- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Vòng Tròn Tuyết

12 Tháng Mười Một 20144:11 SA(Xem: 60268)
THAIBAO-tuyet

Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.

 

Chiều cuối năm ở xứ tuyết lạnh buồn và dài thê thảm. Nắng lạnh nhưng gay gắt. Những mảnh tuyết như hàng vạn tấm gương phản chiếu ánh trời tàn. Nhà tù liên bang Lost River nằm đìu hiu, trơ trọi gần sát biên giới Canada. Một khối bê tông hình lục giác vô tri, qua nắng, đổ bóng chỉ còn năm cạnh. Chẳng có tù nhân nào có thể thoát khỏi nhà tù này. Tiến sĩ Đức nằm bải hoải chờ cơm, thở dài nhớ lại quãng đời cay nghiệt…

Nữ giám thị Alyssa đẩy nhẹ tiến sĩ Đức vào phòng giam 5501, không quên kèm lời chúc mừng đến “nhà mới”. Nhìn từ phía sau Đức chả rõ mặt nàng, chỉ thấp thoáng chiếc áo sọc đen trắng qua cái eo gợi cảm của nàng. Bọn tù nhân thường bàn tán, trái banh mà lăn từ lưng nàng chắc sẽ mắt kẹt mãi mãi giữa lưng chừng trời. Khỉ gió, đẹp thế làm giám thị uổng phí cả đời. Không hiểu sao tất cả nữ giám thị nơi đây đều đẹp. Hay họ muốn dùng sắc đẹp để nhấn chìm những linh hồn quỉ dữ. Alyssa vừa đi khuất, một cú đánh lén làm Đức hoa cả mắt, chúi nhủi. Cái thằng nhọ này bố láo thật. Bằng thế võ Vovinam, bất ngờ, Đức tung người dùng hai chân kẹp chặt cổ quật đối phương sóng soài. Tiện thể, Đức đấm một cú thật mạnh vào đường phân giác giữa hai háng gã da đen. Hực. Thằng nhọ la oăn oẳn, hai mắt trợn ngược, trắng nhã, tưởng như hai vật thể truyền giống đã chạy ngược về hai hốc mắt. Đức hất hàm: Thằng nhọ kia, mày là thằng đếch nào? Thằng tù cũ vẫn ôm hạ bộ nhăn nhó: Chắc mày... không biết tao. Tao chính là người đi giao hàng... cho tụi mày. Thế mà khi tao vào đây, chẳng có ai lo. Tao cùng đường mới dính vào nghề này. Còn mày, đường đường tiến sĩ, sao lại sa chân vào đây? Tao không hiểu nổi.

Ừ, Đức còn chưa hiểu nổi cuộc đời mình nữa là hắn.

Chữ  tài liền với chữ tai một vần, vận vào đời gã thật chua cay. Tính đến giờ phút này, Đức đã có hai vợ. Vợ Cũ và Vợ Mới. Thực ra cả hai đều đã cũ, họ đều bỏ Đức rồi. Đức sống theo một triết lý khác thường. Chẳng thà để vợ phụ ta, chứ ta không bao giờ phụ vợ. Đức chưa bao giờ bỏ vợ, đơn giản, trước sau gì vợ cũng bỏ gã thôi. Thà như vậy, mà được tiếng thơm. Đức quen Vợ Cũ từ độ tuổi trăng tròn. Lúc còn giâm dây khoai lang tím ngoài đồng. Vợ Cũ tuy ít học, nhưng nói câu nào thâm câu đó. Hết lớp mười hai, Đức mộng làm bác sĩ, lại thi rớt. Vợ Cũ khuyên Đức thi Nông Lâm cho gần gũi ruộng đồng. Thế mà hay. Rớt y, gã lại đậu bảng vàng ngành trồng trọt. Hết bốn năm đại học, Đức được giữ lại trường, hoạn lộ trở nên thênh thang. Chẳng mấy chốc, Đức túm cái bằng thạc sĩ ở Philippines. Rồi giựt món nghiên cứu sinh ở Hoa Kỳ qua học bổng Fulbright. Đời trớ trêu, càng cao danh vọng, vợ chồng càng lao đao. Vợ Cũ có bệnh dị ứng mà thói đời thường gọi đùa dị ứng toàn tập. Dị ứng cả tiền bạc, xe hơi, nhà lầu, mỹ phẩm. Nói chung tất tần tật. Mỗi lần dị ứng nàng lại ói ra mật xanh mật vàng. Lúc mới cưới, cả hai họ đều mừng hụt tưởng nàng ốm nghén. Thế rồi, điều gì đến đã đến. Nàng đơn phương li dị Đức gần ngày gã đi Mỹ. Nàng thích sống ở quê hơn. May trời còn thương gã, cả hai vẫn chưa có con. Ngồi sau xe trở về từ tòa án, nàng buông một câu cho đến giờ Đức vẫn còn đau: “Anh có bao giờ thương em đâu, chỉ toàn em mơ thôi.”

