- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,384,524

CỔ TÍCH AN-NAM-MÍT BẰNG TIẾNG PHA LANG SA (1875-1877)

23 Tháng Mười 201910:18 CH(Xem: 674)

TRUONG VINH KY
Trương Vĩnh Ký - 1837-1898

 

 

 

[Trích: Petrus Key Trương Vĩnh Ký & Cuộc Xâm Lăng Của Pháp]

 

 

Chương VI

CỔ TÍCH AN-NAM-MÍT BẰNG TIẾNG PHA LANG SA (1875-1877)

 

 

Tập tài liệu Cours d’histoire annamite [Bài học sử Annam dùng trong các trường Nam Kỳ thấp] của P.J.B. Truong Vinh Ky—gồm hai tập, được chính phủ thuộc địa Cochinchine francaise thuê viết, và xuất bản năm 1875-1877—là tác phẩm quan trọng của Petrus Key. Sách viết bằng chữ Pháp, nhưng tên các nhân vật và đất dùng nguyên tên chữ “Latin annamite”—tức chữ quốc ngữ hiện nay, nhưng còn sơ khai, thô vụng, ghi theo khẩu âm miền nam như Trịnh “Sum” thay vì Trịnh Sâm, Lê “Uinh” thay vì Lê Oanh, “Phước Khương An,” thay vì Phúc Khang An, hoặc vô nghĩa như Nguyễn “Trại” thay vì Nguyễn Trãi, cùng cổ tích rắn thần Nguyễn Thị Lộ báo oán 13 mạng mà các bộ quốc sử Lê hay Nguyễn không chép. (Cours, II, 1877, tr 17-18).

Đây không phải là một công trình nghiên cứu và viết sử nghiêm túc để truyền dạy cho học sinh những bài học sử trung thực. Nó được vội vã xuất hiện để biện minh sự khai sinh thực thể Nam Kỳ thuộc Pháp, và vương quốc Annam sau Hòa ước 15/3/1874; đồng thời tẩy não thế hệ đương thời cùng tuổi trẻ dĩ vãng hơn 800 năm tự chủ từ họ Khúc tới họ Nguyễn.[1] Chỉ nguyên tựa sách đã phản ánh lập trường Hội truyền giáo Pháp: lịch sử xứ Annam, tức các triều đại quân chủ cổ Việt trước 1874—theo lời dẫn nhập của giáo viên  thông ngôn, cán bộ tuyên truyền bản xứ mạo nhận sử gia—trở thành tập truyện cổ tích mà ai nấy đã biết, để trau dồi thêm việc học chữ Phalangsa [chữ Tây].[2] 

Petrus Key không hề nhắc đến quốc hiệu Đại Việt, Việt Nam hay Đại Nam—chỉ dùng những tiếng Annam, Tonkin, Cochinchine, Cochinchine francaise. Không hiểu do cố ý, hay bắt chước các cố đạo Âu Châu.

Không hiểu Petrus Key đã tìm ra tên “An Nam Đô hộ phủ” đời Đường (679), dựa theo tước “An Nam quốc vương” của các vua Việt từ năm 1164, hay sử dụng thuật ngữ “An Nam Đô thống sứ ti” của sách sử Minh và “An Nam quốc” dưới triều Thanh. Cách nào đi nữa, người Portuguese dùng tiếng “Onam” để gọi người Việt. Các giáo sĩ và học giả Pháp sáng tạo thêm từ “annamite” để chỉ người Việt và những gì thuộc về nước Việt, và Petrus Key thản nhiên nhái theo. Quốc hiệu Việt Nam từ 1804 tới 1838 (và từ 1945 trở đi), hay Đại Nam (từ 1838 tới 1945) bị thủ tiêu. Cũng chìm vào lãng quên là quốc hiệu Đại Việt từ thời Lý Nhật Tôn (Thánh Tông, 3/11/1054-1/2/1072) tới Tây Sơn (1778-16/7/1802).[3] 

Ngoài địa danh An Nam, các giáo sĩ còn dùng những tiếng Đường/Đàng Ngoài và Đường/Đàng Trong—tức hai phần lãnh thổ Bắc và Nam sông Gianh, được đặt tên là "Tonqueen" hay "Tong-quin" (Tonkin) và "Cochin-chine" dưới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1620-1777). Cho tới năm 1858, tức hơn nửa thế kỷ sau ngày Nguyễn Phước Chủng thống nhất vương quốc, bốn xứ Bắc Kỳ, Hữu Trực Kỳ, Tả Trực Kỳ, và Nam Kỳ vẫn bị tảng lờ. Hệ thống hành chính của các Hội truyền giáo tiếp tục dùng sông Gianh (Linh Giang, nam Bố Chính, tức Quảng Bình ngày nay) làm biên giới hai nhóm giáo khu Đường Ngoài [Tonkin hay Tonking] và Đường Trong [Cochinchine] khai sinh từ hạ bán thế kỷ XVII giữa thời Trịnh-Nguyễn tranh hùng (1620-1777). (Cours, II, 1877, tr 6)

Mãi tới đầu thế kỷ XX, sau khi Pháp đã xâm chiếm toàn bán đảo Đông Dương, thành lập L’Indochine Francaise, các giáo phận mới được gọi theo tên chỗ đặt Tòa Giám Mục, như Hà Nội, Vinh, Huế, Sài Gòn, hay Vĩnh Long.

