầu tới trang cuối...
26 Tháng Giêng 20153:30 SA(Xem: 63275)
Nơi có những buổi sáng vàng nắng lung linh Em chạy đuổi tuổi mình Mãi miết Phía bên kia bờ phù du Có gì là bất diệt? Hay chỉ là nắng vàng ngập trong từng buổi mai lên?
26 Tháng Giêng 20152:56 SA(Xem: 56458)
Cáo thủ lĩnh đã chết và ngủ say trong nhiều tầng ký ức. Nó được hỏa táng và vì thế không có mộ địa để viếng. Đời thú sau không biết đến vị già làng thủ lĩnh. Hiển nhiên rằng các bậc trưởng lão đời trước đấy không kể lại, cũng không hề dạy chúng cách đối thoại với cộng đồng du mục.
26 Tháng Giêng 20152:47 SA(Xem: 61249)
vào hẻm rậm rịt tóc xúm xít mặt trời cưa ngang một đỉnh cây lá lá lá. lá um. và cỏ tuyền lục thiên nhai. hoẵng một bầy
18 Tháng Giêng 20151:33 SA(Xem: 58160)
Trần Vũ thực hiện Phỏng vấn Ban Mai Vết chân dã tràng của người viết tùy bút
13 Tháng Giêng 20151:35 SA(Xem: 65016)
Những ngày đông buốt giá Trái tim ta máu vẫn đỏ tươi Không thể mất đi nụ cười Không thể mất đi niềm hân hoan sống
13 Tháng Giêng 201512:08 SA(Xem: 57081)
Sài Gòn tháng Mười Hai, tôi về trời nóng dịu và nắng êm. Nơi phi trường, anh Hải quan trẻ tuổi hỏi nơi sinh của chúng tôi và lập lại _ Sài Gòn, Hà Nội _ với một nụ cười. Ra khỏi phi trường em gái tôi nói cho tôi hiểu, anh ta nháy mắt với bạn đồng nghiệp đứng kề là không có tiền kẹp vào passport đó.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7685)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14913)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13685)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14170)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 447)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 412)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1887)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 2065)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
(Xem: 1385)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2402)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1688)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 2298)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 528)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 527)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 475)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1631)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 640)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1350)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1421)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2083)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10318)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26835)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33348)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33385)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 8096)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10430)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1887)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3435)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3387)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3243)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3577)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 5107)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4565)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5956)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.