Luận án tốt nghiệp tiến sĩ của Đức làm giới y khoa Hoa Kỳ choáng váng. Đức lai tạo thành công giống cây cần sa mới, chỉ năm tuần tuổi đủ thu hoạch lá và hoa, giảm phân nửa thời gian. Các băng đảng ma túy càng choáng hơn và sốt sắng săn lùng gã. Đối với Đức, trồng cây cần sa dễ như giâm dây khoai lang ở bên nhà. Và từ đây đời gã mới bắt đầu gập ghềnh.

Lâu lắm rồi Đức mới ghé thăm cộng đồng người Việt ở Toronto. Nghe mấy tay làm nail bên đó kháo nhau, giờ, ai giũa nail làm gì, trồng cỏ đi, Đức chỉ cười thầm: thiên hạ không hề biết bậc thầy cần sa đang ngồi trước mặt. Nhưng có người biết mới tài. Chính Vợ Mới sau này của Đức. Mỗi lần nhìn nàng, một thằng từng có vợ như gã đành phải cụp mặt. Cái nhìn sắc lẻm của nàng như muốn thiêu đốt đối phương. Nàng, một phụ nữ nhan sắc bình thường (cũng như Vợ Cũ, đi ngoài phố chẳng anh trai nào ngoái nhìn), ngoại trừ trí thông minh sắc sảo. Đức không phải tuýp đàn ông yêu bằng mắt sờ bằng tay. Đức yêu bằng bộ não.

Trai độc thân, gái chưa chồng, nên quyến luyến nhau. Một tuần sau, nàng dẫn gã ra mắt cha nàng. Đức chưa hề biết đó là ông trùm cần sa Bắc Mỹ. Cả gã và ông trùm đều thả câu. Không biết mèo nào cắn mỉu nào. Ông trùm cần gã vì gã thông minh cùng giống cần sa ngắn ngày. Còn gã, vì tấm thẻ xanh và gia tài đồ sộ. Chưa hết một tuần trà, ông trùm đã cảm phục tài của gã. Tiến sĩ Mỹ không tài sao được. Nè, chú mày ăn thịt cầy không? Ông trùm đột ngột hỏi. OK, thứ Sáu này bay. Gã ngơ ngác. Bay đi đâu. Thì Việt Nam, chứ đâu nữa. Sau này, gã vẫn giữ thói quen về Sài Gòn nhậu mộc tồn cùng bạn hữu. Sáng thứ Sáu bay từ Minnesota. Khuya thứ Bảy hạ cánh Sài Gòn. Chín giờ tối Chủ nhật ngừng cuộc lai rai, ra sân bay về Mỹ. Lần nào cũng vậy, trước khi chào anh em, gã quẹt miệng, thả một câu tếu táo: Thuý Kiều ngày xưa biết bán thịt cầy thế này, chắc đâu đến nỗi bán mình chuộc cha.