Trong tập II Bài học sử Annamite, đất nước Việt từ năm 1428 chỉ được Petrus Key ghi như “royaume d’Annam,” dưới quyền Hoàng đế [Empereur] Tàu. (Cours, II, 1877, tr 5-6) Mặc dù tác giả nhắc đến thuật ngữ ”An Nam Đô thống sứ ti” thời Mạc, nhưng không đề cập đến việc cha con, cháu chắt “lợn trong giọ” Mạc Đăng Dung (24/12/1483-11/9/1541)—sau khi xỏa tóc, tự trói vào Trấn Nam Quan đầu hàng Mao Bá Ôn [Mo Bo-wen] ngày 31/10/1540—không được phong tước vương [wang, roi], mà chỉ được tước đô thống sứ, quan hàm tùng nhị phẩm [II-2]. Hay họ Mạc, sau khi nộp trả đất Đồng trụ, chỉ được cha truyền con nối cai trị 13 phủ—dưới quyền giám sát của phiên ty Quảng Đông. Và, nhìn nhận đô thống sứ ti gồm bốn phủ Thanh Hóa của Lê Ninh, tức Lê Trang Tông, cùng đô thống sứ ti khác của anh em Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật từ khoảng Mông Tự-Mạn Hậu, Vân Nam, tới Lào Kay-Tuyên Quang hiện nay.[4]

Danh hiệu vua Việt từ các triều Hậu Lê (29/4/1428-12/7/1527) ghi theo sử Lê và Nguyễn, với tên thực, niên hiệu và miếu hiệu; nhưng theo khẩu âm miền nam. Thí dụ như Lê Lợi, Lê Nguyên Long, Lê Bang Kỳ [Cơ], Lê Tư Thành, Lê Uinh, v.. v.. Không ghi tên Lê Nghi Dân, hay tên Tàu của các vua Việt như Lê Lân, Lê Toàn, Lê Tông, Lê Nghị, Lê Trừu, v.. v…[5] 

Tên vua Nguyễn không nhắc gì đến Nguyễn Phước Chủng, chỉ ghi “Nguyễn Ánh,” hay “Gia Long” từ năm 1777. Thực ra tên Nguyễn Ánh chỉ dùng trong thư cầu viện Đại Tây Dương do Pierre Pigneau dịch qua tiếng Pháp nộp cho vua Louis XVI năm 1787. Đại Nam Thực Lục ghi cả ba tên tự Chủng, Noãn và Ánh. Các giáo sĩ không ngớt yểm trợ “ông Chủng” hưng quốc, chống giặc Tây Sơn. Vua Nguyễn Huệ (1753-1792), niên hiệu Quang Trung, hơn một lần chê bai tên Chủng, và Tây dương nhân. “Dẫu tên Chủng, dẫu các Tây dương nhân thì cũng chẳng làm gì được. Vì chẳng có gan đảm, chẳng hay nghề võ; chớ khá đem lòng sợ mà chi.”[6] 

Về Nguyễn Huệ—được Ải Tân Giác La Hoằng Lịch (1735-1796, TTH 1796-1799), niên hiệu Càn Long [Qian long], phong làm An Nam Quốc Vương, thay thế nhà Lê— Petrus Key ghi “vua Huế và Tonquin” [sic] chết vào tháng 7 [Nhâm Tí] “1791.” (Cours, 1877, II, tr 230)[7]

Đại Thanh thực lục ghi “An Nam Quốc vương Nguyễn Quang Bình” mất ngày 29/9 Nhâm Tí [nhưng theo lịch Thanh là 11]/11/1792tại Nghĩa An.

Đại Nam Liệt Truyện của nhà Nguyễn cũng chép vua mất ngày 13/11/1892, tức 29/9 Nhâm Tí [Cửu nguyệt nhị thập cửu nhật Huệ tử, tiếm vị ngũ niên, niên tài tứ thập].[8] 

Sai lầm và cẩu thả nhất là vấn đề ngày tháng. Khi chép ngày lịch ta tức âm lịch từ các tài liệu Tàu hay Việt, Petrus Key ghi ngày tháng lịch ta, rồi thêm vào năm lịch tây. Thí dụ, Nguyễn Phước Chủng lên ngôi ngày 2/5 Nhâm Tuất, tương đương với ngày 1/6/1802, bị Petrus Key ghi thành “5ème mois 1801” [tháng thứ 5 năm 1801]. (Cours, 1877, II:249) Vì thiếu phương tiện cùng thời gian để tra cứu dữ kiện, hay chuyển từ lịch ta sang lịch tây, Petrus Key quên một điều sơ đẳng: Tháng, năm lịch ta thường chổng tréo với lịch tây: Năm Nhâm Tuất niên hiệu Gia Long 1 tương đương với 7/2/1802- 22/1/1803 lịch tây, và tháng 5 tương đương tháng 5-6/1802 [31/5-29/6/1802].

