- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Thơ Lê Minh Phong

23 Tháng Mười 20143:37 SA(Xem: 65808)

LeMinhPhong-ChanDungBW
Lê Minh Phong- Huế 2014

 

 

 

Một người viết trẻ, lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Anh tự giới thiệu như sau: “LÊ MINH PHONG, sinh năm 1985. Đã viết với các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, phê bình văn học, phê bình hội họa...  Cộng tác với nhiều nơi với nhiều bút danh khác nhau. Hiện làm báo và vẽ tranh ở Huế.”
Thơ của Phong có âm hưởng thật nhẹ nhàng của miền Trung, anh đã vận dụng những từ vựng đặc Hà Tịnh vào thơ một cách tài tình, và với những âm sắc trong veo êm ái đó, anh đã chuyển đến người đọc một ngọn lửa ý chí thật mạnh trong xúc cảm. Chúng tôi trân trọng gởi đến văn hữu cùng bạn đọc những thi phẩm của Lê Minh Phong.

Tạp Chí Hợp Lưu

                  


GIANG ĐẦU


Giang đầu
Mẹ trườn đi
Hãy qua bên sông trước khi trời sáng
Con quỵ rồi
Ôi
Những vết thương

Qụy rồi
Qụy rồi
Mẹ ơi đừng liếm
Thịt da nào chẳng có vết thương

Rút nữa đi
Người ơi rút nữa
Sợi thép gai trong mắt mù lòa

Nắng xiên khoai giữa chiều đốt lửa
hãy thở đi xin mẹ thở đi
Mẹ con ta trườn qua ngà tháp
Con không muốn nhìn bãi tha ma
Bông cỏ may găm vào mắt trắng xóa
Trắng cả trời Hà Tịnh tang thương

Nằm xuống 
Nằm xuống
Xương con đây con trải mẹ nằm
Và thở đi
Xin người hãy thở
Bởi sơn khê chim cú tự ru mình

Giang đầu
Giang đầu
Máu loang
Máu loang

Đèo Đụng Đung những người thợ xẻ
Liếm lên cây rồi hát huầy zô
Mẹ thở đi
Mở mắt và thở
Con hát đây con hát tháng năm đầy

À ơi người ở bên tê
Núi non hoang lạnh nón mê đội đầu

Ngàn Sâu
Ngàn Sâu
Sông cứ chảy
Khe Trươi loài rắn đã ngủ im

Bên kia sông chinh phu cũng mỏi
Liếm lá lau rồi phun máu lên trời

Lời ru
Lời ru
Nhàu nát lời ru
Nát nhàu Hà Tịnh

Trong giấc mơ con người không đi nữa
Người trở về loan báo tin vui
Hãy mở mắt và mẹ ơi thức dậy
Ra mà xem hãy bước tới mà xem

Thắp đi
Thắp đi
Con nhìn ánh lửa
Lưu dân về đốt đuốc trên đồng xa
Mẹ mẹ ơi xin người thức dậy
Hãy ra đây hãy bước ra đây

Ơ mẹ kìa lưu dân đang hát
Hãy hát lên xin hãy hát lên

hát rằng:
Phương nào cũng có biển sâu
thuyền nhân đi mãi áo nâu bạc màu

Rồi hạc vàng cũng không đi nữa
huyền thoại về bóng rợp đáy sông

đáy sông
đáy sông

giang đầu mưa, mưa rơi buốt tóc
rừng thẳm sâu tỳ kheo liếm chuông chiều

mẹ mẹ ơi xin người hãy thở
Thơ con đây con sẽ soi đường
sáng mai ra mẹ chết trên nương
Xương mẹ trắng bay khắp trời Hà Tịnh

Đi đi
Đi mô

cô thân con
con bước trên đường
Loài thú hoang
ba mươi năm mòn ruỗng
Sống nửa đời
chưa được thấy quê hương...


LMP

 

 

Ơ TỀ

 

ơ tề
sao em lại nói thế
để anh úp mặt vào tay
kiếp phong trần anh cũng không mang
mẹ cũng không mang

hôm qua mẹ gửi vào cho anh những tiếng thét của mẹ
em biết không
trên núi Hồng Lĩnh chim Phượng không về
trái mùa thối rữa

ơ tề
em đừng nói nữa
chốn quê người anh có ai đâu

mẹ xát muối trong đêm
tiếng kêu như thủy tinh vỡ
ơ em
xin em đừng nói nữa
gửi heo may cho rồi

em về đứng bên kia núi
em về em hát trong khe
em về lõa thể dưới đèo
nhưng van em đừng khoác tang lên bầu vú
đừng quấn người bằng khăn trắng…
em nha!

