- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Vết cắt

08 Tháng Chín 201412:00 SA(Xem: 63168)


thai_bao_1-_chan_dung-content
Nhà văn Thái Bảo- Florida 2014

LTS : Đọc truyện Thái Bảo đưa người đọc vào những bất ngờ và con đường đưa đến những bất ngờ đầy những lôi cuốn đưa đẩy với các chi tiết được bố trí khéo léo xung quanh nhiều khúc mắc hấp dẫn.Thái Bảo viết phong phú, trải rộng từ Đông sang Tây, đi ngược về quá khứ, trở về hiện tại, đi sâu vào những giấc mơ ác mộng rồi quay về thực tại. Có lẽ điều thích thú lớn là những truyện hay này đến từ một người mà sự nghiệp, môi trường sinh hoạt của người đó và những đòi hỏi khó khăn cho thành công trong môi trường đó đã không thể kềm chế được một trí tưởng tượng văn chương phong phú.Thái Bảo tốt nghiệp bác sĩ tại Việt Nam và hiện nay đang nghiên cứu khoa học, lãnh vực nano sinh hóa tại tiểu bang Florida, Hoa Kỳ. Hợp Lưu trân trọng giới thiệu các truyện ngắn đặc sắc của Thái Bảo đến quí độc giả và văn hữu.

Tạp Chí Hợp Lưu






Vừa chớm tháng 12 mà tuyết đã rơi hết lớp này đến lớp khác dày đặc, phủ một màu trắng lạnh lên thị trấn Patterson, tiểu bang Iowa. Tôi ngồi bất động, lẩm bẩm đếm tuyết rơi. Hai giờ sáng. Đêm lặng. Dăm ba phút, bà chủ nhà Munro lại mở cửa ngóng ra. Sao con không chịu vào nhà. Trời lạnh chừng 36 độ F, nhưng tim tôi đã đóng băng. Vài tiếng đồng hồ trước, tôi mơ màng, hi vọng, háo hức khi hình dung căn nhà này như một chốn dừng chân. Thế mà… Trên tay tôi, một bức thư nhàu nát, không biết đã đọc bao lần. Tôi không muốn vào nhà nữa. Mong trời mau sáng, tôi lái xe quay lại thủ phủ Iowa, rồi bay về Minneapolis.

Ánh đèn ngoài sân hắt lên mặt tôi vàng èo ọt. Khác hẳn khuôn mặt hồng hào của ông già Noel treo ngay cửa chính. Mới ngưỡng bốn mươi, mặt tôi đã đầy nếp nhăn - dấu ấn thời gian hai mươi lăm năm rong ruổi khắp nước Mỹ hòng lý giải góc khuất cuộc đời. Ngày chia tay, tôi hứa với Thắm nếu không tìm được cha tôi sẽ về. Bao mùa Giáng sinh, tin cha vẫn mịt mù. Thư viết cho Thắm rồi để đó, đã đầy hộc tủ, và lớp bụi thời gian phủ trên những mảnh vụn khốn khó đời tôi.

Nhíu chân mày, có lẽ tôi lạnh, hằn rõ năm nếp nhăn vắt ngang vầng trán. Đôi giày boot nhà binh đầy vết dầu mỡ ngọ nguậy trong tuyết. Mới nửa tiếng, tuyết đã mon men từ ngoài sân lên thềm bậc cửa. Trời nắng hay mưa, tôi đều mang giày cao cổ. Chút di truyền gì đó từ người cha cựu chiến binh? Không hề. Chẳng qua tôi muốn khác người và ngầu hơn.

Trời lạnh mà người tôi nóng ran. Chết tiệt, sốt thật rồi. Tôi mở túi y tế cá nhân. Nuốt vội vài viên giảm sốt Tylenol. Lúc nào tôi cũng uống thuốc gấp đôi liều chỉ dẫn. Hãng thuốc tây Jonhson & Jonhson chỉ tính liều theo cân nặng mà quên mất bản tính lì lợm kháng thuốc của tôi. Rời bậc thềm, tôi nện gót giày trên ván gỗ rồi ngả mình trên chiếc xích đu trắng đã loang lổ vết sơn. Trong cơn mê, tôi biến thành thiên thần có cánh bay theo chiều không gian thứ tư, chiều thời gian. Tôi lướt qua cơ thể mình đầy vết sẹo hữu hình và vô hình. Luồn qua lớp áo dạ dày cộp, bàn tay tôi mân mê các vết sẹo. Bản thân mỗi vết cắt là hiện thân một câu chuyện buồn. Tôi nhớ NÓ của thời trẻ ham chơi. NÓ lúc nào cũng hiện diện trong tôi, trong giấc mơ, cả những lúc ngồi một mình rít thuốc...