Cuộc Bắc tiến diệt chế độ Nguyễn Quang Toản (13/11/1792-17/7/1802): Petrus Key nêu lên các thời điểm le 21 de 5è mois, le 27, le 28, le 1er de 6è mois, le 17 du 6è mois. (Cours, 1877, II:250) Thực tế, ngày 16/6/1802 Lê Văn Duyệt dẫn quân đánh ra Bắc; ngày 20/6/1802 [le 21 de 5è mois] Nguyễn Phước Chủng rời Huế ra Bắc, ngày 26/6/1802 [le 27] thủy binh phá đồn Hoành Sơn, ngày 27/6/1802 [le 28] Hà Trung, ngày 30/6/1802 [le 1er de 6è mois] chiếm Vĩnh Dinh Nghệ An, ngày 16/7/1802 [le 17 du 6è mois] bộ binh tới chân thành Thăng Long; dân Kinh Bắc bắt được Nguyễn Quang Toản, ngày 20/7/1802 [21/6 Nhâm Tuất] Nguyễn Phước Chủng vào Hà Nội.[9]

Trường hợp bốn vua đầu nhà Nguyễn:

I. Nguyễn Phước Chủng, Noãn, Ánh ([28/1/1778] [28/2/1780], Thế Tổ, 1/6/1802-3/2/1820), niên hiệu Gia Long.

Chủng: bên trái chữ Nhật [Thái], bên phải chữ Trọng [ThC 706]; có nghĩa là mặt trời khi giữa trưa; Noãn, bên trái chữ nhật, bên phải chữ viện; Ánh, bên trái chữ nhật, bên phải chữ Anh, hay Ương.

Petrus Key không nhắc gì đến Nguyễn Phước Chủng, chỉ ghi “Nguyễn Ánh,” hay “Gia Long” từ năm 1777: “Gia Long, roi de Cochinchine,” (II, p 249) rồi “roi d’Annam.” (Cours, 1875-1877, II, pp 253). Chết ngày 25/1/1820 [sic]. (Cours, 1877, II, p 256). Không chép tước Việt Nam quốc vương do Ngung Diễm (Thanh Nhân Tông [Qing Renzong], niên hiệu Gia Khánh [Jiaqing], 1796-1820) phong ngày 23/2/1804. Quốc hiệu Việt Nam đảo ngược tên đề nghị Nam Việt, dựa trên huyền thoại tộc Việt Thường [Yueshang] đời Tây Chu— để khỏi lầm lẫn với Mân Việt và Đông Việt (Quảng Đông và Quảng Tây). Ngày 28/3/1804, Nguyễn Phước Chủng làm lễ ở Thái Miếu, rồi ban chiếu đổi quốc hiệu Việt Nam, không được dùng tên An Nam nữa.[10] 

Nên ghi nhớ, mặc dù sử Lê coi Triệu Đà [Zhao Tuo], vua Nam Việt có kinh đô là Phiên Ngu [Quảng Châu hiện nay], chữ Việt bộ Tẩu của các tên nước “Đại Cồ [Cù] Việt,” hay “Đại Việt” khởi nguồn từ Việt Thường.[11]

Thứ Bảy, 28/6/1806 [12]/5 Bính Dần], Nguyễn Phước Chủng lên ngôi Hoàng đế. Từ ngày 23/6/1806 đã lễ cáo trời đất. Ngày 25/6/1806 [9/5] kính cáo các đền miếu.[12] Petrus Key không chép.

Về bang giao với Miên và Xiêm sau cái chết của Rama I Chakkri năm 1809: Không nói gì đến nhiệm kỳ Tống trấn Gia Định thành thứ nhất (1812-1816) của Lê Văn Duyệt. Sai lầm về nhiệm kỳ Tống trấn Gia Định thành thứ hai (1820-1832) của “Vice Roi” [sic] Duyệt (Cours, 1877, II, pp 254-255)—dù ngày 16/7/1820, Duyệt Quận Công mới tới Gia Định thành, lĩnh ấn Tổng trấn.[13]

Petrus Key: Việc chọn Hoàng tử Đảm làm Thái tử; tai họa cho hai cựu thần Nguyễn Văn Thiềng và Lê Văn Duyệt. (Cours, 1875-1877, II, pp 254-255). Không đúng. Tả quân Duyệt lên đến tột đỉnh danh vọng, được quyền di chuyển với lực lượng thân binh hàng ngàn người, toàn quyền ứng xử với các lân bang Đông Nam Á.