mênh mông ơi là mênh mông
sông rộng người ơi sông rộng
trong cơn đau mẹ nói với anh suýt nữa mẹ chạm được vào cầu vồng
nhưng nhiều mưa quá
ướt cả giấc mơ

trở mình thức giấc
vết thương còn đó
bầm đau
sâu quá
con không chạm được vào đáy của vết chém
mẹ ơi

bỏ đi
đừng níu nữa
trên đỉnh núi Hồng thông có reo đâu
dưới đáy sông Lam ai ru con nghe xót quá

chà muối vào mắt
cho quên mặn chát
cho lòng thung sâu
thung sâu ơi hỡi thung sâu

ơ tề
em đứng bên đèo và em lõa thể
để bên này anh úp mặt vào tay

úp mặt vào tay
mẹ vói qua đèo
gửi vào cho anh những niềm tuyệt vọng
anh nhấn chúng xuống sông Hương
lông chúng ướt
ướt mất rồi
anh khóc
rồi anh hát
anh hát rằng:
cả gió nên đã đắt cau
người đi quên cả rừng lau rụng tàn

chạy trốn
trói
trói đi
trói những giấc mơ ấy lại
mẹ không còn sức
cha say khướt chợ chiều…

xòe bàn tay
xòe bàn tay ấy 
em vá nổi không
mắt anh rách nát dưới huyệt mộ từ ngày bặt âm biệt xứ
máu đã loang dòng
anh biết nói chi đây

chông chênh ơi là chông chênh
ơ tề lòng người bạc ác
mẹ nghiến nát đêm
trên đồi Hồng Lĩnh
chim Phượng không về

huyền thoại vỡ
em vá đi
em không đủ sức
mẹ đã mỏi
cha say khướt trên đê rồi đu mình theo đôi cánh của loài mộng du 
mộng du
mộng du

ơ tề
ơ tề
ai hát dưới thung
mà nghe mờ quá

LMP

 

EM À

 

Bên sông họ nói lêu lêu
Anh bám vào cọc nhọn khi những người đàn bà ấy rót đêm vào trong mắt của những đứa trẻ

Chim cú ướt
Chim cú ướt rồi

Lêu lêu
Bên sông họ nói
Họ ngồi bè lau
Họ là chim cú
Chim cú không hót
Lêu lêu

Em có tin vào linh hồn không
Linh hồn nở đầy hoa lau
Hoa trên gông của những người đàn bà găm đinh vào trong mắt

Ngày xưa mẹ nói với anh linh hồn màu đỏ
Nhưng bên kia họ đã thay áo rồi

Anh bưng mặt
Anh thở hắt ra
Anh xâu hơi thở của anh thành những chuỗi hạt
Anh ném lên trời
Và gió
Và gió

em về đi
nhưng đừng thay áo
đừng trút yếm đào
làm ơn..

chim cú ướt
chim cú ướt
đêm nào chim cú cũng ướt trong giấc mơ anh
ơ kìa
em
sao em lại khóc
lêu lêu

về đi
sông này đâu phải là sông

Những chuyến đi trong đêm
Những chuyến đi về sáng
Đèn hỏa châu tắt
Lưu dân ngủ rồi

Đêm xoay vòng trong anh
Mắt chùng xuống lòng đất gầy guộc
Anh đã không thở được khi họ tới và đạp lên trên những bông cỏ may bên huyệt mộ anh
Anh trở mình trong mộ
Nghe tiếng đất trùng vây

Rồi anh đi trên sông
Anh ôm bức tranh của anh và chạy vào rừng
Rừng đan kín lối anh đi và loài thảo mọc liếm lên mắt anh
Anh vừa chạy vừa khóc
chim culi cũng khóc
Sau lưng anh họ nói
về đi
sông này đâu phải là sông

Những người đàn bà vẫn bơi ngược dòng để tìm lên đồi Phong Nhũ
Phong Nhũ màu trắng
Phong Nhũ ướt rồi

Níu lại bè lau
Buộc lại bè lau
Ơ kìa
Đừng khóc
Chim cú ướt

Chim cú ướt
Chim cú ướt rồi

Em đã không biết được phía bên kia của rừng
Bên kia bờ nước mắt anh 
em cũng không thấy được
Và đừng hỏi anh giấc mơ em màu gì
Bụi vàng trên sông là điều không thực
Và nữa, cánh chim cú đã không chở được huyền thoại của hai ta

Trắng quá - em nói
Màu trắng ơi - em khóc
Chim cú ướt
chim cú màu trắng

Phong ơi... 
mỏi rồi

Đến đây
Đến đây
Đến đây mà uống máu trong mắt 
Mắt anh màu gì

Và anh nói với em về màu trắng
Và những khúc đồng dao trong ngục thất
Nơi linh hồn cha anh còn bị găm đinh trên đá lạnh
Giày đinh
Giày đinh

Trắng quá
Mù lòa
Màu trắng ơi mi ngủ đi
Đừng lung linh trong huyệt mộ
Hãy để yên cho những người đàn bà ngồi trên bè lau rót đêm vào trong mắt
Màu trắng
Lêu lêu

Lêu lêu anh
Lêu lêu em
Lêu lêu chim cú 
Lêu lêu nước mắt
Lêu lêu màu trắng
Lêu lêu rừng già
Lêu lêu quê hương
Lêu lêu thân phận
Lêu lêu điêu tàn...