*

* *

Nó gần như mồ côi. Mà mồ côi thật. Mới ba ngày tuổi, nó đã nằm bơ vơ một góc trong chánh điện chùa Phước Hưng. Nó ở với mẹ nuôi. Bà cũng chẳng khá gì. Nó tự bươn chải tất cả ngay từ những bước chân đầu tiên. Cuộc đời nó là chuỗi ngày hoảng loạn và vô vọng trốn chạy quá khứ, đi tìm hạnh phúc. Mẹ nuôi chết. Nó lại trôi dạt, lúc Sông Bé, khi Tây Ninh. Ngạc nhiên, bàn tay phải của nó lúc nào cũng ngửa. Dị tật? Hay thói quen xin ăn từ lúc nhỏ.

Ông trời thương nó. Dù lang thang cơ nhỡ nhưng nó có vóc dáng khác người. Trong đám trẻ nghèo xơ xác ấy, nó nổi bật nhất. Mái tóc vàng mềm như lụa từng lọn thả dài (nghèo, tiền đâu cắt tóc), khuất khuất che che đôi mắt màu xanh ve chai, tương phản nước da trắng như tuyết, dù suốt ngày giang nắng. Nó, một sản phẩm tuyệt hảo nhưng bị ruồng bỏ người mẹ Việt và cha Mỹ. Như bao đứa trẻ lai, người ta gọi nó bằng cái tên mĩ miều nhưng khinh miệt, thằng Mỹ. Nó luôn năn nỉ bọn trẻ trong xóm gọi nó là Phương, Trần Phương. Họ Trần chính là họ mẹ nuôi. Nó chẳng biết mẹ ruột là ai, họ gì. Nhưng nó luôn bênh vực mẹ.

Thằng nào, con nào trong xóm dám mỉa mai mẹ nó làm đĩ, lấy Mỹ đẻ ra nó, coi như số đứa đó đã tận. Nó phùng má, mặt đỏ như tượng Quan Công, gân máu nổi hằn lên hai bên cổ, rồi đè đứa hỗn hào xuống đất đánh tưng bừng. Đánh đã xong, nó khóc. Mẹ tao không phải như vậy. Bọn trẻ nhao nhao, sao mày biết. Nó im lặng lườm bọn nhóc. Cởi nút áo trên cùng, lấy ra khỏi cổ chiếc đồng hồ quả quýt hiệu Charles Hubert. Mặt ngoài khắc chạm tinh xảo hình chú chim đại bàng đang sải cánh. Phía dưới chạy lượn dòng chữ Kenneth Munro. Lật nắp bên trong, bên phải là mặt đồng hồ, bên trái lồng tấm hình mẹ và cha. Mẹ nuôi kể lại, nhà chùa nhặt được nó cùng chiếc đồng hồ. Nó qúy lắm, nâng niu đồng hồ như báu vật. Ai gạ bán cũng lắc đầu, dù có lúc nó đói tới gần chết, nằm tã tượi bên đường như chiếc mền rách. Nó phải giữ chiếc đồng hồ để tìm cha mẹ. Ngắm mẹ, mắt nó sáng rực, rồi bảo, mẹ tao nhìn hiền và thánh thiện như vậy mà tụi bay dám... Nói xong nó bỏ đi một mạch.

Mười bốn tuổi nó đã dậy thì. Vỡ giọng và biết nhìn lén con gái. Cách ngày nó lại lẻn vào căn nhà hoang cuối xóm. Người ta đồn có ma trong nhà đó. Nó chả sợ. Nó vô đó để bắn cái hoan lạc qua cửa sổ, vút qua vườn trái cây. Phiêu lắm. Nhưng xong rồi nó lại có cảm giác lạc lõng ê chề. Ước gì có Thắm... Một lần đang đê mê, nó hấp tấp rụt lại bởi thoáng mái tóc dài màu vàng hoe lướt qua cửa cùng nụ cười khanh khách. Nó biết ngay con Thắm. Trong xóm này chỉ có hai đứa trẻ tóc vàng. Nó, do di truyền. Và con Thắm, do giam nắng. Từ đó nó cạch bén mảng căn nhà hoang.