Nguyễn Huệ (1753-13/11/1792) và nhà Tây Sơn (1778-17/7/1802) là một thí dụ tiêu biểu của lối viết sử một chiều trong khối sử văn cổ điển. Các tác giả thường chọn một phe để tái dựng giai đoạn lịch sử này, chẳng hạn, như “sử mệnh cách mạng của lao nông, tức thô thuyền và zân kày,” từng được Karl Marx thời trẻ gọi là ”bị khoai của cách mạng vô sản [bag of potatoes].” Những người đứng về phe nhà Thanh (Qing, 1644-1912) thường “hiếu đại”coi đây là một trong 10 võ công của Hoằng Lịch vì cuối cùng, “Nguyễn Quang Bình”—Nguyễn Huệ thực hay giả—cũng phải đích thân sang Nhiệt Hà [Johol] và Bắc Kinh [Beijing] làm lễ “bảo tất” [ôm đầu gối] Hoằng Lịch vào ngày thọ 80 tuổi—Một tiền lệ trong lịch sử bang giao hơn 7 thế kỷ giữa hai nước, mà chính Hoằng Lịch hai lần viết thành thơ, hay khắc vào mộ bia giả Nguyễn Quang Bình bên Hồ Tây Hà Nội năm 1793 (có lẽ đã mất tích, hay bị vua quan Nguyễn san bằng, theo luật được làm vua, thua làm giặc).

2. Nguyễn Phước Đảm, [Hiệu] (14/2/1820-20/1/1841) niên hiệu Minh Mạng.

Ngày 8/1/1822 [19/12 Tân Tị], sứ nhà Thanh Phan Cung Thần phong Nguyễn Phước Đảm chức Việt Nam quốc vương tại Hà Nội. (ĐNTLCB, II, XIII, 6:1822-1823, 1963:5)

Mất ngày 20/1/1841 (28/12 Canh Tí), thọ 50 tuổi. Có 142 con, 78 trai, 64 gái. (ĐNTLCB, II, CCXX, 22:1840-1841, 1969:388;  III, 23:1841-1842,  1970:30; ĐNCBLT, II, q  6, 7, 8 & 9 (1993), 3:82-152, 171-91) 

Petrus Key: Nguyễn Phước Đảm là người có bản chất “ác độc, lạnh lẽo, tối tăm và gian xảo” [nature méchante, froide, sombre et fausse]. (Cours, 1877[?], II, tr 260)

Vice Roi Nguyễn Văn Thiềng bị gọi về triều vì bức thơ giả mạo tuồng chữ con Thiềng, đóng dấu của Thiềng, cả hai cha con tự tử. (Cours, 1877, II, pp 257-270). Nhưng tư liệu Nguyễn bác bỏ luận cứ này. [Xem infra].

3. Nguyễn Phước Tuyền [Miên Tông, Dung] (11/2/1841-4/11/1847), niên hiệu Thiệu Trị.

Petrus Key: Tên húy Nguyễn Phước Thời (không đúng). Cô Hàng, Gò Công, sinh Hoàng Nhiệm (22/9/1829-19/7/1883). Cô là Đinh Thị Hạnh sinh Hoàng Bảo (1825-1854). (Cours, 1877, II, pp 272 [272-278]). Hoàng Bảo mưu làm loạn, bị chết,

Sử Nguyễn: Vợ Nguyễn Phước Tuyền là Phạm Thị Hằng (Từ Dụ, 10 [20]/6/1810 -22/5/1901); con Phạm Đăng Hưng, quê Gò Công, Định Tường/Gia Định. (ĐNLTCB, Nhị tập, q 2 & 3 (1993), 3:25-64). Sinh hai công chúa và Hường [Hồng, bộ nhân đứng] Nhiệm, tức Tự Đức.

1/3/1842: Nguyễn Phước Tuyền rời kinh đô ra Bắc. Cho An Phong đình hầu Hường Bảo (29/4/1825-1-2/1854), 18 tuổi, làm Lưu kinh. Có Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên, Lê Văn Phú, Tôn Thất Bạch phụ tá.

 Đây là theo ý Thái hoàng Thái hậu, bà nội vua. Nguyễn Phước Tuyền muốn cho Hoàng tử thứ hai là Hường Nhiệm làm lưu kinh, vì "Hường Bảo tuy tuổi đã lớn, nhưng không có học, kiến văn hẹp hòi, e khó làm xong công việc." Bởi thế, mang mẹ con Hường Nhiệm theo. Hộ giá có Trương Đăng Quế. (ĐNTLCB, III, XV,  24:1842-1844, 1971:20-22, 25; ĐNCBLT, II)

Sứ nhà Thanh Bảo Thanh phong Nguyễn Phước Tuyền tước Việt Nam Quốc Vương tại Hà Nội ngày 7/5/1842. (ĐNTLCB, III, XVIII, 24:1842-1844, 1971:91, 95-6, 98)  

25/10/1847 [17/9 Đinh Mùi]: Nguyễn Phước Tuyền bí mật lập "di chiếu" đưa Phước Tuy Công Hường Nhiệm lên ngôi. Gọi bốn [4] đại thần là Trương Đăng Quế (1794-1865), Võ Văn Giải (chết 1853), Nguyễn Tri Phương (1800-1873) và Lâm Duy Thiệp [Hiệp] đến bên giường bệnh, cho biết muốn lập con thứ hai là Nhiệm thay vì con trưởng, An Phong Công Hường Bảo. “Hường Bảo tuy lớn, nhưng là con vợ thứ, mà lại ngu độn, ít học, chỉ ham vui chơi, không thể để cho kế thừa nghiệp lớn được.” Ngoài triều đình không ai hay biết. [Di chiếu không đề ngày] (ĐNTLCB, III, LXXII, 26:1846-1848, 1972:389, 392; Ibid., IV, I, 27:1848-1854, 1973:32-3)

Hai hoàng tử của Nguyễn Phước Tuyền lên ngôi vua là Nguyễn Phước Thời (10/11/1847-19/7/1883), và Nguyễn Phước Thăng (30/7-29/11/1883), niên hiệu Hiệp Hòa, Tất cả những vua cuối triều Nguyễn đều là dòng giõi Nguyễn Phước Tuyền và Thái hậu Từ Dũ; nên có miếu hiệu Hiến Tổ.

