- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bà Tôi

20 Tháng Chín 20145:03 SA(Xem: 59583)

Ba NgoaiBà tôi thương yêu tôi nhất trong gần hai mươi đứa cháu nội ngoại của bà.  Bà bảo tôi tuy nghịch ngợm nhưng biết nghe lời và học chăm, học giỏi.  Bà cho rằng tôi học giỏi vì tôi mới bẩy tuổi mà đã biết đọc sách, đọc báo, biết xem đồng hồ, biết làm tính cộng tính trừ và biết cả tiếng Tây!

-  Thằng bé sáng dạ ra phết.  Mai sau thế nào Bà cũng được nhờ…

 

Ông tôi mất sớm.  Ông mất từ lúc thầy tôi còn nhỏ, đem theo xuống suối vàng cả nỗi nước ao kỳ nguyện được trông thấy con cái học hành đỗ đạt, nên danh nên phận vẻ vang giòng họ.

 

Lúc sinh tiền - bà tôi kể lại - ông tôi nghiêm khắc lắm, bao giờ cũng khuyên răn, nhắc nhở các con phải chuyên cần đèn sách.  Ông tôi ấp ủ kỳ vọng, gói ghém ước ao, vun trồng tin tưởng bằng cách đặt tên cho các con là Văn, Bút, Thư, Đăng, Nghiên, Nến…  Chao ôi, tấm lòng cha mẹ bao la như biển rộng sông dài.  Ai chả muốn cho con cái nên người, công thành danh toại, chức trọng quyền cao làm rạng rỡ tổ tông, hiển vinh thân phận?  Nhưng trời chẳng chiều người, ông tôi rời cõi hồng trần quá sớm, ngậm ngùi mộng ước trôi theo.  Các bác các chú và thầy tôi đều đi không trọn bước đường khoa cử, thành ra bà tôi đem đặt tất cả kỳ vọng vào nơi tôi, dù tôi không phải cháu đích tôn của bà.

 

Trong đám anh em thúc bá, chỉ có mình tôi được học ở Hà Nội.  Tôi học trường tiểu học Nguyễn Du, gọi nôm na là trường Hàng Vôi.  Bà tôi hãnh diện lắm vì có thằng cháu học trường công nơi đất ngàn năm văn vật.  Bà thường khen tôi thông minh, sáng dạ.  Bà lấy ngón tay dí vào trán tôi:

-  Cái trán này này!…  Mai sau thế nào cũng đỗ ông Nghè, ông Cống nuôi bà.

Rồi ôm tôi vào lòng, Bà âu yếm:

-  Thế nó có nuôi bà không, hay đến lúc làm quan, có nhà cao cửa rộng lại đuổi gái già này đi ăn mày?

Những lúc ấy, tôi dạt dào cảm động.  Tôi dụi đầu trong vòng tay êm ái của Bà, nói lí nhí:

-  Dạ thưa Bà có chứ.  Cháu phải nuôi Bà chứ…

 

Đêm về, tôi nằm mơ.  Tôi mơ thấy mình thi đỗ.  Thấy mình được làm quan, mặc áo gấm, đội mũ cánh chuồn, ngồi trên kiệu có tàn vàng lọng tía, một bầy lính tráng theo hầu…  “Trạng nguyên đầu trọc” vinh quy bái tổ, làng trên xóm dưới đổ xô ra xem mặt ông Nghè, đứng chật ních hai bên vệ đường, trầm trồ bàn tán.

 

Nhưng chỉ là mơ đấy thôi.  Thời buổi tân thời làm gì còn hình ảnh ông Nghè ông Cống với võng lọng nghênh ngang như thời xưa cũ.  Như trong các câu chuyện cổ thần tiên kỳ ảo Bà thường kể cho anh em chúng tôi nghe vào những đêm trăng sáng, trên manh chiếu trải giữa vườn ngào ngạt hương cau, lẫn với mùi thơm dịu dàng tươi mát của hoa chanh, hoa bưởi, và bao giờ cũng bắt đầu bằng hai tiếng “Ngày xưa…” êm đềm huyễn mộng…

 

Tôi bèn mơ thành ông Huyện mặc com-lê, đeo cà-vạt, đi giày đơ-cu-lơ bóng loáng, có tài xế lái ô-tô đưa về làng…  Tôi bắt chước kẻ sang, ngồi chễm chệ nạt thằng tài xế bóp còi cho dân làng xã tránh đường xe chạy.  Tài xế là con nhà Lương.  Thằng du côn chuyên môn bắt nạt, ăn hiếp tôi – phải làm tài xế cho tôi – dạ vâng khúm núm mỗi lần tôi nạt nộ.  “Mày hà hiếp ông thì ông phải hành mày cho hả!...”  Tôi khoái tỉ, lòng phơi phới hả hê.  Tôi tưởng ra cái mặt tôi trong mơ, chắc là hớn hở vênh vang dễ ghét lắm?  Dễ ghét như bản mặt lão phán Dư hách-xì xằng có cái ô-tô cà tàng mỗi lần về từ Hà Nội, chưa tới đầu xóm đã nhặng xị bóp còi như thể ta đây ghê gớm lắm.