Đôi khi nó đi đây đó vài tháng. Chờ chực, bưng, húp tô phở thừa của khách. Rồi lại về xóm nghèo. Gặp lại Thắm, chẳng biết mừng hay vui. Con Thắm cười nhạo: Mẹ tao nói, giang hồ như mày chỉ giang hồ vặt, nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà...

Thời đó, đám trẻ suốt ngày quần xà lỏn tòn ten chạy rông từ đầu đến cuối xóm. Và cung đường rầy xe lửa cắt ngang làng hiển nhiên thành điểm chơi kì vĩ. Cứ nhắc đến đường ray, mắt tụi nó sáng như đèn pha. Nó, thủ lĩnh bày đủ trò cho đám con nít. Cả bọn thi nhau đặt đồng tiền kẽm trên đường rầy. Tàu chạy qua nghiến ren rét, chà nát đồng tiền. Bọn chúng lao nhao, tiền tao hình chữ C, tiền tao hình chữ L… Người lớn không biết gì vội mắng tụi bây con nít ranh nói bậy. Một tay chống nạnh, tay kia giơ đồng tiền bị uốn cong, nó cãi cho bằng được.

Chơi trò đồng xu chán, nó liền bày trò chổng mông trên đường ray lắng nghe tiếng tàu chạy từ xa. Đoán thử tàu hàng hay tàu chợ. Lúc nào nó cũng thắng cuộc. Lỗ tai nó thính lạ thường. Mỗi lần chổng mông, vành tai nó vểnh lên đung đưa, rồi hướng về hướng tàu chạy. Thảo nào, nó đoán trúng chóc. Tàu hàng, nặng, nghe âm đùng đục, chắc nịch. Tàu khách, nhẹ hơn, nghe âm rất thanh, cứ bong bong hẳn lên.

Nó thích thú chiêm ngưỡng cái đám chổng mông hai bên đường rày. Mông con Thắm lúc nào cũng nổi bật, tròn trịa, to nhất đám. Mới mười lăm tuổi con Thắm đã lớn phổng phao. Mỗi khi con Thắm ngúng nguẩy, dường như trái đất đang quặn mình trong cơn động đất.

Đột nhiên nó đứng dậy hớt hải. Đường rầy bị lệch hoặc con ốc lung lay. Bọn trẻ chia thành hai nhóm chạy về phía tàu đang vào ga. Nó chạy như bay trên đường ray. Mồ hôi nhễ nhại. Mặt trời trên đầu đỏ như máu. Những hạt đá xanh to bằng trứng gà bật tới tấp vào chân. Mặc kệ, nó vẫn chạy. Ngã, đứng lên, rồi chạy tiếp, hai đầu gối tứa máu. Cuối cùng nó đã thấy ga xe lửa. Chẳng ai tin một thằng nhóc mười mấy tuổi dùng tai mà biết đường rầy bị hư. Ba toa tàu ngã nhào. Rất may, tàu hàng…

Chán cảnh chổng mông, bọn trẻ lại thi nhau ngồi lì trên đường rày khi tàu đang đến. Nó bạo gan nhất. Bọn trẻ mới nghe tàu hú đã chạy vãi hồn. Nó ung dung nhìn đầu máy xe lửa đến thật gần mới dọt. Nhưng khi tàu đến quá gần, nó cuống không thể bật dậy. Những tiếng rú đồng thanh xé trời. Thằng Mỹ nguy rồi! Chợt con Thắm nhảy ào vô đường ray. Đoàn tàu vun vút lướt qua. Không ai thấy gì dưới thân tàu, chỉ nghe tiếng khóc thét của tụi nhóc đang đứng lố nhố. Tiếng thắng tàu rin rít ghê hồn.

Tàu dừng hẳn. Hai thân hình bất động rồi... ngọ nguậy. Trên lưng nó hằn vết cắt sâu, dài chừng gang tay, máu vẫn chảy. Con Thắm chỉ xây xước nhẹ. Thắm không liều mình nhảy vô kéo nó lọt xuống giữa hai thanh đường ray, có lẽ nó đã theo ông bà luôn. Nó muốn đứng dậy nhưng không thể chống bàn tay phải xuống đất. Tội cho nó, bàn tay dị tật lóng ngóng, luôn ngửa. Chiếc quần xà lỏn của nó biến mất tiêu. Gầm tàu lửa vuốt ngang lưng nó và kéo phăng luôn chiếc quần.