Petrus Key không viết gì về việc này vì Cours d’histoire annamite hoàn tất năm 1875-1877.

4. Nguyễn Phước Thời (10/11/1847-19/7/1883), niên hiệu Tự Đức.

Petrus Key: Nguyễn Phước Thời khiến “le sang a recommencé de couler.” (Cours, 1877, II, pp 270-272).

Nhận ban phong của Hoàng đế [recus l’investiture impériale] tại Huế. (Cours, 1877, II, pp 272 [272-278]).

Ngày 8/9/1849 [22/7 Kỷ Dậu];: Sứ Thanh Lao Sùng Quang, án sát Quảng Tây, làm lễ phong Nguyễn Phước Thời tước Việt Nam Quốc Vương tại Huế.[14]

Có thể vì chỉ dịch cổ tích an-nam-mit sang chữ pha-lang-sa, Petrus Key chẳng bận tâm gì về các sử liệu như tổ chức hành chính, dân số, các giai tầng xã hội, hay số cống lễ hàng năm nộp cho hoàng đế Thanh [năm 1804, 200 lạng vàng tốt, 1,000 lạng bạc, 100 tấm lụa, 100 tấm the, 2 tòa sừng tê, 2 tòa ngà voi, 100 cân nhục quế; ĐNTLCB, I, XXIII, 3:1802-1809, 1963:157-160] Đòi hỏi cống tượng người vàng bạc và số lượng quí kim khổng lồ đời Minh được bỏ dưới triều Nguyễn Huệ.

 

 

VỤ ÁN TỐNG THỊ QUYÊN-HOÀNG TÔN ĐÁN

 

Mới đây khi hiệu đính hai cuốn Việt Nam Niên Biểu, Tập II-A: Các tôn giáo và II-B: Các tổ chức chính trị tôi có dịp duyệt xét lại vài chi tiết trong tập Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse Cochin-chine [Bài học sử ký An-nam-mít dùng cho các trường ở Nam Kỳ thấp] (2 tập, Sài Gòn: 1875-1877[1879]) của Petrus Key.

Trong tập Cours d’histoire annamite nói trên, Petrus Key thuật lại rằng theo lời đồn vua Nguyễn Phước Đởm “đi lại” với chị dâu góa (tức Tống Thị Quyên, vợ Thái tử Cảnh), khi chị có thai, bèn kết tội lăng chạ và ghép án tử hình, chết chung với hai đứa con trai [Hoàng tôn Đán tức Mỹ Đường, và Mỹ Thùy]. Lại còn phụ chú rằng vua cho chọn “tam ban triều điển”: tự tử bằng thuốc độc, thắt cổ, hoặc dao găm.

[Son frère Cảnh était mort, laissant deux fils; leur perte fut résolu. Minh Mang, dit-on, eut des relations avec la veuve de son frère et la rendit enceinte. Quand la grossesse fut apparante, il l’a condamné à mort pour inceste, elle et ses deux fils, ses deux propres neveux. Il leur accorda cependant la faveur de choix du genre de mort. (1)

___

1. Cette faveur, appelé tam ban triều điển, consiste à envoyer au condamné priviligé trois engins de destruction: (1) trois mètres de soie rose pour s’étrangler ou se prendre; (2) un verre de poison pour boire; (3) un sabre pour se couper la gorge. (Cours, 1877[?], II, pp 259-60)]

Petrus Key nhận xét rằng đây là một “tội ác.”

Mặc dù Trần Trọng Kim đã bài bác tin đồn (dit-on) này (VNSL, II:187), một số nhà truyền giáo vẫn sao chép lại, và dời ngày Hoàng tôn Đán bị giết từ 1824 tới 1835.[15] Năm 1993, “Bảy” Trấn lập lại nguyên vẹn chi tiết “loạn luân” và “giết người bịt miệng” trong biên khảo về Petrus Ký “con người và sự thật.” (1993,tr. 51).