Đứng trước thác nước Niagara hùng vĩ, ít người để ý thác thuộc về đất Mỹ, nhưng chỉ nhìn thấy từ Canada. Hình như thượng đế trêu ngươi nước Mỹ. Có tài nguyên mà không hưởng được. Chỉ Canada mới kiếm được tiền du lịch từ con thác này. Gã chợt phì cười, so sánh, như gã thông minh mà sao cứ nghèo hoài. Người đời thường nói nghèo là cái tội, đối với gã đôi khi là cái họa. Khi gã đã thoát nghèo, nhưng khao khát ngồi trên đống vàng và quyền lực vẫn còn cháy bỏng. Hơn một lần Vợ Cũ từng chán ngấy thói ham giàu ham quyền của gã. Quyền và tiền giống như miếng thịt mỡ trong nồi thịt kho ba ngày Tết. Ngán, ngán tận đỉnh đầu, nhưng không thể bỏ, dăm ba bữa sau lại thèm nhỏ dãi...

Đã khuya rồi, gã vẫn chưa thể nhắm mắt. Thời gian như đóng băng. Nhìn đăm đăm lên trần nhà, gã cứ tự hỏi sao lại bị lộ. Gã thường tự phụ điều hành đường dây trồng cần sa trong nhà như gã, cảnh sát cũng bó tay. Ngay chính cha vợ cũng gật gù. Ừ, mày thông minh thật. Công bằng mà nói, gã có nhiều sáng kiến. Nào là câu trộm điện, tránh dãy số trong đồng hồ điện nhà nhảy vọt gây nghi ngờ. Nào là đào basement tầng hai, bảo đảm vô hiệu hóa máy tầm nhiệt của cảnh sát. Rồi lãnh đạo đế chế cần sa theo mô hình thắt cổ chai. Không một ai trong thế giới cần sa biết gã, trừ một tay giám đốc điều hành. Lương của gã giờ phải tính bằng chục triệu đô. Gã cười nhạt cho chức phụ giảng trong trường đại học chỉ trăm ngàn một năm. Gã vẫn chưa muốn dừng. Đích đến của gã, ghế ông trùm.

Lồng lộn, tức tối, gã cứ thế đi vòng vòng trong căn phòng 6 feet 8 feet. Chừa chiếc giường tầng cho hai tù nhân, bồn rửa mặt, toilet, phòng giam chỉ còn cỡ ba mươi feet vuông. Gã cười nhạo cái vòng ma thuật, vòng kim cô. Gã hiểu tự do không chỉ thoát khỏi nhà giam nhỏ, mà cần thoát khỏi những hành vi, tư tưởng lầm lạc. Đi vòng riết thành thói quen. Tối nào không đi không ngủ ngon. Đi cho quên mùi xú uế nhà tù, cho quên cảnh cô đơn không người thăm hỏi. Mới vào tù một tháng Vợ Mới đã đơn phương li dị. Người thân không còn, quyền lực cũng vỗ cánh bay đi. Tiền (còn chăng) có ý nghĩa gì với gã. Thực ra, khi chấp nhận làm giám đốc kỹ thuật cho ông trùm, gã biết rằng đã đặt một chân vào tù. Một tay ngạo đời như gã, đâu sợ ai. Gã lập phương án hai. Giữ tiền riêng phòng sa cơ thất thế. Đột ngột ông-trùm-cha-vợ qua đời sau cuộc săn thú ở South Dakota. Gã tiếp quản ngai vua cần sa Bắc Mỹ. Tiền của gã nhiều như quân Nguyên. Đức giàu và mạnh đến nỗi khi đế chế của gã sụp đổ, doanh số nước hoa Burberry ở Hoa Kỳ tụt thê thảm, gần 40 phần trăm. Số là khi giao chuyển hàng, Đức đã cho sử dụng nước hoa để áp chế mùi hăng của hoa cần sa. Nhưng chỉ duy nhất loại Burberry hữu dụng.

