- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,939

MẤT NHỚ

18 Tháng Hai 201412:00 SA(Xem: 23712)


quen-content

 Quên lãng- ảnh Dương Đức Sơn




Ngày lễ Tình Yêu, tình nhân vợ xin về sớm. Xếp lườm, bạn ghẹo, cứ tất tả ra về. Hẹn gặp tình nhân chồng ở nhà, rồi lên phi trường đón Má vợ.

 

Anh Tư đi vòng vòng, dặn dò, hễ Má ra thì đến đứng dưới cái bảng Hudson. Ngồi vêu cả tiếng, nhân viên phi trường đẩy Má ra hẳn bên ngoài cho rộng chỗ, tình nhân chồng bắt đầu gầm gừ, đã dặn đến chỗ cái bảng cho dễ tìm. Nhưng nhân viên phi trường không rảnh để lách. Mặt chù ụ.

 

Lên xe, Má thả trái bom đầu tiên:

_Má mới tìm được một đứa con (!!!)

_Là?

_Con Chỉnh, mày có biết nó không? Sao tao ở Mỹ bấy lâu không bao giờ biết nó, bây giờ phát giác ra nó giống tao quá trời.

_Má còn gặp ai nữa không?

_Còn, thằng Dũng.

_Ảnh là con Má hay con ai?

_Không, nó là rể, chồng con Chỉnh. Mà, mày có biết nó không?

_Con biết chứ, con sinh ra đã thấy bả, rồi lớn lên ở chung nhà!!!!

 

Tình nhân chồng bắt đầu ngó ngoáy, lắc lắc cái đầu như con gà tre sửa soạn đá, lông cổ từ từ xù lên.

 

_Con nói cho Má biết, ông Reagan kia kìa, bà vợ mấy chục năm mà ổng còn quên không biết bả là ai, không phải mình Má có bịnh mất nhớ (!!!!)

_Nhưng tao đâu có mất nhớ.

_Không mất nhớ thì là cái gì, bà vợ ngủ bên cạnh (!!!) mấy mươi năm còn quên thì cũng như Má mới tìm được đứa con.

 

Tình nhân gà tre bắt đầu thao thao cái bịnh mất nhớ, má vợ ngó ra ngoài đường xá mặt nhởn nhơ, tình nhân vợ ngồi sau co rúm người như chim cút, hồi hộp sợ thánh chiến nổ ra trên từng cây số.

 

_Má nói cho con biết, má không có bịnh mất nhớ. Tụi nó tính gạt tao, bảo con Quỳnh Anh là cháu ngoại tao, tao vạc vào mặt chúng nó. Cháu ngoại của tao tao bồng ẵm bao nhiêu năm, đâu phải là cái con bú dzù đeo kính đó.

_Ừ, đời còn dài lắm, má cứ chờ đi, năm sau sẽ tìm thấy đứa con khác.

_Mà không biết sao tao quên lạ kỳ. Con Chỉnh trước khi vào máy bay còn dặn, 2 trái soài cát cho 2 chị em mày, mà vào hải quan nó hỏi có trái cây không thì má lại quên.

_Rồi sao?

_Thì nó nói thôi đi đi.

 

Gà tre lại xù lông gáy te te:

_Đó, để má nói không mất trí (đã tìm ra chữ khác!!!!) Mệt.

_Mất trí sao Má biết mày là thằng Tư.

_Không nói nữa. 

 

Chim cút ngồi sau làm dấu thánh giá.

 

Về nhà, lên mạng nhòm xem mặt trận miền Tây ra sao.

 

Khổng tử Houston ra chiêu trước, giọng chua chát chúc phe ta yêu lai láng. Lão khọm lối xóm củ mỉ cù mì tặng Khổng tử và cả anh em Tụ Hiền trang một bài viết.

 

Trang chủ Wichita thỏ thẻ:

_Khổng tử nhà mình suốt đời sống cho tình yêu. Hãy đọc lại những tập thơ của bác thì rõ.
Rồi đây bác cũng sẽ chết cho tình yêu. Chỉ có ngài Ngộ chữ (gọi lão khọm là ngài !!!) của chúng ta là không có trái tim cho tình, chỉ có trái tim cho chữ. Thế nên ngày Valentines thay vì dẫn vợ đi ăn tiệm thì cứ vùi đầu vào cái còm mở đầu bài viết mới. Rõ chán
!

 

Bên kia đại dương, Úc thòi lòi pháo kích:

_Theo văn phong cải lương của Khổng tử thì hôn nhân là “The River of no-return”, đạo đức như tớ thì đời vợ chồng là “thánh giá Chúa gửi,” vì như lời thánh kinh đã nói: Này ta bảo thật các con: những gã đực rựa nào vừa đi làm đổ mồ hôi lấy tiền nuôi gia đình, vừa nhẫn nhục sống trong cảnh vợ chúa chồng tôi, thì dù có bay bướm chút đỉnh, nước Thiên Đàng vẫn chính là của họ.”


Bên Cali thánh cô lẩm nhẩm gật đầu “amen,” Houston bị pháo kích bèn đáp lễ:

_Vác thánh giá bằng giấy mà cứ lên giọng kể lể goài. Thôi thì xin Chúa cứ để hắn sa chước cám dỗ rồi hẵng cứu hắn cho khỏi sự dữ.

 

Không biết bên kia đại dương có amen cho rõ to. Tắt máy vào giường, tình nhân gà tre đã gáy o o, chuồng gà đã đóng cửa. Tình nhân chim cút, thánh cô Cali, phát giác từ lúc tậu được cái chuồng gà thì tháng Hai thiếu thêm một ngày.

 

 

Lưu Na

02/14/2014

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1171)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1229)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1916)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5947)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5947)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13326)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30285)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81355)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20319)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
26 Tháng Chín 20219:17 CH(Xem: 212)
những sớm mai tắt nghẹn / thơ giúp tôi cất tiếng nói / thoát ra từ những khung cửa khác nhau / cuộc hẹn hò cùng hoa trắng / đến sự chia tay với thư xanh / những bạn thơ văn hào sảng / mỗi số phận viết lên một đời người / tuổi xế chiều đem lại bao dung / và chữ nghĩa khiến chúng ta gần lại