Trước hết, theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên và Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, của Quốc sử quán triều Nguyễn chỉ có Tống Thị Quyên, vợ góa Thái tử Cảnh, bị dìm nước chết năm 1824-1825 (Giáp Thân), không phải đặc ân tam ban triều điển. Người thi hành án là chính Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt mới ra Huế dự thượng thọ của Hoàng Thái hậu, mẹ sinh Nguyễn Phước Đảm với đoàn hộ tống hàng ngàn lính. Thái giám Duyệt là nhân vật được các giáo sĩ mô tả và Petrus Key vẹt nhái theo như chống lại Nguyễn Phước Đảm, ủng hộ Hoàng tôn Đán. Sử nhà Nguyễn đáng tin hơn: Hoàng tôn Đán [mới bị đổi tên thành Mỹ Đường năm 1823] bị phế làm thứ dân, dời nhà khỏi Hoàng thành từ tháng 1-2/1825 [12 Giáp Thân], cấm không được vào chầu, và giám thị chặt chẽ. Thực tế, Nguyễn Phước Đảm không “thủ tiêu” Đán như Petrus Key và các giáo sĩ tung tin đồn. Mỹ Đường còn bị đặt trong tình trạng giám sát thường xuyên, và năm 1849 mới chết giữa lúc kinh đô bị bệnh thời khí.[16] 

Em Đán là Thái Bình Công Mỹ Thùy chết “bệnh” tháng 8-9/1826 [tháng Bảy Bính Tuất], khi đang bị quân lính kiện. Tháng 9-10/1826 [Tám Bính Tuất], Nguyễn Phước Đảm cho Lệ Chung, con Mỹ Đường, mới 6 tuổi, được tước Ứng Hòa hầu để giữ hương hỏa Thái tử Cảnh.[17]

Khi sơ thảo cuốn Các vua cuối nhà Nguyễn, tôi đã sử dụng tài liệu của các nhà truyền giáo. Nay xin viết rõ lại, và hy vọng độc giả chưa có phần “Đính chính” sửa chữa giúp ấn bản năm 1999 (tập I) như sau:

tr. 52, dòng 8-9: “Việc Minh Mạng giết chết mẹ ruột Đán là Tống Thị Quyên rồi biếm Mỹ Đường làm thường dân vào năm 1824 . . . .”

tr. 57, dòng 17-19: “Bởi thế sau khi giết Tống thị (vợ Cảnh) và biếm Hoàng tôn Đán làm thường dân, ngày 12/2/1825, vua mật chỉ cho Tổng Đốc Quảng Nam:”

 

VỤ ÁN NGUYỄN VĂN THÀNH (1758-1817)

 

Nhân đây cũng bàn thêm việc liên quan giữa vụ án Nguyễn Văn Thành cùng cuộc tranh chấp ngôi vua giữa Hoàng tôn Đán (?-1849, cháu đích tôn Nguyễn Phước Chủng) và Hoàng tử Hiệu—em thứ tư, khác mẹ của Thái tử Cảnh—tức vua Nguyễn Phước Đảm.

Petrus Key và các giáo sĩ chép rằng “Nguyễn Văn Thiềng” [Thành] “Phó vương (Vice Roi) ở Bắc Kỳ” bị Nguyễn Phước Đởm giết vì một bức thơ giả mang dấu ấn của Thiềng. Lê Văn Duyệt “ngán ngẫm” trước cảnh này, xin vào Gia Định đánh giặc. (Cours, 1877[?], II, tr. 261; Trấn 1993, tr. 51-52).

Câu chuyện “cổ tích” mà Petrus Key chép bằng tiếng “Pha Lang Sa” để “kiếng” cho “học trò các trường đất Nam kì” trên  dĩ nhiên, khác xa với sử liệu Nguyễn. Cuộc thanh trừng phe ủng hộ Hoàng tôn Đán (như cha con Nguyễn Văn Thành) xảy ra dưới triều Nguyễn Phước Chủng. Lê Văn Duyệt, Phạm Đăng Hưng và Nguyễn Hữu Nghi thủ diễn vai trò quan trọng trong cuộc thanh trừng này. Ba năm sau, khi Nguyễn Phước Chủng ốm nặng, ngày 18/1/1820, hai người được chọn để nhận di chiếu cho Nguyễn Phước Đảm nối ngôi là Phạm Đăng Hưng (nhạc phụ của Nguyễn Phước Tuyền) và Tả quân Lê Văn Duyệt, kiêm nhiệm chưởng phủ ngũ quân.[18] 

Sau khi lên ngôi ngày 3/2/1820, để thưởng công Lê Văn Duyệt, Nguyễn Phước Đảm cử Tả quân Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành lần thứ hai từ tháng 6-7/1820. Ngày 28/8/1820, “Duyệt Quận công. Chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân, kiêm giám Thần sách quân” viết sớ tâu đã tới Gia Định thành.” Nguyễn Phước Đảm châu phê: “Khanh đi đường được bình an. Rất hay.”[19]

Petrus Key và các giáo sĩ, với thành kiến tiên thiên các vua nhà Nguyễn thuộc loại “ác quỉ”—hung dữ và ác độc chống đạo Ki-tô—muốn hậu thế tin rằng Nguyễn Phước Đảm tru diệt công thần, dòng dõi họ Lê và tất cả những người chống đối để bảo vệ ngôi báu. Bởi thế, Petrus Key cho Lê Văn Duyệt “chứng kiến tận mắt” cảnh Nguyễn Phước Đảm bầy kế lấy trộm ấn “Phó vương (Vice Roi) Bắc Kỳ” của Chưởng Trung quân “Nguyễn Văn Thiềng” [Thành] rồi viết ra một thư giả nhân danh Thiềng và các con kêu gọi dân chúng làm loạn, hầu lấy cớ giết hại cha con “Thiềng.” Phần Lê Văn Duyệt, nhờ may mắn hơn, tìm thấy kẻ ăn trộm ấn của mình nên thoát chết, chỉ bị gửi vào Gia định thành để dẹp loạn. (Cours, 1877 [?],II:260-61; Trấn 1993, tr. 51-52)