.....

LMP

 

 

EM ĐÃ NẰM NGOÀI TA


phía bên kia
phía bên kia giấc mơ của ta
và ta đưa tay vói
những cơn sóng xát muối vào ngực ta
mặt biển lồng lộng

đáng ra ta đã hát em nghe
những bài ca về loài thi sỹ
nhưng họ không đi hết sứ mệnh của họ khi quê hương điêu tàn

đáng lẽ ra ta đã là một kẻ mơ mộng đi bán thơ dạo ngoài đường
và có lẽ đủ sống
nhưng ngôn ngữ
máu 
màu sắc
âm thanh trong ta khản đục
ta không được bước đi trên chiếc cầu vồng đa sắc đầy những hạt bụi vàng
hạt bụi vàng không vương lấy tóc em

Khi quê hương điêu tàn
những người anh em của ta im ngủ
như loài sâu im ngủ

ta đã gào thét từ ngày ta còn ở trong nôi
đến bây giờ mắt đã mỏi mệt
linh hồn tướp máu
mà quê hương ta gọi vẫn chưa về

đêm nay đây
máu trong ta mòn ruỗng
xác người dạt vào bên sông
nói với ta về loài thi sỹ
loài thi sỹ ngủ đông

và trong đêm sâu ta nghe lời mẹ khóc
nhưng tiếng cú trên đồi át lấy giọng quê hương

em ơi
em ở phía bên kia giấc mơ của ta
khi ta mở mắt em tan chảy như những hạt cát tan chảy trong nước mắt của ta
hãy bay đi 
hãy bay đi
để khi quê hương được thắp sáng ta lại đón em về
trong bản lưu dân mà ta đã viết

Có những giấc mơ của ta em làm sao hiểu được
nhưng anh em của ta đã im ngủ
như loài sâu im ngủ

ta lại một mình lang thang trên những đỉnh tóc 
trong đêm đen gầy guộc
đêm nay đây ta lại đuổi theo những gam màu ấy
nhưng ta không vẽ được tiếng thét trong ta
ôi, những tiếng thét vừa thống khổ vừa mộng mơ hoang tưởng

em đã tới
em có đó nhưng em là hư vô
khi ta chạm vào em thì em tan biến
và đừng hỏi ta quê hương mình ở đâu
ta không trả lời được

những chiều ta lưu vong thang thang trên đồi thân phận
kẻ lưu vong ngay trên quê hương mình đã nghĩ gì em biết không
em biết không?
em rất gần mà em xa quá

ta mơ ngày loài chim di trú ấy dừng lại trên những bông lau trên đồi quê hương
ta sẽ hát cho em nghe những bài ca về loài thi sỹ
loài thi sỹ đã mở mắt hân hoan đi giữa đêm điệp trùng…