Để giết thời gian, Đức viết nhật ký hòng giảm stress. Viết đến khuya. Hai giờ sáng. Thằng nhọ, bạn tù cùng phòng đã ngủ say. Chợt ổ khóa cửa lay nhẹ. Một bóng người đổ dài ngoài hành lang ra hiệu gã im lặng. Cửa mở. Gã âm thầm đi theo… nữ giám thị Allysa. Đã mang án tù chung thân, gã còn ngán gì mà không dám đi. Huống gì đây một nữ giám thị xinh đẹp. Thực ra từ lúc vô tù, gã chẳng hề nghĩ gì đến phụ nữ. Ngay cả ngoài đời gã cũng thế. Đến cuối hành lang, Allysa đưa gã vào căn phòng khang trang. Lúc này, gã mới biết phòng nghỉ của giám thị. Allysa nồng nhiệt tấn công gã. Sững sờ, gã chưa bao giờ rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan như vầy. Không cần biết gã nghĩ gì, Allysa cứ im lặng siết lấy gã như trăn quấn mồi. Gã trơ ra. Gã ê chề như đang bị hiếp. Nhưng rồi, tài đánh lưỡi điệu nghệ của Allysa đã đánh thức con rắn ngủ quên năm năm hơn. Con rắn phùng mang, bò, mơn trớn lên đồi Vệ Nữ... Qua cơn mây mưa, gã không có cảm giác thỏa mãn như từng có. Thay vào đó, cảm giác hụt hẫng, tự chửi rủa mình. Đức à, mày chỉ là con đực bản năng không hơn không kém. Allysa nhún vai: Năm phút đầu anh còn thánh thiện, hai mươi lăm phút sau thì... Hai mươi chín phút rồi, anh phải về thôi, không nên ở lâu.

Đêm đó, Đức trằn trọc đến sáng. Nam nhi đại trượng phu mà bị đàn bà dắt mũi, thật nhục không gì bằng. Gã chợt thở dài, nhớ đến chuyện ông nội. Dòng họ gã đã mười ba đời sống bằng nghề trồng khoai lang tím. Lúc tuổi xế chiều, ông nội thường ao ước có đứa cháu tinh thông học vấn, mang vẻ vang cho dòng họ, thoát khỏi kiếp nghèo. Ý nguyện của ông đã được gã dồn tâm huyết thực hiện, chỉ có điều, kết quả con đường học vấn của gã lại là cái nhà tù này.

Ngày qua ngày Đức chỉ còn biết ăn, ngủ và chờ Alyssa ban ơn mưa móc. Bỗng một hôm, Alyssa hỏi một câu xưa như trái đất, như bao cặp trên thế gian này từng hỏi. Anh có yêu em không? Gã đổ mồ hôi hột như đang thi vấn đáp. Khỉ thật, gã bị nàng cuốn đi, cứ thế là vập vào nhau chứ gã có khi nào thắc mắc vì sao. Thằng tù làm gì có lựa chọn mà thắc mắc cho mệt thân. Nàng hỏi thêm câu nữa, quần Đức muốn ướt luôn. Anh muốn thoát khỏi nhà tù này không? Muốn chứ. Tù chung thân là sẽ chết mục ruỗng trong tù. Thà chết ngoài đời vẫn sướng hơn.

Phải đến lần thứ mười ba, kế hoạch đào thoát của Đức mới thành công. Đêm ấy, đêm trực của Alyssa. Nàng khống chế tất cả camera quay hình trong nhà tù. Với bộ áo quần giám thị, Đức ung dung đi qua hết các hành lang. Rồi qua cửa chính. Hít một hơi. Làn khí lạnh buốt ùa vào phổi như bóp nghẹt lồng ngực. Tự do đây rồi.