 

Tuổi thơ có những giấc mơ quá đẹp, có cả một thế giới kỳ ảo thần tiên.  Tôi sống những ngày óng ả hồn nhiên với không một âu lo tư lự.  Nhìn bà tôi tóc bạc, da mồi, lưng ngày thêm còng xuống vì gánh nặng thời gian, tôi bồi hồi ao ước làm sao có phép, vươn vai thành người to lớn như ngài Phù Đổng, đỗ đạt vẻ vang để bà tôi được sung sướng thỏa nguyện trước khi nhắm mắt như bà thường bầy tỏ.

 

Nhưng than ôi, thời gian trôi chậm quá.  Tôi thủa ấy mới chỉ là đứa trẻ non dại, thỉnh thoảng vẫn còn đái dầm trong giấc ngủ và học hành cũng dốt tàn dốt tệ chứ giỏi giang gì mà bà yêu tôi, lúc nào cũng khen tấm tắc.  Bà bảo tôi học giỏi nhưng tôi tự biết rằng tôi học dốt.  Không dốt mà mãi đến năm lớp Nhất tôi vẫn còn mù tịt không biết làm tính chia số lẻ và chuyên môn cóp-pi toán động tử!...   Cũng bởi lý do tôi cứ bị chuyển trường xoành xoạch nên xáo trộn học trình.  Mỗi lần dọn nhà là một lần tôi phải đổi trường.  Từ trường Hàng Vôi – Nguyễn Du, đến Sinh Từ – Lý Thường Kiệt, rồi Ngô Sĩ Liên, rồi lại trở về Hàng Vôi…  Có năm giữa niên học tôi phải học trường tư nữa.

 

        Thành ra mãi tới cuối năm lớp Nhất, gần đến ngày thi Tiểu học, tôi mới “vỡ” ra, mới biết cách làm tính chia có nhớ!  Có gì đâu.  Một hôm ăn xôi lúa, tình cờ tôi vớ được tờ giấy gói xôi là tờ giấy xé ra từ sách dạy làm toán, bài tính chia có nhớ!  Tôi tẩn mẩn xem qua và hiểu ngay tút suỵt!…  Dễ ơi là dễ, thế mà bấy lâu cứ ù ù cạc cạc, tốn bao nhiêu tiền mua đồ ăn, đồ chơi cúng cho lũ bạn để được chúng nó cho cóp-pi toán đố!

 

Các anh em con chú con bác tôi đều ở Bạch Mai, học trường tư, “Dốt nát lêu lổng làm sao bằng thằng cháu này của bà được?”, bà tôi bảo thế.  Tôi nghe mà nở gan phồng ruột.  Hàng năm vào mỗi độ hè, tôi được theo bà về Bạch Mai một tháng trước khi trở lại Hà Nội học hè.  Tôi đem theo cả sách vở để vây vo, tất nhiên trừ sách toán!  Tôi chỉ đợi mỗi khi có khách lạ hay  những lúc nhà có đông người, làm như chăm chỉ văn bài, làm như hiếu học, lôi sách ra đọc ông ổng những bài Tập đọc, những bài học thuộc lòng trong quyển Tân Quốc Văn, những bài Sử ký…

 

        Thế nào cũng có người chú ý hỏi han, khen ngợi.  Ai khen tôi cũng khiến bà vui lòng hả dạ:

        -  Cháu nó học trên Hà Nội, thông minh đáo để.  Thầy giáo, cô giáo nào cũng khen sáng dạ, học giỏi.  Bác xem, thằng bé chịu khó thế đấy, về chơi mà còn đem theo sách vở để học…  Dễ có mấy đứa chăm chỉ như nó?

       

Tôi như mải mê sách vở không nghe câu chuyện nhưng thực tình vểnh tai nghe chẳng sót một câu, trong lòng khoan khoái.