Nó chỉ kịp lột áo che mông. Thắm cõng nó ào vô trạm y tế. Hồn nó vẫn còn lâng lâng đâu đó. Điều duy nhất nó biết, nó vẫn tồn tại. Mười ba toa tàu hầm hập, vồ, ghì, nghiền hai đường ray chả khác gì đang tra tấn. Tiếng ồn dã man ấy ám nó trong vòng hai mươi lăm giây, rồi kéo dài mãi… hai mươi lăm năm sau. Có ai hỏi, nhớ gì không, nó cười. Nó chỉ biết mùi da thịt con Thắm khi hai đứa nằm sát bên nhau dưới đường ray. Nhớ cảm giác âm ấm khi ngồi trên lưng Thắm. Bọn con trai choai choai mới lớn nhớ gì ngoài mùi khác giới.

Thả nó xuống nền xi măng lạnh lẽo trạm xá, Thắm ngồi bệt thở dốc. Máu đỏ tươi, chẳng biết từ đâu, thấm ra đáy quần Thắm. Nó lặng câm há hốc nhìn. Thắm khóc. Chị y tá kéo Thắm vào trong phòng giải thích. Thắm đã thành thiếu nữ mà không hay. Thắm hù nó, thiên hạ biết chuyện này là mày đi tong. Từ đó, nó chẳng chơi đường tàu, chơi với Thắm thôi. Thằng Nhân cùng xóm ghét nó ra mặt. Nhân tuy xấu trai, bù lại hiền, làm việc hùng hục. Nhân mê Thắm nhưng còn ngại ngùng. Giáp mặt Thắm, Nhân chỉ biết nhìn trời nhìn mây, ngẩn tò te.

Một lần bạo gan, nó kéo Thắm vào căn nhà hoang. Thắm do dự. Rồi khe khẽ bước vào. Chợt hai đứa giật bắn mình. Chiếc cửa sút đinh bỗng cọt kẹt. Tiếng cưa sắt xoèn xoẹt như cứa vào da thịt hai đứa. Vài chú dơi hốt hoảng bay ra. Khói từ đâu bắt đầu lan nhẹ trên nền nhà đất. Rồi mịt mù các cánh cửa. Mùi nồng nặc như mùi phân bò khô đốt cháy. Hai đứa ù chạy.

Hôm sau hai đứa lại đứng tần ngần trước nhà hoang. Khi vừa dợm bước vào thì tiếng cọt kẹt, xoèn xoẹt lại bất ngờ vang lên. Rồi hai đứa nghe tiếng chân người hốt hoảng chạy quanh nhà. Và lửa lan tứ bề. Cánh cửa đỏ rực đổ sập cắt gót chân nó. Căn nhà hoang cháy trụi...

Trước ngày nó đi Mỹ diện con lai, Nhân kéo nó vào ngôi đình cuối xóm, nghe đâu thờ thần cẩu linh thiêng lắm. Nhân nghiêm nghị như ông già hỏi: Mày có gì với con Thắm hả? Nó thề: Tao chẳng có gì. Nhân dò: Mày có cưới Thắm không? Nó cười nhạt: Tao không muốn thêm một thằng không cha không mẹ như tao. Chưa giải mã cuộc đời này, tao không thèm lấy vợ. Nhân chộp con thằn lằn trên vách đưa cho nó bảo: Mày phải thề rồi nuốt sống thì tao mới tin. Nó quả quyết với lấy trái chuối trên bàn thờ. Nhét con thằn lằn vào giữa. Nó nuốt ực. Mày tin chưa? Nhân cười giả lả: Hôm đó, căn nhà hoang không cháy thì mày có thề một vạn lần tao cũng chẳng tin. Nó nhìn sững thằng Nhân: À, thì ra… mày...

Trước khi đi phỏng vấn tại lãnh sự quán Hoa Kỳ, nó tìm Thắm. Hai đứa nhìn nhau mãi nó mới ấp úng mở lời: Thắm... có chê thằng này... mồ côi không? Thắm trả lời ngay: Phương mồ côi... Nhưng trái tim của Phương đâu có mồ côi.