Trong hơn một trang “sử” nhằm chứng minh “bản chất gian ác” của vua Nguyễn Phước Đảm trên chỉ có một nửa sự kiện xảy ra: Đó là việc Tả quân Duyệt bị mất trộm ấn năm 1816. Còn lại, hoàn toàn sai lạc.

Thứ nhất, khi xảy ra vụ án Nguyễn Văn Thành (kéo dài từ năm 1815 tới 1817), Nguyễn Phước Đảm chưa lên làm vua; và thực ra chỉ được phong Thái tử năm 1816, và đổi tên từ Hiệu sang Đảm. (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập I, tr. 83n38)

Thứ hai, Nguyễn Văn Thành hay Lê Văn Duyệt chẳng bao giờ được tước “Vice Roi” [Phó vương] (ngay từ năm 1886, Paul Bert đã từng chất vấn Petrus Key về việc này)—dù có thể liên quan đến kế hoạch chiêu hồi Nguyễn Phước Minh. (Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 72-23)

Thứ ba, Nguyễn Văn Thành, cựu Tổng trấn Bắc thành, đã rời Hà Nội từ năm 1810, sau khi mang quan tài mẹ về Huế chôn cất. Sau đó được giao việc biên soạn Bộ luật Gia Long, và rồi giữ chức Chưởng Trung quân, tức cầm đầu quân đội. Như thế, không thể có việc Nguyễn Văn Thành bị trộm ấn tín “Vice Roi” để đóng vào lá thư giả kêu gọi làm loạn nào đó.

Thứ tư, theo sử nhà Nguyễn, vụ án Nguyễn Văn Thành khởi sự từ một bài thơ của con Nguyễn Văn Thành, tức Cử nhân Nguyễn Văn Thuyên (khóa 1813). Sau đó, đến việc Lê Duy Hoán, người giữ hương hỏa nhà Lê, khai rằng từng nhận được thơ Thuyên xúi làm loạn. Lê Văn Duyệt chứng kiến tận mắt vụ án này không phải trong cảnh đồng hội, đồng thuyền với Nguyễn Văn Thành, mà là người chủ chốt (cùng với Phạm Đăng Hưng và Nguyễn Hữu Nghi) buộc Nguyễn Văn Thành vào tội chết. [Xem phần sau]

Thứ năm, việc mất ấn Tả quân (mà không phải ấn “Vice Roi”) của Lê Văn Duyệt năm 1816 có liên quan đến vụ án Nguyễn Văn Thành. Người ăn cắp ấn, một tên Hựu nào đó, khai rằng Nguyễn Văn Thành cho y 30 lạng bạc, xin làm tôi tớ Lê Văn Duyệt để làm bậy; Duyệt tâu lên Nguyễn Phước Chủng, nhưng vua bỏ qua vì không đủ chứng cớ, chỉ giết Hựu.[20]

Thứ sáu, sau khi kết thúc vụ án Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt được cử ra vùng Nghệ An-Hà Tĩnh dẹp giặc, không được trở lại Gia Định thành như Petrus Key viết. Chưởng hữu quân Nguyễn Văn Nhân vẫn giữ ấn Tổng trấn Gia Định.[21]

 Thứ bảy, tháng 1/1820, Phạm Đăng Hưng và Lê Văn Duyệt được đón nhận di chiếu lập Thái tử Đảm lên ngôi. Lê Văn Duyệt còn được giao nắm ngũ quân thần sách để bảo đảm an ninh kinh thành.[22]

Thứ tám, sau khi Nguyễn Phước Đảm lên ngôi, tháng 6-7/1820 Lê Văn Duyệt mới được cử làm Tổng trấn Gia Định lần thứ hai, với toàn quyền hành động để dẹp loạn Sư Kế ở Chân Lạp, đồng thời đề phòng Xiêm La.

Đưa ra 8 lỗi lầm của Petrus Key trong hai trang cổ tích bằng tiếng Pháp, chúng tôi không muốn “đạp một cánh cửa mở rộng để bước vào nhà.” Chẳng người học sử nào dám tự hào mình không phạm lỗi lầm về kỹ thuật hoặc dữ kiện. Hơn nữa, một trăm bốn mươi năm trước, Petrus Key không có khoảng cách thời gian vừa phải để sưu tra và so sánh các tư liệu. Petrus Key cũng không phải là một sử gia chuyên nghiệp (dù tự xưng là “historien fidèle et consciencieux”), và chỉ viết những bài học “sử” trên do nhu cầu dạy tiếng Pháp, tuyên dương công ơn nước Pháp tại Nam Kỳ và thủ tiêu quốc thống Việt Nam theo lệnh chủ Pha Lang Sa.

