- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HẬN LÒ ĐƯỜNG

30 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 61604)

 


nguyenhoangnam-lamdong-content

 Ảnh Nguyễn Hoàng Nam



LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, nhà văn Lê Minh Nhựt đang sống và làm việc tại Cà Mau Việt Nam. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu truyện ngắn "Hận Lò Đường" của tác giả Lê Minh Nhựt đến cùng quí văn hữu cùng bạn đọc Hợp Lưu.

TCHL



Ông nội của Tư Giáo có một thời làm Chủ ấp của ấp Cây Giá nên thường được gọi là ông Chủ Giá. Ông Chủ Giá sở hữu một lò đường ngay doi Ma, không có bảng hiệu nên người ta đặt tên luôn là lò đường Chủ Giá.

Đất đai ở ấp Cây Giá không trồng trọt được thứ gì. Trồng cây ăn trái thì lèo đèo lẹt đẹt mấy trái cam nhỏ hơn trái chanh mà chua lét; cây dừa là loại dễ tính cũng chẳng lớn lao gì nổi, còi cọc dần mòn rồi rũ đọt khi chưa kịp ra buồng. Chỉ có trồng mía là tốt. Ấp Cây Giá nhìn đâu cũng thấy bóng dáng cây mía: trong vườn, ngoài ruộng, cặp mé sông…cả trước nhà cũng trồng mía thay cho hàng rào quanh sân.

Nhờ vậy, lò đường Chủ Giá có mía để ép quanh năm suốt tháng. Những lúc đông ken ép không kịp, mía chất đống ngoài bãi; lớp đâm tược mọc thành cây, lớp trở mình lên men nồng nặc cả xóm.

 

Tư Giáo vẫn nhớ như in một buổi chiều năm 1959.

Đâu chừng chạng vạng, cánh khuân vác ráng lên hết ghe mía cuối cùng thì nghe có tiếng tàu sắt ầm ầm chạy ngang. Được chừng năm phút sau thì đám mía hai chục công bên sông của chú Sáu Dân phát hỏa; kế đến, tất cả các ruộng mía phía bên sông đối diện lò đường cũng đồng loạt cháy rừng rực. Gần nửa tiếng sau thì tàu sắt chạy về, tàu chạy đến đâu ruộng mía bắt lửa cháy theo tới đó. Lính tráng trên tàu dùng súng phun lửa phun liên tục lên bờ. Sự việc xảy ra trong chớp nhoáng, tới chừng hay được thì cả ấp cây Giá đã trở thành một biển lửa. Ruộng mía chưa kịp đánh lá; còn thứ gì bắt lửa ngon bằng lá mía khô. Tàu cập vô doi Ma, lính tráng ùa lên bao vây cả khu vực lò đường. Thiếu tá Quảng “chó điên” từ mũi tàu vừa bước xuống đã giáng thẳng ma trắc vô đầu một người khuân vác gần đó để thị uy. Tư Giáo năm đó được mười lăm tuổi, thấy máu tuôn xối xả, sợ quá bèn chui vô đống xác mía bên hè để trốn.

Sau khi chùi máu dính trên cây ma trắc, thiếu tá Quảng gầm lên:

- Thằng Chủ Giá đâu! Bò ra đây cho tao coi!

Ông nội của Tư Giáo mặt chuyển sang đỏ bầm, từ từ quỳ hai chân chống hai tay xuống đất bò từ cửa lò đường bò ra chỗ thiếu tá Quảng. Tới chỗ thiếu tá Quảng thì mặt ông Chủ Giá đã chuyển sang màu tái, từng thớ cơ trên mặt ông cứ giật giật liên hồi. Lúc ông nội bò ngang, Tư Giáo ở trong chỗ nấp còn nghe tiếng ông nghiến răng trèo trẹo.