Đêm khắc nghiệt mùa Đông. Tuyết không rơi. Nhiệt độ rớt xuống âm độ F. Chân lạnh buốt, Đức phải quàng thêm chiếc áo thun quanh giầy. Cần phải đi bộ hai tiếng nữa, ra khỏi bìa rừng sẽ có xe hơi chờ sẵn rước về Minneapolis. Đã hai giờ sáng. Trời tối đen. Dò từng bước về hướng Nam cùng chiếc la bàn mà Alyssa đưa. Nhìn đâu cũng thấy cây. Thông, sồi, tầng tầng lớp lớp. Đi hoài, chẳng thấy lối ra rừng. Mỗi khi quẫn trí, Đức phải đi vòng tròn. Đôi giày cày mặt tuyết thành vòng luẩn quẩn. Nhanh lên.

Bỗng một tia chớp xé ngang bầu trời. Lửa chớp. Đức ngã gục xuống tuyết. Máu đỏ chảy thành dòng trên hoa tuyết như bức tranh trừu tượng. Trán Đức nhíu lại, hình như không phải dấu than mà dấu hỏi. Sau này, cảnh sát kết luận Đức bị bắn chết nơi khác, ba tiếng sau mới bị quăng vào rừng sát nhà tù. Hai đoạn kết tuy khác nhau, nhưng cùng một sự thật, Đức đã lìa dương thế trong tiếng quạ đen kêu quang quác vang cả một góc rừng.

*

*     *

Vợ Mới hờ hững cầm tờ nhật báo StarTribune Minnesota có đăng hình tiến sĩ Đức nằm chết vùi trong tuyết ở bìa rừng. Sắc mặt nàng vẫn không thay đổi, xoèn xoẹt, chỉ bốn nhát dao sắc lẹm Gillett, tấm hình từ nhật báo rơi gọn vào bàn tay ngọc ngà. Phù. Cái búng tay điệu nghệ, tấm hình lượn một vòng đậu ngay ngắn lên bàn thờ người cha già xấu số. Với tay tắt chuông báo động lửa khói, nàng đốt cả một bó hương trầm và khấn thì thầm. Hình như nàng nhắc đến mấy từ rửa hận cho cha... chín suối... mỉm cười... Làn khói vẩn đặc trần nhà suốt cả đêm.

Khi làn sương sớm mai vừa tan, chừng một tiểu đội lính đặc nhiệm bài trừ ma túy liên bang DEA ập vào căn biệt thự trắng muốt sát bờ biển Miami. Vài tiếng súng nổ thưa thớt. Nữ giám thị Alyssa đã bị bắt cùng những thùng giấy đầy ắp tiền. Vài thùng còn lẫn những cánh hoa cần sa khô. Người ta ngạc nhiên thấy cả tấm hình tiến sĩ Đức và cuốn nhật ký mà gã đã ghi chép trong tù.

*

*     *

Chiều miền quê nghèo. Làn khói rơm bốc lên sau căn nhà ọp ẹp. Hai cụ già móm mém, tay run run lật từng trang nhật ký úa vàng, lẫn vết khô đen sậm của máu. Cuốn nhật ký của người con trai mà họ từng hi vọng làm rạng danh gia tộc. Nắng đã tàn. Chiều nghiêng, nhường thời gian cho bóng đêm. Khói vẫn vươn dài, gập ghềnh, lẩy bẩy, đổ kềnh ra tận miếng ruộng trơ gốc rạ sau nhà.