 

        Tôi buồn cười mãi về chuyện bà tôi khoe với mọi người rằng tôi biết cả… tiếng Tây!  Bà đâu biết rằng tôi “chộ” bà.  Suốt niên trình năm ấy, tôi chỉ có mỗi một bài Việt sử trong đó nói đến một anh Tây mũi lõ: bài Giặc Cờ Đen đánh thành Hà Nội, giết chết Đại tá Henri Rivière ở ô Cầu Giấy.  Hôm đó cả lớp xôn xao.  Thầy viết bài trên bảng cho chúng tôi chép lại.  Cái tên Tây được thầy Doanh viết theo lối phiên âm rời “Hen-Ri Ri-Vi-E-Rơ”, chữ nào chữ nấy to tướng như con gà mái thế mà lũ học trò cứ giả vờ nhìn không rõ, lũ lượt nối đuôi nhau lên tận bảng đen nắn nót cóp từng chữ vào quyển vở, nhao nhao như ong vỡ tổ:

        -  Thưa Thầy chữ này đọc làm sao ạ?

        -  Thưa Thầy chữ này phải viết hoa hay viết thường ạ?

        -  Thưa Thầy sao tiếng Tây gạch nối nhiều thế ạ?...

        Một đứa đưa ra câu trầm trồ ngớ ngẩn:

        -  Thưa Thầy, tiếng Tây… hay nhỉ?!

 

        Lớp học ồn hơn cái chợ.  Lũ nhóc tì chạy đi chạy lại dăm lần bẩy lượt từ bàn học tới bảng đen, chỉ tay, dí mắt vào từng chữ.  Đứa thì lẩm nhẩm đọc thầm, tay cầm quản bút hoa lên không khí như phù thủy vẽ bùa, mặt mũi đăm chiêu chỉ sợ về tới chỗ ngồi mấy cái chữ Tây rơi mất trước khi viết lên trang giấy.  Đứa thì giọng mũi đọc to ra vẻ Tây con, cãi nhau, đẩy nhau, kêu la chí chóe khiến thầy giáo phải đập rầm rầm thước kẻ trên bàn, quát tướng lên bắt về chỗ hết, bấy giờ mới yên đám giặc.

 

        Về nhà, tôi biểu diễn.  Lựa lúc Thầy tôi vui vẻ, tôi đem vở ra, vờ vịt hỏi Thầy tôi cách đọc rồi suốt mấy ngày trời, tôi cứ ra rả đọc đi đọc lại bài Việt sử đến đỗi Thầy tôi cáu sườn, gắt lên:

        -  Học với hành… ngu như con bò!  Có mỗi một bài ngắn vài câu mà lải nhải mãi không thuộc.  Tưởng thế là hay hớm, tưởng thế là thông thái lắm đấy?

 

        Tôi… tịt mít.  Thầy tôi thừa biết tôi vây vo chăng nhố làm tôi ngượng quá, không dám đọc thành tiếng nữa.  Bài học ấy cả lớp thuộc như cháo, đứa nào cũng dơ tay xin đọc bài để được điểm cao.  Thầy Doanh tủm tỉm cười:

        -  Giỏi lắm.  Bài nào các ông các bà cũng thuộc như bài này thì phúc đức cho tôi quá!

 

        Tôi đem bài sử cũ rích về Bạch Mai lòe thiên hạ.  Mỗi lần đọc đến đoạn có tên “Hen-Ri Ri-Vi-E-Rơ” là tôi uốn lưỡi đọc to hơn, ấp a ấp úng làm ra vẻ chữ Tây khó đọc và để ý xem có ai khâm phục tôi không.  Bà tôi trìu mến nhìn tôi.  Nhác thấy anh Hộ con bác Trưởng Văn lẩn quẩn gần đấy, Bà mắng:

        -  Mày xem nó đấy, không bằng một góc nó.  Nó là em, nó bé hơn, thế mà đã biết đọc cả tiếng Tây...  Không biết xấu hổ!  Ngữ này bé không học, lớn làm tướng cướp!

 

        Anh vẫn thường bị Bà tôi chê dốt, đâm ra ghét tôi.  Thấy Bà khen tôi, anh tức, trề môi tương vào mặt tôi một câu:

        -  Tây?...  Tây lai ăn khoai cả vỏ, ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột!

 

        Tôi “chuế” quá, không thèm học nữa.  Tôi lôi trong cặp ra tập truyện bằng tranh “Trúc Mai” cắt từ báo Giang Sơn, mấy cuốn tạp chí Mickey, sách hình Zorro, Tarzan, những tập truyện Nhi đồng như “Ông Vua Tai Lừa”, “Hoàng Tử Tí Hon”, “ Cậu Bé Trong Bắp Cải”… bầy ra bàn, dở xem từng quyển.  Tôi gióng tiếng:

        -  Eo ơi ghê quá.  Con cá sấu ghê quá!...