Thiếu tá Quảng ngồi trên bó mía cao ngất chắn ngang trước sân, sau tràng cười sằng sặc như đang lên cơn điên, hắn nhịp nhịp cây ma trắc và rít qua kẽ răng:

- Nghe kỹ nè ông già, ấp Cây Giá kể từ nay không được trồng mía nữa. Trồng mía là làm ổ cho Việt Cộng ém, là chống lại Quốc gia. Phải đốt hết. Còn cái lò đường của ông, dẹp đi. Ai mà biết trong mấy thằng làm công cho ông không có Việt Cộng nằm vùng? Nể tình ông từng làm chủ ấp nên tui mới xử lý như vậy chớ nếu không thì đã xài cái đó rồi…

Thiếu tá Quảng trỏ cây ma trắc xuống dưới sông về phía chiếc tàu sắt đậu, qua ánh lửa của ruộng mía đang cháy rần rật người ta nhìn thấy một vật hình thù kỳ dị đang chập chờn uốn éo, được đặt chính giữa boong tàu: Nó trông giống một chiếc bàn nhổ mạ nhưng dài và chân thì thấp hơn, một đầu dính với hai cây cột song song vươn lên trời. Lửa lan tới con kinh bên hông lò đường, hắt lên vật đó và nhảy múa trên một lưỡi búa khổng lồ sáng loáng được treo cao chính giữa hai cây cột. Máy chém!

Thiếu tá Quảng có máu điên nên được người ta đặt cho biệt danh là Quảng “chó điên”. Chó điên bạ đâu cũng cắn còn thiếu tá Quảng đi tới đâu là bắn giết, đốt phá tới đó, tới khi nào thấy máu mới hả dạ. Đến ngay ông Sáu Dân là ông già ruột, Quảng “chó điên” còn cho lính còng tay đem về quận giam cả tuần lễ ngoài đó, nữa là…

Cả lò đường trừ cánh lính của thiếu tá Quảng, còn lại hơn chục con người làm thuê cho lò đường chẳng ai dám hé răng nửa lời. Lúc này lửa đã cháy đến sát lò đường, nhờ xung quanh có mấy mương nước ngăn lại nếu không chắc lò đường đã cháy ra tro. Lửa vây ba phía chỉ chừa có mặt trước, tức mặt sông. Trời lặng gió nên lửa bốc cao ngọn, liếm thẳng lên trời soi tỏ từng gương mặt đầm đìa mồ hôi. Tất cả trông giống như đang bị nhốt trong hỏa ngục.

Dường như hỏa ngục đã lại làm thiếu tá Quảng sôi máu chó điên lên thêm chút nữa. Hắn không nhìn ông Chủ Giá nữa mà nhìn vào lửa. Không biết bao lâu, hắn mới nhảy từ đống mía xuống chỗ ông Chủ Giá vẫn còn đang quỳ dưới đất. Mắt thiếu tá Quảng đỏ quạch một màu lửa. Một tay túm tóc, tay kia dùng ma trắc nâng cằm ông Chủ Giá lên. Giọng hắn âm u như vọng về từ cõi a tỳ:

- Tui đổi ý rồi, ông già. Tất cả phải tham gia vào trò chơi mới. Không những ấp Cây Giá không được trồng mía, lò đường phải dẹp mà cả ông và tụi làm thuê cho ông nữa…tất cả…

Quảng “chó điên” bỏ lửng câu nói, nhìn về phía tụi lính hất hàm ra hiệu rồi trỏ vào phía trong lò đường. Trong tốp lính có hai thằng bước vào, lát sau ì ạch khiêng ra một chảo đường sền sệt đang sôi ùng ục đặt xuống trước mặt ông Chủ Giá.

Người đầu tiên tham gia “trò chơi” của thiếu tá Quảng chính là người khuân vác ban nãy bị đánh một cây ma trắc vào đầu. Hai thằng lính khiêng chảo đường giờ đè chặt người này xuống đất. Thiếu tá Quảng lấy cái muỗng sắt, múc đường từ trong chảo ra cứ thế mà rót thẳng lên mình người ta. Rót hết muỗng đường thiếu tá Quảng đếm: Một! Hai thằng lính buông tay ra. Người bị đè dưới đất vùng bật lên vừa chạy vừa la làng và chạy thẳng ra mé sông, phóng xuống nước.