Nó nhìn Thắm bằng đôi mắt chan chứa biết ơn. Điều Thắm vừa nói chỉ đúng với Thắm, với bọn trẻ thôi. Chứ còn với người lớn... Mẹ Thắm luôn cấm cửa nó. Cứ thấy nó, bà lẩm bẩm, lại thằng con lai. Bà chỉ thích Nhân. Mà thằng Nhân có gì hơn nó ngoài một điều có đủ cha đủ mẹ.

Đến Mỹ dịp vào Đông. Lạnh. Hiu quạnh. Buồn tê tái. Mới vài tuần, nó gầy rộc hẳn. Nó nhớ Thắm quay quắt. Tay cầm phone, nó hồi hộp lắm. Nhà Thắm không có điện thoại. Mỗi lần gọi phải gọi nhờ vào trạm điện thoại gần nhà Thắm. Nó chờ người ta chạy đi gọi Thắm. Dăm phút chờ sao dài đằng đẵng. Có tiếng hello. Nó căng tai nghe. Hồn nó lắng lại như chiếc lá vàng đang lìa cành trước gió đông. Giọng thằng Nhân. “Thắm đang tắm”, giọng Nhân mừng khôn xiết. Nó biết không phải Nhân vui vì gặp nó. Mà Nhân mừng vì không còn đối thủ. Nó và Nhân chuyện trò gượng gạo cả chục phút. Đến khi Thắm bắt máy, không hiểu vì lí do gì nó buột miệng nói ngay: Phương đã tìm được cha... Phương sẽ ở lại Mỹ làm lại cuộc đời... Sau câu đó, cả nó và Thắm cùng chết lặng. Nó nghe tiếng tút tút vang dài. Nó ngồi thừ. Một chút gì mằn mặn trên nếp má mũi, lăn dài xuống cằm. Nó đã khóc. Một đời trốn chạy quá khứ, nay nó phải trốn chạy tình yêu.

*

* *

Chiều. Đường vào thị trấn Patterson mơ hồ như ý thức của tôi. Tuyết lấp muôn lối. Con đường hẹp lại. Tôi lái xe như trong hư vô. Đến nhà cha hay không? Câu hỏi cứ xoáy mãi trong tâm trí. Bà Munro - vợ chính thức cha tôi - đón tôi ngay cửa. Tôi đã nói chuyện với bà dăm ba lần qua phone. Bà đã ngoài sáu mươi. Bà đưa tôi xem những tấm ảnh trắng đen nhòe nhoẹt thời cha tôi ở Việt Nam. Có một tấm y hệt tấm hình trong chiếc đồng hồ quả quýt của tôi. Tiện tay bà mở nhạc cho thời gian trong căn phòng bớt nặng nề. Tôi rùng mình khi bản nhạc Đêm Giáng sinh trắng vang lên:

Anh đang mơ về một Giáng sinh trắng

Có thiệp Giáng sinh anh viết

Viết tặng người thân chúc vui tươi...

- Cha con thường nghe bài này - Bà Munro nói.

- Tôi cũng vậy - Tôi đáp.

Bài hát này là mật hiệu cho cuộc di tản người Mỹ năm bảy lăm xa xưa. Nghe bài hát tôi khóc ngon lành. Khóc vì hận người mẹ Việt cha Mỹ đã bỏ rơi tôi. Hận luôn cuộc chiến tranh này. Dù tôi biết rằng nhờ cuộc chiến ấy tôi mới đến Hoa Kỳ. Trong cuộc đời có những điều mà tôi không thể định đoạt, nơi sinh ra và giới tính, cũng như chủng tộc. Tôi đâu muốn được sinh ra để rồi bơ vơ trong cõi đời này.