 

        Tôi chỉ cho anh Thọ, chị Dậu từng hình vẽ, giảng giải.  Anh Hộ mới đầu còn làm cao, không thèm lại gần.  Anh lấy đồ chơi bầy ra phản, nói trổng:

        -  Đứa nào theo tao, tao cho cái này…

 

        Anh muốn dụ anh Thọ và chị Dậu bỏ tôi để chơi với anh.  Nhưng mấy cuốn sách hình của tôi quyến rũ hơn bộ khăng, dăm hòn bi đá, con quay tu, mấy đồng xèng…  Những thứ đồ chơi “nhà quê”…!

        Anh Thọ ghé vào tai tôi thì thầm:

        -  Tao thèm vào!  Tao chơi với mày thích hơn.

 

        Tôi ba hoa chích chòe lật những trang hình phụ đề chữ Pháp.  Chỉ xem rồi đoán mò giải nghĩa chứ tôi biết khỉ gì đâu mà anh Thọ với chị Dậu phục tôi sát đất.  Một lát sau, chơi một mình chán quá, anh Hộ mon men lại làm lành.  Tôi tỏ ra mình cao thượng, không chấp nhất chuyện vừa bị anh châm chọc, ngọt ngào nói với anh:

        -  Anh thích xem cuốn nào em cho mượn?  Rồi mai anh đi câu cá, cho em đi với nhá, anh Hộ nhá?…

 

        Chúng tôi quên cả giận hờn.  Những mái đầu xanh chụm lại, hể hả cười nói vang nhà.  Nhìn chúng tôi hòa thuận, bà tôi vui thích vô cùng.

 

&

&    &

 

        Hồi nhỏ, tuy ham chơi nhưng tôi rất mê đọc sách, đọc truyện.  Thầy tôi có cả một tủ sách lớn nhưng tôi không được phép đụng tới.  Thầy tôi bảo đó là những sách truyện dành cho người lớn, tôi chưa đến tuổi để đọc và hiểu.  Thầy tôi sợ tôi mải mê tiểu thuyết xao nhãng học hành…

        -  Cứ học cho giỏi đi, mai kia khôn lớn tha hồ mà đọc.  Chỉ sợ lúc ấy lại mê mẩn ăn chơi không thèm rờ tới sách! 

 

        Thầy tôi chỉ cho tôi xem các loại sách tuổi thơ lành mạnh, những loại Sách Hồng, Nhi Đồng Độc Bản, loại sách Măng Non, Tre Xanh, các truyện cổ tích bằng tranh, các truyện dã sử, phiêu lưu đường rừng… nặng tính chất giáo dục hoặc đôi khi là những tiểu thuyết phong tục, đồng quê, tiểu thuyết xã hội có thể văn nhẹ nhàng như tiểu thuyết của Ngọc Giao, Trần Tiêu, truyện loài vật của Tô Hoài, hay truyện của các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn, vv…

 

        Vào những ngày nghỉ, Thầy tôi mở tủ lựa ra một hay hai cuốn phát cho tôi đọc, lần nào cũng dặn dò:

        -  Chỉ được đọc truyện sau khi đã học thuộc bài, làm xong bài thôi đấy nhé.  Sách gì cũng thế, phải giữ gìn cho cẩn thận, không được làm rách, không được bôi bẩn, không được làm quăn tai chó…  Học trò phải biết thương quý sách vở.

 

        Tôi nhất nhất vâng lời.  Thầy tôi bảo đọc sách là để mở mang trí tuệ, để học hỏi, để tăng vốn hiểu biết chứ không phải chỉ để giải trí mà thôi.  Thầy tôi cấm tuyệt không cho tôi đọc các sách truyện nhảm nhí vô bổ.  Có lần Thầy tôi cho tôi mượn hai bộ truyện dầy để đọc khiến tôi thích quá.  Đó là cuốn “Lá Huyết Thư” của Đồ Phồn và cuốn “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng.  Tôi đọc ngấu nghiến chỉ vài ngày là hết.

 

        Truyện “nhảm nhí vô bổ” mà Thầy tôi nói đến, là những bộ truyện kiếm hiệp mà có một lần bắt quả tang tôi dấu trong áo chui vào chuồng xí đọc lén, Thầy tôi đã khện cho tôi một trận  nên thân rồi đem đốt hết.  Tôi nhớ trận đòn đau nhưng vẫn không chừa, vẫn lén đi mua bằng tiền nhịn ăn quà sáng, đi thuê, hay đi mượn bạn bè về đọc.