Hai. Ba. Bốn….Bảy. Tám. Chín… Mười một. Mười hai. Thiếu tá Quảng đếm tới Mười Hai thì có mười hai người bị rót đường lên người và phóng xuống sông.

Tiếng “mười hai” vừa rời khỏi miệng thiếu tá Quảng thì ông Chủ Giá đột nhiên bật dậy, gầm lên: Quảng chó điên! Mày không phải là con người. Tao liều mạng với mày! Ông già sáu mươi lăm tuổi lao về phía thiếu tá Quảng với cây đòn xóc nhọn hoắc không biết chụp được ở đâu trong lúc đang quỳ dưới đất. Quảng “chó điên” kịp né người qua một bên, cây đòn xóc đâm vào cánh tay đang cầm muỗng sắt để rót đường. Tụi lính bu lại đè chặt ông Chủ Giá xuống đất đấm đá liên tục. Quảng “chó điên” rút súng ra bắn chỉ thiên, nạt lớn:

- Tụi bây tránh chỗ khác, không biết nhẹ tay với người già cả sao?

Mặc chỗ cánh tay bị cây đòn xóc ban nãy đâm vào máu còn đang chảy ròng ròng ướt cả một bên tay áo, thiếu tá Quảng đến bên cạnh ông Chủ Giá đang thở thoi thóp dưới đất. Chân đạp lên mình ông, tay trái thì giật ngược đầu ông già hướng về phía lò đường:

- Nghe nói lò đường của ông nấu đường ngon nhứt vùng này, bữa nay thử coi ông có bí quyết gì không. Chắc là trong thịt da, xương cốt của ông cũng có đường ở trỏng. Tụi bây khiêng ông già này vô trong cho tao!

Sau tiếng thét của thiếu tá Quảng “chó điên”, tụi lính hè nhau khiêng ông Chủ Giá vô phía trong. Tư Giáo chỉ nghe đánh “sầm” một tiếng, giống như có tiếng vật gì rơi xuống mặt ao vừa tát cạn nước, đầy sình non.

Tư Giáo biết, phía trong lò đường có gần một trăm chiếc chảo sắt khổng lồ chiếc nào chiếc nấy đầy nhóc đường chảy, đang sôi sùng sục.

***

Thiếu tá Quảng “chó điên” chết vào cuối năm 1961. Không phải bởi đội “Diệt ác” của ấp Cây Giá.

Tuy rằng Quảng bị bắt sống tại nhà vợ bé của hắn ở cuối ấp lúc nửa đêm bởi đội “Diệt ác” nhưng sau đó đã bị giải vô Cứ chuẩn bị đưa ra xét xử trước nhân dân.

Khoảng bốn giờ sáng, người canh gác phát hiện Quảng đã biến mất khỏi nơi giam giữ. Hắn bị trói gô quăng dưới một căn hầm bí mật – nơi mà chỉ có Lãnh đạo Cứ với các đội viên đội “Diệt ác” biết. Khả năng Quảng tự cởi trói và trốn khỏi hầm là hoàn toàn không thể, bởi một bên đùi hắn đã bị thương khá nặng do chống trả trước khi bị bắt. Xung quanh còn vương vãi dây trói bị cắt dứt bằng dao. Vậy là có người giúp đỡ hắn trốn thoát. Trong Cứ có nội gián?

Với một bên đùi bị thương thì chắc chắn Quảng “chó điên” chưa thể đi xa, trừ phi có người giúp đỡ. Muốn ra khỏi Cứ thì chỉ có một con đường đó là đường sông. Đường sông thì làm sao thoát khỏi các chốt chặn. Lãnh đạo Cứ khẳng định: Quảng vẫn còn ở đâu đó trong Cứ.