Tôi thường mơ về cha. Không phải người cha cường tráng trong ký ức bọn trẻ. Tôi chỉ thấy người đàn ông với nước da xanh mét, cặp mắt cũng xanh, hàm râu lởm chởm, tóc lưa thưa. Nhìn cha có vẻ không sạch sẽ và nhủn nhủn. Lúc nào cha cũng đói và cáu gắt. Tôi cố gắng đưa cha về nhà, nhưng vạn vật đều ngăn cản tôi. Tôi nổ máy xe. Xe chết máy cứ lì ra đó. Xách vali lên, vali rách tả tơi. Áo quần trên người cha rộng thùng thình quá khổ. Đôi khi tôi mơ, tôi đang đi trên con đường vô tận đầy ánh hào quang. Cha bên tôi. Người luôn nhắc nhở. Con phải giữ lưng thẳng, không buông xuôi vai. Ngẩng cao đầu quan sát thế giới này. Hãy đi như con muốn. Cơn mơ cứ lặp đi lặp lại. Có lẽ mơ trái ngược cuộc đời. Tôi an ủi. Tôi tự lý giải giấc mơ. Có thể ba tôi đã chết trong cuộc chiến hoặc hai cha con không bao giờ đoàn tụ....

... Merry Christmas, my son!

Những câu cuối của bài hát vừa dứt, giọng trầm ấm, bà Munro đưa tôi trở về đời thực:

- Ba con đã chết một tuần...

Bà Munro nói và đưa cho tôi lá thư. Mắt bà nhìn tôi ấm áp nhưng vẫn không giấu nổi nỗi cô đơn ẩn sâu vời vợi.

Con thương yêu của cha.

Xin lỗi con vì cha không hề biết tên con. Cha viết lá thư này từ khi bắt đầu tìm con. Nếu cha con mình gặp nhau, cha sẽ hủy lá thư. Nếu con đọc thư này tức là cha không còn trên dương thế.

Đã hơn một ngàn đêm cha trằn trọc, không ngủ được khi nghĩ về đứa con mà cha đã để lại ở Việt Nam. Cha luôn nghĩ con có đủ áo quần và có chịu cảnh đói khát không?

Ngày đó cha đóng quân ở Long Bình, Đồng Nai với nghề lái xe tải. Mẹ con tên là Nguyễn Thị Thúy. Cha thường đến nhà mẹ con để mua nước giải khát rồi quen nhau. Đến cuối năm 71, hết hạn phục vụ, cha về Hoa Kỳ. Cha không hề biết mẹ con có thai. Mấy tháng sau, cha nhận được thư của mẹ con báo tin, cha rất vui và muốn quay lại Việt Nam. Nhưng đời binh nghiệp đâu phải muốn là được. Cha lại nhận nhiệm vụ ở châu Âu. Rồi cuộc chiến kết thúc. Mọi con đường liên lạc Việt Nam đều đóng băng.

Rồi cha lập gia đình. Nhưng cha và bà Munro đã không thể có con. Có lẽ đó là định mệnh. Cha có quay về Long Bình tìm con và mẹ. Mọi thứ ở đây khác xưa nhiều. Tất cả con lai đều đến Mỹ. Cả gia đình mẹ con đã di tản năm 75. Cha tuyệt vọng. Và đăng chuyện của chúng ta trên trang web “Tìm cha” dành cho những đứa con lai...

Cha và bà Munro quyết định để lại tiệm sửa xe cho con. Bà Munro rất quý con và xem con như con trai vậy. Con có quyền ở lại căn nhà này nếu con thích.

Đừng bao giờ nghĩ cuộc đời con không có ý nghĩa gì. Chính con mới là người đem lại ý nghĩa cho đời con.

Tha thứ cho cha tất cả.

Cầu chúc con trai của ta luôn hạnh phúc.

Gấp lại lá thư. Đời tôi đã được giải mã. Những mật mã buồn. Biết tìm mẹ tôi ở đâu? Tôi xin phép bà Munro ra về dù bà không hề muốn tôi đi.

Sáng sớm hôm ấy, người dân thị trấn Patterson ngạc nhiên nghe tiếng xe thắng gấp bên đường. Chiếc Mustang hai cửa màu đỏ quay một vòng 180 độ. Xe băng ngang, trượt trên tuyết. Tấp vào đường rầy xe lửa chạy song song con phố. Đầu tôi nóng hầm hập. Ký ức tuổi thơ chợt ùa về...

TÔI bước ra xe, chổng mông trên đường rầy lắng nghe tiếng tàu chạy. Hình như cả tiếng Thắm từ bên kia đại dương. Tàu đến gần lắm. TÔI thấy NÓ mờ mờ ảo ảo. Mặt NÓ tái mét. NÓ la. Cầu cứu Thắm đi. Thắm đã một nách ba con, cứu gì nổi. NÓ hoảng. Làm sao chống tay để đứng lên. TÔI la NÓ: Mày ngu quá. Bàn tay phải của tao hết dị tật rồi. Úp, ngửa được nè...