 

        Tôi là thân chủ của nhà sách phố Hàng Dầu, của nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh, của nhà sách Thế Giới.  Truyện kiếm hiệp in từng tập mỏng, phát hành hàng tuần, bán mỗi tập một đồng bạc.  Một đồng bạc hồi ấy là bữa quà sáng linh đình của tôi, mua được một ổ bánh mì ba-tê súc xích tiêu muối thơm lừng, hay một đĩa xôi lạp xưởng ngon lành béo ngậy.  Mấy đứa bạn cũng mê kiếm hiệp như tôi, hôm nào vào lớp cũng đem các tình tiết gay cấn võ hiệp kỳ tình để bàn với nhau, cãi nhau ỏm tỏi về những ước đoán diễn tiến của hồi kế tiếp.  Truyện đọc dở dang tức anh ách.  Chúng tôi chỉ lăm le đợi ngày phát hành, hoặc đi học sớm, hoặc chờ tan học là ba chân bốn cẳng chuồn ra, trước khi hồi trống tan trường chấm dứt, trốn lễ hạ kỳ, chạy thẳng tới nhà sách mua kiếm hiệp.  Sách mới ra lò, chưa ráo mực in, mỗi đứa mua một tập khác nhau như đã thỏa thuận, đem về ngấu nghiến đọc cho xong đêm đó để sáng mai trao đổi.  Có đứa mê quá, vừa đi vừa đọc lắm khi đụng cả vào cột đèn hay bộ hành, hàng quán bên vỉa hè.

 

        Tôi tuy nôn nả nhưng không dám lang thang đọc truyện ngoài đường, nhỡ có ai trông thấy về mách; hoặc Thầy tôi đi làm về tình cờ bắt gặp là ốm đòn.  Những trận đòn thừa sống thiếu chết của Thầy tôi  thật đáng sợ, nhưng cái ham mê của tuổi thơ vẫn mãnh liệt hơn nỗi sợ hãi bị đòn và tôi vẫn chứng nào tật ấy.  Hình ảnh những tay giang hồ hiệp sĩ võ nghệ cao cường biết thuật phi hành, biết phun kiếm quang phì phì ra lỗ mũi trong các bộ Bồng Lai Hiệp Khách, Giao Trì Hiệp Nữ, hay Long Hình Quái Khách… là những thần tượng của chúng tôi.  Quả thật ông Đại tá Hen-Ri Ri-Vi-E-Rơ là ông nào, mặt mũi ra sao, tôi không biết.  Nhưng hỏi tôi về “Thần Hành Thái Bảo” Vạn Nhân Địch, về “Quái Kiệt” Thường Ngộ Xuân, về Ngọc Kỳ Lân, Kim Hồ Điệp, cùng hai chị em Bạch Mẫu Đơn, Hồng Khởi Phượng… là tôi biết hết, quen hết, thân như bè bạn…!

 

        Truyện võ hiệp tôi chỉ đem tán phét với bạn bè trong lớp.  Còn với bà tôi, kho tàng truyện cổ tích của bà toàn những Thần, Tiên, Phật, Bụt hiền lành.  Những con Tấm, con Cám, những anh học trò nhà nghèo hiếu học thi đỗ làm quan.  Những người hóa cóc, người lấy tiên, những thằng Bờm, chú Cuội, Thạch Sanh, Lý Thông, Trương Chi, Mỵ Nương…  Chao ơi, truyện kể của bà đầy những gương hiếu thảo, lễ nhân trung tín ở đời và bao giờ bà tôi cũng mở đầu bằng hai tiếng “Ngày xưa…” và kết thúc bằng câu răn dạy: 

        -  Chúng mày nhớ lấy để mà ăn ở sao cho có nhân có đức, có thủy có chung.  Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác…  Ai như cái thằng Lý Thông, như cái con Cám ấy?  Chúng nó ăn ở bạc bẽo gian ác thế nào cũng bị Trời Phật ra tai giáng họa cho đáng đời đáng kiếp chúng nó.

 

        Ở Bạch Mai, mỗi lần dưới Mơ có phiên chợ, Bà đưa tiền cho tôi theo chị Vy đi mua những truyện bằng thơ về đọc cho bà nghe rồi bà trả công.  Công khó của tôi được bà đền bù bằng dăm hào bạc, bằng cái bánh đa, củ khoai bột, kẹo lạc, kẹo vừng, rổ ngô rang, hay quả na, quả ổi… ăn vào ngọt lịm, thơm bùi, ngát nồng những vị thương yêu đằm thắm của bà.  Những sách truyện bằng thơ của nhà Tân Việt, của Bình Dân Thư Quán ở cuối chợ Đồng Xuân mỏng dính in trên giấy bản, bìa vẽ ngô nghê, văn chương mộc mạc quê mùa nhưng chứa đựng cả một kho tàng luân lý bây giờ không thể tìm thấy ở đâu và chính những trang sách xưa của thời thơ ấu ấy đã mở trí khai tâm cho tôi biết thế nào là trung hiếu lễ nhân của đạo đức con người.