Do khẳng định Quảng vẫn còn ở Cứ nên người ta cứ quần đi quần lại từng gốc cây, kênh rạch, căn hầm trong Cứ mà quên mất có một cái lò đường bỏ hoang tuy không nằm trong Cứ nhưng cách đó không xa là mấy. Tới sáng bét, khi ai nấy đều đã mệt phờ râu thì được tin báo là phía lò đường có ai đó đốt khói lên nghi ngút. Lát sau, nghe có tiếng tàu sắt mở hết tốc lực chạy vô rồi dừng ở chỗ lò đường bỏ hoang. Trưa một chút, có tin ngoài quận: quân cảnh đang đồn rần thiếu tá Quảng bị Việt Cộng đưa vô chảo nấu đường để trả thù. Lúc đem thiếu tá Quảng xuống tàu thì thấy giống như một con rùa bị lật ngửa, chỉ ló cái đầu với hai tay hai chân ra bên ngoài, còn khúc mình ngập trong chảo đường đã đặc cứng, không sao cạy đem ra được.

Tin còn nói thêm là, trên tường lò đường có dòng chữ ghi bằng máu: “Lễ tế ông Chủ Giá”.

Cả Cứ cùng dân ấp Cây Giá tới đó mới bật ngửa, chạy đi kiếm Tư Giáo. Từ lúc phát hiện Quảng mất tích cho đến trưa không ai thấy bóng dáng Tư Giáo – đội viên đội “Diệt ác” ở đâu.

Cuối ấp Cây Giá, vợ bé của thiếu tá Quảng đau bụng đẻ vào xế chiều.

Sau vụ thiếu tá Quảng, ngoài quận tung lính vô bình định ấp Cây Giá. Ấp Cây Giá trở thành vùng trắng, tự do trút xả bom đạn. Chịu không nổi, cả ấp rút hết vô sâu trong Cứ. Đến sau tiếp thu, dân ấp Cây Giá mới lục tục kéo nhau về chốn cũ. Hầu như nhà nào còn người thì cũng về lại đất của mình, không còn đủ cây cối để cất một căn nhà tươm tất thì cũng phải ráng dựng một căn chòi, trên nền nhà cũ.

Chỉ có chỗ lò đường bỏ hoang giờ vẫn còn là một đống gạch vụn, nằm vun lên như một nấm mồ, lạnh ngắt.

***

Nghe nói ở phía dưới hạ lưu sông Cái xưa kia có một cái doi gọi là doi Ma vì thời chiến tranh giặc giã, có nhiều thây ma thường trôi tấp vào. Sau này sông Cái đổi dòng xoáy thẳng vô doi, doi Ma biến thành vịnh.

Vừa qua khúc cua của con sông, vịnh đã bất thần hiện ra. Không quen đường, đôi khi tài công giật bắn cả mình vì hình thù của nó trông giống như vết ngoạm cật lực của một con cá mú khổng lồ trong lúc giận dữ. Mỗi khi nước ròng, vịnh phơi ra lô nhô những gạch vụn, đá tảng bám đầy rêu xanh rờn. Bãi đá này mỗi khi nước lớn lại trở thành một cái bẫy ngầm cực kỳ nguy hiểm cho tàu bè, xuồng ghe qua lại. Đã có không biết bao vụ tai nạn xảy ra chỗ cái vịnh này. Dân đi đường sông gọi nơi đây là vịnh Đá Ngầm.

 Phía trên vịnh Đá Ngầm, sát chỗ bực sông lở, xuất hiện một căn chòi. Dân ấp Cây Giá không biết nó được dựng lên từ khi nào, nhưng khi phát hiện ra, người này hỏi người kia thì ai nấy cũng đều ngơ ngác. Thây kệ, chỗ đó vô chủ từ lâu, trước sau gì cũng bị văng xuống dưới sông. Quan tâm làm gì! Phía trước chòi, có cột một chiếc tam bản nhỏ. Cứ tầm bốn năm giờ sáng, một người đàn ông trên dưới năm mươi tuổi từ trong chòi bước ra, mở dây cột chiếc tam bản. Trước khi bơi ra sông, người đàn ông này còn nói vọng trở vô căn chòi tối om: Tui đi thăm lú nghen ông Tư! Chiếc tam bản bơi lòng vòng trên sông một hồi trở lại chỗ căn chòi đúng lúc mặt trời vừa lên trên biền dừa nước chừng nửa con sào. Người đàn ông ban sớm giờ bước lên căn chòi với một chiếc can nhựa nằng nặng cộng với tiếng búng lách chách của mớ tôm hay mớ cá trong đó. Từ khoảng chín giờ trở đi đến xế trưa là thời gian người đàn ông ngâm mình dưới bến. Y chỉ làm có mỗi việc: Mò mẫm từng viên gạch dưới nước và cọ rửa từng viên một cho đến khi sạch hết mớ rong rêu bám xung quanh và thảy lên bờ. Thỉnh thoảng trong chòi cũng vọng ra tiếng ho húng hắng của một ai đó mà người đàn ông gọi bằng “ông Tư”, nhưng chưa có ai từng thấy “ông Tư” bước ra cửa chòi.