Có người trễ chuyến bay về Minneapolis.

Một tháng sau, Thắm và Nhân hồi hộp mở thùng quà của Phương gởi từ Mỹ. Dưới lớp giấy lụa, lấp ló chiếc đồng hồ quả quýt năm xưa. Bên trong nắp hình, Phương đang cười mỉm. Thắm chợt lặng người. Một vết cắt ngọt xớt trên sợi dây đeo đồng hồ. Hay là… bánh xe lửa cắt? Tối qua Thắm nằm mơ Phương đang giẫy giụa dưới đường tàu, thân hình bê bết máu.

Thắm hét: Kh.ô.ng!!! Tiếng la làm rung các cửa kiếng trong nhà. Thắm ào ra ngoài. Chạy như dại trong cơn mưa. Sấm, chớp nổi đằng đông. Thắm chạy đằng tây. Nhân chẳng biết chuyện gì. Lục hết thùng quà, đọc lá thư. Nhân lại ùa ra đường. Tay vẫy vẫy lá thư gào to: Không có chuyện gì đâu. Thằng Phương hứa sẽ về đây mở tiệm sửa xe hơi. Rồi mời bọn trẻ xóm nghèo ngày xưa về làm việc.

Hai vợ chồng bá vai nhảy vòng vòng dưới mưa, cười nắc nẻ.

Mưa chắc nhiều a xít. Lá thư nhòe nhoẹt hết. Kỳ lạ, chỉ một câu vẫn còn rõ.

Phương vẫn nhớ lời Thắm lúc chia tay. Nếu qua bên ấy, không tìm được tình thương, Phương cứ về lại đây ở với tụi này nha.

Nhân vuốt vội những giọt nước mưa đọng trên mặt. Nhìn xa xăm cung đường tàu lửa cuối xóm, lòng chợt lo lo, Nhân tự hỏi, có khi nào hai đường rầy xe lửa cắt nhau không?

Và câu trả lời của TÔI hôm nay, NÓ ngày xưa là KHÔNG!