 

        Nhiều khi chỉ có hai bà cháu, vào những ngày hè oi bức, hay những chiều đông ủ dột có mưa phùn buồn sũng không gian, bà nấu chè đậu ván, bà ủ ngô rang để tôi vừa nhấm nháp ăn vừa đọc truyện cho bà.  Bà tôi mua nhiều truyện lắm.  Ngoài mấy bộ kinh Phật và quyển “Sấm Trạng Trình” bà để riêng trên một góc bàn thờ, tất cả sách truyện bà đựng trong một cái thùng gỗ ngay dưới đầu giường bà nằm, trong đó toàn là sách truyện bằng thơ như Kim Vân Kiều, Nhị Độ Mai, Bích Câu Kỳ Ngộ, Nữ Tú Tài, Bần Nữ Thán, truyện Phan Trần, Trinh Thử, Trê Cóc, Phạm Công Cúc Hoa, Tống Chân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, truyện Hoàng Trừu, Chiêu Quân Cống Hồ, Đồng Tiền Vạn Lịch, Gái Khuyên Chồng, Trai Khuyên Vợ, Lý Thị Vọng Phu, Cây Thịt Đội Đèn… ôi thôi kể ra không hết.  Truyện nào tôi cũng đọc đi đọc lại bao nhiêu lần mà bà tôi vẫn thích nghe, trong khi nhiều lúc chán quá, tôi ăn gian bà, đọc bỏ đoạn…

 

        Tưởng bà lim dim ngủ không biết thằng cháu ăn gian nhưng tôi lầm!  Bà tôi thuộc từ đầu chí cuối từng pho truyện, không thiếu một câu, chẳng sai một chữ.  Bà biết ngay chỗ nào tôi đọc sai, quãng nào tôi đọc láo, đoạn nào tôi đọc nhẩy.  Bà mở mắt nhìn tôi, cười độ lượng:

        -  Cha bố thằng lười, mày dám đánh lừa bà nhá!...  Hết câu đó phải tới câu này chứ?...

 

        Rồi bà đằng hắng lấy giọng, ngâm nga cái đoạn mà tôi bỏ qua không đọc.  Tôi bẽn lẽn nhìn bà:

        -  Cháu tưởng Bà biết rồi nên cháu không đọc.  Bà thuộc rồi mà?

        Bà tôi lại cười, tát khẽ vào má tôi:

        -  Bà thuộc đã đành, nhưng mày không được lừa bà.  Những đứa “đi dối cha, về nhà dối chú” hư lắm biết không?  Bà muốn cháu cũng thuộc như bà, bà thích nghe cháu đọc cơ.  Cháu tốt giọng, đọc nghe hay lắm!...

 

        Tôi nghe bà khen tôi tốt giọng, sướng quá, đỏ cả mặt.  Bà tôi khuyên dạy chúng tôi về những điều nghĩa lý bằng các câu chuyện cổ, bằng những câu thơ, các vần điệu ca dao, các câu tục ngữ…  Lúc nào bà cũng nhắc nhở con cháu phải ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức.  Anh em trong nhà phải hòa thuận, phải hiếu thảo, phải biết trên kính dưới nhường, thương yêu giúp đỡ người nghèo khó, đối xử tử tế với kẻ ăn người ở trong nhà…

 

        Tôi nhớ những lần đọc truyện “Nữ Tú Tài Di Hoa Tiếp Mộc” cho Bà tôi nghe.  Đến cái đoạn nàng Tuấn Khanh vào ngục thăm cha là Văn Tham Tướng bị vu cáo hàm oan, về cải nam trang lên kinh dâng sớ giải oan cho thân phụ.  Nàng e thân gái dặm trường, ngỏ ý muốn có vợ chồng nô bộc Văn Long theo hầu:

                Ta là thân gái bọt bèo

                Vì cha nên phải quyết liều mình đi

                Quan san nghìn dặm quản chi

                Nhưng hiềm thiếu kẻ nữ nhi theo đòi

                Phiền ngươi kiếm lấy một người

                Trá hình nam tử với ngươi theo cùng…

 