Đến ngày người ta thấy đống gạch đã đầy vun xếp ngay ngắn bên cạnh căn chòi thì vịnh Đá Ngầm đã sạch bách, không còn một cục gạch hay một tảng đá nào nữa. Những viên gạch cứng như đá cầm hai cục lên giáng vào nhau đến tóe lửa mà vẫn không bể. Có người vì tò mò nên ban đêm len lén ăn cắp vài cục về nhà coi thử. Trên mỗi cục gạch đều có đóng dấu: Lò đường Chủ Giá. Lạ một điều là khi sờ vào, cục gạch lại có mùi rin rít ngòn ngọt như mùi đường chảy và như thoảng mùi thịt khét. Hoảng quá, người này vội vàng đem trả mấy cục gạch ăn cắp về chỗ cũ.

***

“Thiếu tá Quảng khảm cho hồi năm năm chín đó! Mười hai người có cái sẹo y chang như vầy. Chỉ mình tao là còn sống tới bây giờ!”. Mỗi khi có chừng năm trăm đồng rượu là ông già Chín Thơm lại cởi áo, giơ lưng khoe vết sẹo như một con rết chạy dài từ cổ xuống khỏi lưng quần. “Thằng Quảng rót đường dở thấy mẹ, phải chi nó đều tay một chút thì tao bít luôn chỗ đi ỉa rồi!”. Đám cưới, đám gả, giỗ quảy, thôi nôi đầy tháng…bất kể ở đâu, bất kể mưa hay nắng, cho dù có mời hay không, hễ quan khách vừa đặt đít xuống ghế là đã thấy ông già lót tót từ đâu chen vô ngồi giữa bàn. Ăn uống chấm mút lấy lệ, sau đó chiếu lại “phim tài liệu năm một ngàn chín trăm năm chín” – cái tên do dân ấp Cây Giá đặt cho. Đám tiệc nào xuất hiện ông già Chín Thơm thì coi như chủ nhà muốn cắn lưỡi tự vận vì ông cứ kể đi kể lại một cách xà quần, không cho ai ăn uống gì hết. Vậy mà câu chuyện vẫn huyên náo như thường, đó là vì người ta chờ cho ổng sần sần rồi rủ nhau cười rần rần, khích tướng:

- Thôi đừng có nói dóc cha nội ơi!

- Đù mẹ thằng nào nói tao nói dóc!

- Vậy có ngon diễn lại cái cảnh cuối cùng: ông nhảy xuống sông năm đó thì tụi tui mới tin là thiệt!

Ngay lập tức, ông già vừa múa túy quyền từ trong đám ra tới bờ sông miệng vừa la làng: Trời ơi nóng quá, cứu tui với bà con ơi! Rồi nhảy ùm xuống nước, lặn một hơi, sau đó thả tàu qua phía bên kia sông, nơi có cái chòi rách teng beng. Chưa hết, sau khi leo lên bờ ông già còn làm một động tác hết sức kỳ quặc: Tiến đến sát vách chòi, cởi chiếc quần ướt mem ra, một dòng nước bắn lên theo hình cầu vồng rót thẳng vào vách…sau đó rùng mình mấy cái. Khỏi cần giải thích, ai cũng biết ông già vừa làm xong chuyện gì!. Mười lần như một.