LMP

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Sáu 20152:55 SA(Xem: 60383)
Lẩn thẩn với màu Sắc Bây giờ quá nửa đêm Có thể giữa ngày- và Lại đi trên đường dài
06 Tháng Sáu 201511:54 SA(Xem: 59873)
em và mùa hoa ngọc lan sót lại chỉ vài cánh mỏng so le thành phố bây giờ không còn những mái mây che những góc xưa bộn bừa
31 Tháng Năm 20153:39 SA(Xem: 55154)
Hiện nay Trung Quốc đang xây con đập thứ 8: đập Miêu Vĩ/ Miaowei sẽ hoàn tất phát điện năm 2016, [2]và TQ cũng tiếp tục xây thêm những con đập khác trên dòng chính con sông Lan Thương/ Lancang Jiang tên TQ của con sông Mekong.
27 Tháng Năm 20152:59 SA(Xem: 68945)
Sáng nay anh không thức dậy sớm Cùng em bước trên con đường đầy sương trắng Em khoác cái mũ lên cao Giữ đôi tai trong im lặng Và anh có nghe tiếng rêu chảy Trong cái hồ nhỏ bên bờ thành? Em hứa với anh sẽ viết một bài thơ tình Sớm nay sương mãi trắng mái đầu Chưa đánh thức giấc ngủ muộn
26 Tháng Năm 20151:56 SA(Xem: 61238)
Tôi vớt tôi mùa ngược nắng Mang bão bùng đi qua Chớp bể mưa nguồn biến động Tôi còn chấp chới phong ba
26 Tháng Năm 20151:17 SA(Xem: 57033)
Trời đầu tháng năm Cali nắng chan hòa ngoài đường nhưng Thanh còn thấy lạnh. Thế này dù sao cũng còn đỡ hơn ba tháng trước thật nhiều khi Thanh mới theo chồng từ quê nhà sang Mỹ vào đúng giữa mùa đông. Đồng hồ trên lò microwave chỉ mười giờ sáng. Trong vòng vài phút thế nào Thanh sẽ thấy con bé tóc vàng ở nhà cuối đường đẩy xe có đứa bé trai tóc đen đi ngang qua.
23 Tháng Năm 20153:54 SA(Xem: 60569)
Nền văn chương minh họa và phải đạo bén rễ sau thời Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) kéo dài hơn hai mươi năm bỗng hóa thân vào thời đầu Đổi Mới năm 87- 89 với những tác phẩm vượt trội. Xin tri ân tướng Trần Độ. Xin cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc. Cả hai vị này đã phà duỡng khí hồi sinh vào thây ma của thứ văn chươngvô hồn rập khuôn chính sách văn hóa Liên-Xô đã tạo ra những Quần Đảo Ngục Tù ( goulag) rồi còn lại kẹp thêm tính Mao-nhiều &Mao-ít hậu phong kiến đội tên giả là xã hội chủ nghĩa.
22 Tháng Năm 20153:47 SA(Xem: 72223)
Xung quanh câu chuyện Nguyễn Thị Lộ (NTL) và mối hoạ chu di của dòng họ Nguyễn Trãi quả đã không ít giấy mực bàn cãi, kể cả lý luận, nghiên cứu cho đến văn , thơ, kịch... đã có đến hàng trăm bài viết. Nhìn chung các loại ý kiến chưa thật thống nhất và tính thuyết phục chưa thật cao (1)...Chúng tôi xin được bàn thêm đôi điều về nghi án này với quan điểm không để tình cảm, thiên kiến lấn át sự thật.
22 Tháng Năm 201512:00 SA(Xem: 110473)
Đã 40 năm trôi qua, kể từ mùa Xuân-Hè rực lửa 1972. Trận đánh còn to hơn Điện Biên Phủ 1954 này—thí dụ như sử dụng tới hơn 90,000 quân, so với 40,000 trong trận Điện Biên Phủ—chưa được nghiên cứu tường tận. Một trong những lý do chính là tài liệu; chính xác hơn, thiếu tài liệu khả tín, và quá nhiều cung văn hay đào mộ. Trận chiến Quốc-Cộng 1945-1975 là một trận chiến bị ô nhiễm nặng hệ tuyên truyền kiểu Maoist—tức phe tự nhận “Cộng Sản” không thể thua, chỉ có thể toàn thắng, vô địch...Ở lần hiệu đính thứ sáu này, chúng tôi sử dụng tên thật các tác nhân CSVN hơn bí danh cách mạng của họ. Như Linov Nguyễn Sinh Côn thay vì Hồ Chí Minh, Phan Đình Khải thay vì Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Yến Sa thay vì Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Chấn mà không Trần Văn Trà, Phạm Văn Thiện, không Phạm Hùng, v.. v ..
21 Tháng Năm 20151:56 SA(Xem: 60383)
"Nếu dưới góc độ tình nghĩa , sự phủ nhận những gì đã nuôi dưỡng mình thời trẻ là điều đáng trách thì nhìn từ góc độ khác - góc độ nhận thức chẳng hạn - sự từ bỏ những gì có thời mình đã ngoan ngoãn tiếp nhận đôi khi lại là điều đáng mong đợi. Lấy ví dụ như những người từng học ở Trường Plekhanov chuyên dậy quản lý kinh tế theo phương pháp kế hoạch hóa - tập trung bao cấp thì đạt điểm càng cao sau này càng dễ gây tác hại (!) khi làm việc trên thực tế. Họ chỉ có thể ăn nên làm ra khi “phản tỉnh”, ngộ ra một điều đơn giản : kinh tế thị trường là thành quả lớn lao của trí tuệ loài người."(Phan Hồng Giang)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10499)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17326)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16392)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16859)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1598)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2087)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 2037)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2887)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1333)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1388)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1884)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1606)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1163)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1551)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 2011)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1868)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1268)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3323)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3319)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3879)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2441)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14019)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30130)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36268)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11747)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13144)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3059)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4416)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4350)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4831)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5434)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8481)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7883)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10796)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.