THÁI BẢO
Ý kiến bạn đọc
14 Tháng Chín 20171:39 SA
Khách
Lời văn ngắn gọn nhưng súc tích và giàu hình ảnh, giàu tình cảm. Nghề tay trái nhưng như là nghề tay phải vậy. Cảm ơn nhà văn- BS Thái Bảo
22 Tháng Mười Hai 20144:28 SA
Khách
Van cua Thai Bao rat hay co tinh co nghia va co hau . Doc van Thai Bao ko thay chan ,no loi cuon nguoi doc ....Cam on Me Phuong da sinh Thai Bao ::mot con nguoi co hai nhiem vu vua thoa diu tinh than vua chua lanh the xac .....
11 Tháng Mười Một 20149:47 CH
Khách
Phai noi la doc di doc lai van hay khong thay chan ,dung nhu loi gioi thieu tac gia Thai Bao that da tai da nghe,anh chang nhung la bac si ma con la nha van da cho ra doi nhung tac pham da dang hau nhu cau chuyen nao cung deu khien nguoi doc cam thay nhu chinh tac gia viet ve cuoc doi cua minh ,cam on tac gia ,cam on doi da sinh tao ra nha van Thai Bao
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Tư 201512:22 SA(Xem: 58169)
Ngày 30-4, ngày nếu có một triệu người vui, cũng là ngày có một triệu người buồn. Câu nói trong quá khứ của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ Tướng chủ trương chính sách Đổi Mới, được lập đi nhắc lại nhưng liệu có còn chính xác với tình thế hiện tại của đất nước ? Ngày nay, kinh tế tụt hậu, hàng xuất là lao động giá bèo, cái đinh vít cũng không làm được mà nhập hàng ngoại tuốt tuột, nợ chồng chất. Rồi tham nhũng lên đỉnh cao, đạo đức xã hội xuống cấp...
13 Tháng Tư 20154:11 CH(Xem: 62399)
Cho tôi quá giang qua mùa nắng hạ Bỏ mặc phố trôi về phía thật xa Cho tôi quá giang về nỗi buồn hôm bữa Có còn người với góc phố chậm đưa?
12 Tháng Tư 20154:32 SA(Xem: 60218)
Bất ngờ, chị đến gần la lớn. Chào, ông thiếu úy đồn trưởng. Người xe thồ giựt mình sém phun cọng mì, mắt nhìn lấm la lấm lét xung quanh. Tám năm trong tù ra, giờ mới có người gọi ông là thiếu úy. Lạy chị, đừng gọi tôi như rứa. Tôi mới được…từ trại cải tạo về…trả quyền công dân thôi.
09 Tháng Tư 20154:54 CH(Xem: 64044)
Người đàn ông cán sự xã hội rất nhanh nhẹn và hoạt bát, thao thao bất tuyệt với giọng Bắc nhưng vẫn là âm gốc Huế. Anh dí dỏm kết luận bài học công dân đầu tiên: "Xin nhớ cho đây không còn là ở Việt Nam nữa, quý vị bây giờ đang ở trên đất Hoa Kỳ, đã có hoàn toàn tự do, kể cả tự do phê bình tổng thống hay quốc hội, nhưng - anh ta ngưng lại một chút như để tự tán thưởng bằng một nụ cười riêng thú vị: nhưng quý vị sẽ không có tự do trốn thuế. Trốn thuế ở Mỹ thì chỉ có ở tù và được coi là tội nặng nhất..."
09 Tháng Tư 20154:07 CH(Xem: 64208)
Chúng ta đang trên đường đi về phía những ước mơ Nên câu thơ mãi xanh tươi dưới vòm trời khái niệm Mang theo hành trang tình yêu Nào dám nghĩ đó là viên kẹo ngậm Nên sự chỉ định nào cũng đều tối nghĩa phải không em?
09 Tháng Tư 20153:54 SA(Xem: 62894)
Tôi ngồi nhìn thằng bạn chơi games trong căn phòng của nó, một buổi trưa nóng bức, hơi nóng hầm hập nằm bên ngoài ô cửa kính đóng chặt, khung cửa thỉnh thoảng rung lên vì gió. Trong phòng máy lạnh chạy đều đều mang theo một làn hơi mát có tác dụng phụ khiến người ta khô mũi. Ngày chủ nhật, hai thằng con trai chẳng có gì làm ngoài việc nhìn nhau chơi games.
09 Tháng Tư 20153:19 SA(Xem: 59173)
Ới cha ơi, sao nhà cao cửa rộng cha không ở, cha lại bỏ con bỏ cháu mà đi, ới cha ơi! - Ới cha ơi chúng con ăn ở với cha như bát nước đầy sao cha lỡ bỏ chúng con mà đi cha ơi! Phướn, người con thứ hai phủ phục xuống quan tài cha khóc nức nở, tiếng khóc không lâm li nhưng cũng đủ làm cho lòng người đến viếng đám ma xao động mà thêm thương tiếc cho ông Phượng
09 Tháng Tư 20152:57 SA(Xem: 61174)
Dì Cúc nê cái bụng bầu bảy tháng lặt lè chăm vườn hoa cúc trắng. Chỉ có Dì mới được sờ vào hoa, bất kể ngày đau ốm. Hai hàng hoa cúc trắng tạo thành lối đi zích zắc, rắc rối như cuộc đời của dì, chạy từ ngõ tận hiên nhà. Bây giờ chòm xóm đã quen dần cái bụng lúp xúp của dì. Dăm tháng trước, tin dì có bầu chấn động cả thị trấn nhỏ bé có duy nhất một con lộ. Dì không có chồng lẫn bạn trai mà có bầu...
09 Tháng Tư 20152:43 SA(Xem: 63470)
hắn chờ vờ chàng vàng một hồi cũng nặn ra hình tượng những con chữ. mặt. cắt không còn một hột máu
09 Tháng Tư 20152:34 SA(Xem: 61255)
Nếu cụ Nam Cao còn sống, cụ sẽ bình là đôi lứa xứng đôi. Ở nước Việt mình bây giờ, đại gia và người đẹp chân dài luôn là một cặp phạm trù gắn bó hữu cơ. Không phân biệt đâu là chủ thể, đâu là khách thể.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 622)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11075)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17716)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16766)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 402)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 487)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2036)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2554)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 349)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2430)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2194)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2786)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1033)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1104)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1644)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2417)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 246)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 223)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1712)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2265)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3093)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14420)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30487)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36771)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12190)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13532)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3959)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5998)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5472)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6036)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6682)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9000)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8295)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11234)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.