Trên quãng đường đi từ chòi về nhà ông già Chín Thơm vẫn chưa hết cơn say, động thứ gì cũng chửi: từ đứa con nít vô phước bị ông chộp dính đến mấy gốc me, gốc chuối bên đường cũng bị ông già bứt trụi hết lá. Thứ gì ông cũng kêu bằng “Quảng chó điên” rồi huơ chân huơ tay tán loạn như thể đang cố gạt thứ chất lỏng nóng chảy vô hình nào đó đang được rót lên lưng mình.

Dân ấp Cây Giá từ lâu đã thuộc lòng vụ thiếu tá Quảng hồi năm 1959. Nhưng có vài điều mà không một ai biết, ngoại trừ ông già Chín Thơm, nhờ ông già mà cả ấp Cây Giá mới ráp được “bộ phim tài liệu” một cách trọn vẹn:

- Biết cái thằng đang ở trong chòi bên sông là ai không? Con của thằng thiếu tá Quảng đó! Nó đang nuôi ai? Trả lời được, chặt đầu tao xuống làm ghế ngồi! Nó nuôi Tư Giáo – kẻ thù truyền đời của mình. Để làm gì hả? Để nấu đường! Để trả thù! Trả thù đó, biết chưa?

Chuyện này thì dân ấp Cây Giá không tin mấy vì vài người trong họ tận mắt thấy: Chính tay người đàn ông – con của thiếu tá Quảng ẳm ông già nhẹ như bông gòn vô chòi khi y phát hiện ông già nằm cong queo trước cửa chòi của mình vào một buổi sáng. Rồi nấu cháo đút từng muỗng, múc nước kỳ cọ, tắm rửa. Cả tháng trời vẫn không thấy ai đến nhận, cho tới bây giờ khi y biết được ông già đó là Tư Giáo thì Tư Giáo vẫn sống nhăn răng chớ có thấy bị nấu đường hay trả thù gì đâu.

Bí thế, ông già Chín Thơm trỏ vô đống gạch:

- Tụi bây không thấy gì hết à? Nó mót gạch để xây lò đường, chừng nào lò đường xây xong thì số của Tư Giáo cũng tận!

- Nhưng sao tụi tui nghe nó nói: Đống gạch đó mò lên định để dành làm cái nhà coi cho được một chút? Nó còn nói thêm: nhưng điệu này chắc là ông Tư Giáo ổng xài trước quá. Coi bộ ổng cũng không cầm cự được bao lâu nữa, yếu lắm rồi!

Ông già Chín Thơm hậm hực:

 - Tụi bây là một lũ đui, không nấu đường thì nó cũng thả Tư Giáo trôi sông. Để rồi coi!

 - Để rồi coi! Tụi thanh niên nhại lại.

 Nhưng cho dù ông già Chín Thơm có lội thêm vài chục lượt qua sông, đứng đái đến mục cả vách chòi thì vẫn chưa thấy được cái cảnh Tư Giáo bị con của thiếu tá Quảng đem quăng vô lò nấu đường hay thả trôi sông để trả thù. Mà người trôi sông lại là ông già Chín Thơm. Dân ấp Cây Giá kể lại rằng: lần đó ổng ực tới hơn một lít, không ai thách đố gì cả, lẳng lặng men ra mé sông nhảy xuống rồi lặn luôn. Đến khi phát hiện ra thì ổng đã tấp vô vịnh Đá Ngầm.

Người vớt ổng lên lại là con của thiếu tá Quảng.

 Sau vụ ông già Chín Thơm chết trôi, ở ấp Cây Giá, dường như mọi chuyện cũng phai đi ít nhiều.