        Tuấn Khanh là tên hiệu của nàng Phi Nga, con gái quan Tham tướng Văn Sác, cưỡi ngựa bắn cung giỏi từ nhỏ.  Nàng giận vì triều đình nhà Tống lúc bấy giờ trọng văn khinh võ nên bèn cải nam trang theo nghề nghiên bút và kết bạn rất thân với Đỗ Tử Trung và Ngụy Soạn Chi.  Ba người cùng thi đỗ Tú tài trong một khoa Hương.  Cả hai chàng Đỗ, Ngụy đều là trang anh tuấn tài kiêm văn võ, Tuấn Khanh khó bề chọn lựa nên nàng lấy cung bắn sẻ để bói xem ai nhặt được thì lấy làm chồng.  Cái trớ trêu của cuộc tình duyên bắt đầu từ trò bắn sẻ này.  Tử Trung nhặt được mũi tên có khắc chữ ký của Phi Nga, nhưng vội trở về bèn giao cho Soạn Chi.  Họ Ngụy hỏi chuyện Tuấn Khanh, cứ yên trí Phi Nga nào đó là chị Tuấn Khanh nên nhờ trao ngọc trang để đính hôn.  Tuấn Khanh thì cũng đinh ninh Soạn Chi là anh chàng bắt được tên, cho là số trời đã định, nhận giữ ngọc trang và định bụng sau khi thi Hội xong sẽ thành hôn cùng họ Ngụy.

 

        Nhưng Tuấn Khanh không đi thi vì sợ bị lộ chân tướng.  Trong khi đó Văn Tham tướng bị tên Binh Đạo vu cáo, vua bắt giam, tịch biên gia sản, cả họ liên lụy nhưng chỉ có Tuấn Khanh được miễn vì là văn nhân.  Nàng vào ngục thăm cha rồi lên kinh dâng sớ khiếu oan.  Tới kinh, vào quán trọ, Tuấn Khanh gặp Cảnh tiểu thư thấy “chàng” nho nhã phong lưu, đem lòng yêu, nằng nặc năn nỉ ông ngoại sang ngỏ lời xin lấy.  Tuấn Khanh từ chối không được, liền đem ngọc trang của Ngụy Soạn Chi gửi cho Phi Nga khi trước, trao cho Cảnh tiểu thư để đính ước, hẹn ẩu rằng sau khi xong việc trở về sẽ làm lễ nghênh tân.

 

        Bấy giờ thi Hội vừa xong, Đỗ Tử Trung đậu Trạng nguyên, Ngụy Soạn Chi đỗ Thám hoa nhưng đã trở về quê.  Tuấn Khanh tìm đến chỗ trọ của Tử Trung nhờ tiễn dẫn vào triều dâng sớ tấu.  Tử Trung xem trộm văn sớ mới khám phá ra Tuấn Khanh chính là Phi Nga giả trai, nên nhất định làm cho lộ chân tướng. Tuấn Khanh biết không thể dấu diếm được, phải thú thực và nói cho Tử Trung hay mình đã lỡ đính hôn với Soạn Chi.  Tử Trung té ngửa, vội phân trần rằng chính chàng là người bắt được mũi tên nhưng đưa cho Soạn Chi mới thành cớ sự…

 

        Hai người thành vợ chồng và sau đó Văn Tham tướng được minh oan, phục chức cũ.  Còn Soạn Chi, anh cu này hí hửng đến chực làm lễ thân nghênh Phi Nga nhưng khi ngã ngũ ra Phi Nga chính là Tuấn Khanh và đã bị Tử Trung phỗng tay trên, bèn biểu diễn màn Tarzan nổi giận!  Để giải quyết, Tuấn Khanh cùng Tử Trung đến thành đô nói sự thực cho Cảnh tiểu thư và làm mối em này cho anh Ngụy Soạn Chi.  Hai bên trả lại của tin cho nhau và bốn họ Đỗ, Ngụy, Cảnh, Văn cùng vinh quy một đoàn náo nhiệt…

 

        Truyện Nữ Tú Tài tình tiết éo le, đủ điều gay cấn, thế mà Bà tôi lần nào cũng chỉ để ý đến những đoạn tầm thường, như đoạn nói về lòng trung nghĩa của vợ chồng Văn Long khi đáp lại ý muốn của cô thiếu chủ:

                Vợ chồng Long mới bảo nhau

                Rằng trong nghĩa nặng, ân sâu chưa đền

                Bây giờ người mắc oan khiên

                Không dưng ai có cần phiền đến ai?

                Con người quốc sắc nữ tài

                Còn liều chẳng nghĩ dặm dài xông pha

                Huống chi hai kẻ chúng ta

                Mình đừng e ngại đường xa nỗi gần

                Hễ lòng ta ở có nhân

                Ắt là thiên địa đền ân sau này

                Vợ Long người cũng ngoan thay

                Nghe lời chồng bảo, bước ngay vào nhà

                Đổi thay quần áo đàn bà

                Mặc đồ nam tử bước ra tức thì…

 

        Bao giờ bà tôi cũng bắt ngưng ở đoạn này.  Bà ôn tồn giảng giải cho chúng tôi về tình phụ tử, nghĩa phu phụ xướng tùy, lòng trung với chủ…

        -  Chúng mày xem đấy để mà làm gương.  Vợ chồng Văn Long là phận con hầu đầy tớ thế mà cũng biết đạo nghĩa thủy chung với chủ, cư xử đúng lẽ cương thường…  Chúng mày học chữ thánh hiền, phải nên bắt chước, làm sao cho khỏi thua kém những đứa tôi đòi ít học.