 

THÁI BẢO

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Tám 20153:45 SA(Xem: 53892)
Khung cửa sổ. Những con người đang di chuyển ở phía dưới con đường. Tạp âm trộn lẫn vào nhau: tiếng người và tiếng còi xe rú rít. Nga tìm kiếm một chút trong trẻo xung quanh, nhưng cái váng vất kia chỉ làm bẹp dí quả tim xuống phía dưới lồng ngực.
12 Tháng Tám 20153:27 SA(Xem: 56321)
Thời đó, và có thể còn đậm nét ở thế hệ của tôi (1940), văn nghệ, văn chương theo định nghĩa của Xuân Diệu là “run với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Mây gió trăng, sao, bầu trời xanh biền biệt vẫn là những đề tài muôn thưở của văn hoá, văn học. Thiên nhiên vẫn mãi là cái nền để thị hiện sự hiện hữu và tâm cảm của con người. Cái vở tuồng đời sống cần có mộït sân khấu để người ta yêu nhau, ghét nhau, ham muốn, thù hận, chiến tranh. Mặt trời lên, mang hơi ấm và sự bao bọc yên bình, đêm về với niềm đe doạ nhưng cũng đầy quyến rũ của một vũ trụ thăm thẳm “thiên la địa võng” vây bủa chung quanh.
06 Tháng Tám 20152:42 SA(Xem: 59304)
những mảnh vỡ quá khứ một hôm cắt đứt niềm tin cái thói hèn trở chứng trong một ngày bi quan
06 Tháng Tám 20152:28 SA(Xem: 33049)
Lễ Đầu Hàng Của Ông Cháu Mạc Đăng Dung (30/11/1540-29/4/1541) tiếp cận một thời khoảng dày phủ sương mù của những cuộc tâm lý chiến giữa Trung Hoa và Việt Nam, kéo dài từ thời thượng và trung cổ, tới hiện tại, cũng như các phe phái đối nghịch nhau tại mỗi nước.
04 Tháng Tám 20151:25 SA(Xem: 57579)
“ Tôi nhìn người đàn bà qua lớp gương mờ - tái nhợt như một cái xác chết di động. Gương mặt người đàn bà còn tinh tươm những trăn trở, héo úa. Cơn hoảng loạn còn in sâu vào đồng tử, nó trao tráo như mắt của một con cá đang mắc vào chiếc lao móc.”
04 Tháng Tám 20151:15 SA(Xem: 62809)
Em khóc trên ngực anh bằng đôi mắt của ngàn năm về trước nơi chúng mình gặp nhau miệng vực thấy cánh sao rụng xuống lưng chừng
02 Tháng Tám 201511:48 CH(Xem: 55567)
Cô chờ cho thời gian trôi dần tới nửa đêm, trong căn phòng không bật đèn bóng tối như đang trùm lấy tất cả; nằm trên tấm nệm mỏng, cô nhìn lên trần nhà. Một con thằn lằn đang ẩn mình trong bóng tối thỉnh thoảng lại chắc lưỡi khe khẽ. Đêm tưởng chừng như tĩnh lặng nhưng lại ẩn chứa trong mình vô vàn âm thanh.
02 Tháng Tám 20152:00 SA(Xem: 57296)
Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học
01 Tháng Tám 20153:20 CH(Xem: 58809)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Đoàn Khuê định cư ở Canada, anh có một lối viết thật đặc biệt... Nói một cách khác là Đoàn Khuê viết "trúng tim đen" và thật hay. Chúng tôi hân hạnh mời quí bạn đọc và văn hữu cùng đi vào thế giới tạp bút của tác giả "Tạp bút, tìm tôi".
01 Tháng Tám 20153:37 SA(Xem: 60881)
Sàigòn ngày trở lại. Bầu trời nắng vẫn một màu bơ vơ. Tôi đi giữa dòng người xuôi ngược, giữa những hàng quán, những ánh nhìn căng thẳng, giữa những bước chân vội vã. Tôi nhìn Sàigòn vừa quen, vừa lạ - cái đã vỡ tan - cái mới dựng lên - tất cả đều xa khuất như không thể nắm giữ, cũng chẳng thể lìa bỏ.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9943)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16781)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15767)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16207)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3123)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5304)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7317)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6664)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 940)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 725)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2422)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2265)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2508)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2493)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1226)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13620)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29724)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35749)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10862)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12700)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3337)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3623)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4170)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7859)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7170)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10009)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.