 Nhưng nhìn từng nhịp dầm có vẻ thanh thản của người đàn ông trên chiếc tam bản mỗi sáng đi đổ lú trên sông kia, dân ấp Cây Giá không ai dám chắc: Đã đến lúc coi chuyện cũ như là những câu chuyện phiếm có thể kể trong lúc trà dư tửu hậu. Vì, không phải ai cũng thích nghe người khác nhắc lại chuyện cũ, bởi ngoài chuyện vui thì vẫn còn có những chuyện khi được nhắc nhớ, nó gợi về những kỷ niệm không vui. Có khi còn hơn thế, đó là cả một mối hận. Dù từ lâu, nó đã thành sẹo, ở trong lòng…

LÊ MINH NHỰT

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Ba 20157:42 CH(Xem: 57751)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Việt Trúc là bút danh của một sinh viên trường đại học sư phạm Huế. Hợp Lưu hân hạnh gởi đến quí bạn đọc những bài thơ ngắn thật cảm động viết về mẹ của Việt Trúc. Tạp chí Hợp Lưu
09 Tháng Ba 20157:23 CH(Xem: 60858)
tôi bay lên cùng nắng đôi mắt nắng trong veo tôi rớt xuống cùng mưa chùng chình cửu vạn
07 Tháng Ba 201511:21 CH(Xem: 63745)
Đồng hồ trên tháp nhà thờ Đã dừng lại lúc 7 giờ sáng ngày 5 tháng 1 năm 2012 Các tờ báo buổi sáng không đưa tin Một toà nhà màu xám ở góc đầm Đã được phá bởi 100 anh công an mang súng
07 Tháng Ba 20153:05 CH(Xem: 61054)
LTS: Trong những ngày đầu năm Ất Mùi 2015 Tạp Chí Hợp Lưu nhận được bài viết của tác giả Kim Long viết về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Kim Long là bút hiệu của một nhà nghiên cứu khoa học. Vì sự tế nhị cùng nhậy cảm, và để tránh những hiểu lầm không cần thiết, chúng tôi sẽ sẵn sàng đăng trên Hợp Lưu những phát biểu (nếu có) của những vị đã viết về Thanh Tâm Tuyền mà tác giả Kim Long có đề cập trong bài. Hợp Lưu trân trọng gởi đến quí bạn đọc và quí văn hữu bài “Viết nhân ngày giỗ thứ chin của nhà văn nhà thơ Thanh Tâm Tuyền”. TẠP CHÍ HỢP LƯU
06 Tháng Ba 20152:31 SA(Xem: 56976)
Tôi là một quả pháo. Trước đây tôi là con người như bao con người khác, mắt mũi miệng, tay chân, cân đối, bình thường và đầy đủ chức năng. Đó là một bí mật...
04 Tháng Ba 201511:30 CH(Xem: 56882)
thả vài giọt tình xoay mòn mênh mông thấy đời trôi trắng giấu một mặt trời trong võng mạc mắt tôi hỏa châu chiều tắt nắng yêu người
04 Tháng Ba 201510:58 CH(Xem: 59562)
Anh trở về lật lại kí ức nát nhàu Mẹ chết sau ngày anh đi lính Cha bị bắt, đứa em gái cũng ngã bệnh Hàng xóm chặt ngọn cúc tần đắp mả cho người hàng xóm khác... rồi đi!
04 Tháng Ba 201510:41 CH(Xem: 62571)
Nắng đã vào mùa giêng hai em bắt bóng vợi nhớ nhung đượm màu lửa hạ đường xưa giờ xa quá ngong ngóng gì mà trượt ngã qua mình
04 Tháng Ba 201510:32 CH(Xem: 61859)
Ngày ông Ninh bố của Hùng đến nhà gặp Má, Ngà đi học chưa về. Má kể, ông nói với Má sẽ mang Ngà theo trong chuyến vượt biên.
04 Tháng Ba 201511:33 SA(Xem: 62129)
Xuân mộng sương khói Lạc vào mắt thu Phải đâu em khóc Là giọt mưa sầu
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9445)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16254)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15264)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15621)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1640)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1783)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1870)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2206)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4311)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6117)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5475)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6070)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1570)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1809)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2016)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1881)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1690)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1511)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1693)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1691)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12431)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28678)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35215)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35091)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9969)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12061)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1237)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1783)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2206)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2366)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2737)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7095)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6518)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8512)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.