 

        Chúng tôi ngoan ngoãn nghe lời bà khuyên dạy.  Lời bà như những búng cơm dẻo ngọt, như bầu sữa mẹ thơm lành cho chúng tôi bú mớm.  Lời bà là chất dưỡng sinh, thấm nhuần, chảy mạnh, nuôi nấng tuổi thơ tôi lớn dậy, nên người, cho đến cuối đời, tôi cũng không sao quên được…

 

Đào Vũ Anh Hùng 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Ba 201511:33 SA(Xem: 64218)
Xuân mộng sương khói Lạc vào mắt thu Phải đâu em khóc Là giọt mưa sầu
26 Tháng Hai 20154:33 SA(Xem: 57548)
Nah có nghĩa là Không, và em bảo em đã đi hết vòng tròn của chữ không trong đạo phật rồi. Đối với tôi, em là một loài chim lạ, con chim tuyết trong bài hát Snowbird của ca nhạc sĩ xứ Quebec, Gene MacLellan.
26 Tháng Hai 20154:17 SA(Xem: 56660)
Hôm nay, chúng tôi trở về thăm lại nền nhà xưa của nội. Ngày ba sống đã từng ao ước sẽ dẫn đàn con trở về thăm quê cũ. Bây giờ nếu ba còn sống, chắc ông sẽ hạnh phúc lắm. Khu vườn của nội cây chằng chịt, nền đất cũ hoang tàn, ngôi nhà tranh vách đất của nữa thế kỷ trước vẫn đứng im lìm trong nắng sớm. Cây cổ thụ có một tổ ong to đang làm mật. Chu vi khuôn viên đã bị lấn chiếm nhiều.
26 Tháng Hai 20153:55 SA(Xem: 57930)
“Khu rừng này sẽ cho chúng tự do, vậy tại sao chúng vẫn muốn bay khỏi đó. Ông nói với tôi ghét sự trói buộc, vậy tại sao ông không tìm một con dao để cắt những sợi dây đó ra. Hay là…Ông vẫn muốn đứng ở một chỗ để mơ mộng tự do.”
26 Tháng Hai 20151:15 SA(Xem: 61846)
coi phim khiêu dâm một chặp đầu óc bỗng sáng ra đùi. vú và mông có gì lấn cấn nơi câu chữ à phải rồi thơ không đáy tưng bừng chói lọi như gương
18 Tháng Hai 201510:22 SA(Xem: 66564)
Mùa xuân mộng mơ về người yêu đầu Sao không nói với anh về người yêu sau cuối Chợt mắt chiều rất lạ Năm tháng có bao giờ lập lại hôm qua
18 Tháng Hai 201510:16 SA(Xem: 61413)
Ngày ấy mẹ sinh em ra ở làng Hương Hồ bên bờ sông Bạch Yến. Không có con sông nào lặng lờ nước biếc xanh như dòng Bạch Yến, một nhánh của sông Hương tẻ ngang uốn lượn loanh quanh bên làng quê nhỏ nhu mì hiền lành của vùng Hương hồ, tưới mát hết hai triền bờ xanh um, trước khi xuôi về Bao Vinh nhập mình trở lại vào dòng Hương.
18 Tháng Hai 20159:45 SA(Xem: 67508)
Vậy mà đã 40 năm qua đi 1975-2015, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng/ livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.
18 Tháng Hai 20159:32 SA(Xem: 67190)
Anh không về, hèn chi hôm qua, hôm kia, hôm kia kia nữa Con hẻm quen tự dưng nỗi chứng gập ghềnh Bầu trời đêm nay chẳng thắp nổi vì sao Mây cũng giận, khóc oà như trẻ con lạc mẹ
18 Tháng Hai 20159:25 SA(Xem: 62013)
Nắng tô vàng mái hiên chùa Sư về giũ áo gọi mùa xuân lai Nữa đêm rót bát trăng đầy Đánh chuông bát nhã một chày kình thiên
07 Tháng Tám 2026(Xem: 639)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11077)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17722)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16772)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 437)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 514)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2052)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2567)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 383)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2440)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2199)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2792)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1041)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1112)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1652)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2430)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 256)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 245)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2275)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3101)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14425)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30494)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36777)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12198)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13535)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3968)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 6001)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5482)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6045)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6690)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9004)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8297)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11237)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.