Sở dĩ phải lạm bàn về sự sai lầm của Petrus Key vì đây không phải là những sai lầm thuần kỹ thuật hoặc thiếu tư liệu (chỉ nội tập II đã có vài trăm lỗi kỹ thuật về ngày tháng, sử kiện), mà đôi chỗ đã sai lầm đầy chủ ý. Petrus Key chép việc “Minh Mạng” ám hại công thần hoặc nhà vua thông dâm với chị dâu và giết hại hai cháu ruột, chỉ nhắm mục đích chứng minh hoặc tố cáo bản chất gian ác [sa nature perverse] của vua thứ hai triều Nguyễn, người nổi danh là đàn áp Ki-tô giáo. (II:260)

Để tìm hiểu sự thù ghét giữa Nguyễn Phước Đảm và các nhà truyền giáo, cần lược duyệt lại giai đoạn từ khi nhà Tây Sơn (1778-1802) tiêu diệt chúa Nguyễn ([1558] 1600-1777), làm chủ Đàng Trong.

Từ năm 1777, sau khi hai chúa Nguyễn cuối cùng bị Tây Sơn giết hại ở Gia Định, Giám Mục Pierre J G Pigneau (Bá Đa Lộc) đã quyết định ủng hộ Hoàng thân Nguyễn Ánh (tức Chủng) chống Tây Sơn. Mục đích chính của Pi-Nhô nhằm cải thiện liên hệ với giới cầm quyển, vì cả Đường Ngoài và Đường Trong đều bài đạo.[23]

Theo tài liệu Ki-tô—chưa hẳn trung thực và khả tín—từ cuối năm 1777 giáo mục Paul Hồ Văn Nghị đã phát hiện ra tông tích Nguyễn Chủng trên đường đào tẩu tại Cà Mau bùn lầy, nước đọng như Chà Là, Giá Ngựa [hay Ngự], cùng các hoang đảo, giang sơn của hải tặc đủ chủng tộc.

Đích thân đặc sứ toàn quyền Pi-Nhô dịch qua tiếng Pháp thư của Nguyễn Ánh gửi Louis XVI, và giấy ủy quyền của Hoàng tộc Nguyễn, cho Pi-Nhô toàn quyền xin quân viện của “vua rất ngoan đạo” Louis XVI, và đề nghị cắt đất, hải đảo và cửa biển cho vua Phú Lãng Sa. Pi-Nhô còn mang theo ấn tín và nhất là một con tin—Hoàng trưởng tử Nguyễn Cảnh (6/4/1780-20/3/1801), vừa tròn bảy tuổi, nhưng đã được Pi-Nhô huấn luyện kỹ càng suốt ba năm từ Kamboja tới Pondichery, rồi Paris.[24] 

Sự xuất hiện của  Hoàng tử Cảnh và Pigneau tại Pháp khiến Đại sứ Thomas Jefferson (1743-1826) của Mỹ chú ý đến “gạo” của Cochinchine. [1789, Ngoại trưởng; từ chức ngày 31/12/1793. 1796: Phó TT. 1801: Đắc cử TT. 1804: Tái đắc cử].

Ngày 21-28/11/1787, Pi-Nhô, đại diện Nguyễn Ánh, “vua Đường Trong [Cochin-Chine] mất nước,” ký với Ngoại trưởng Armand-Marc de Montmorin-St-Hérem [Ác-măng đờ Mông-mô-ranh Sanh Ê-rem] (2/1787-7/1789) một Hoà ước “Liên Minh phòng thủ và tấn công.” Đợt thứ nhất ngày 21/11/1947, gồm 10 điều: Vua [Phú Lãng Sa, France, Louis XVI] rất sùng đạo Ki-tô  hứa cung cấp cho Nguyễn Ánh, bốn [4] chiến hạm, 1200 lính, 200 pháo thủ, 250 lính da đen [điều 2]. Nguyễn Ánh cắt cho  Vua rất sùng đạo Ki-tô  bán đảo Touron [điều 3], đảo Côn Lôn [Pulau Condore], [điều 5],tất cả những cửa biển Vua rất sùng đạo Ki-tô  muốn, [điều 6], thần dân Vua rất sùng đạo Ki-tô  được tự do di chuyển, [điều 7]. Hai bên có một năm để phê chuẩn [điều 10].

Phụ ước số 1 ghi rõ bốn [4] tàu hạng trung [frégates], hai [2] tàu vận tải; mười [10] đại bác 1-4 livres,  hai [2] khẩu  đại bác 8 livres,  bốn [4] khẩu obus [cối, hay phóng lực], quân nhu đạn dược cần thiết, một lều vải, 1000 súng  để thay thế, lương ăn cho 2000 người trong vòng một năm. Phụ ước số 2 ghi Nguyễn Ánh phải bồi hoàn số chiến phí sơ khởi.

Ngày 28/11/1787, ký thêm Phụ khoản riêng [thứ 11]: Vua rất sùng đạo Ki-tô  có toàn quyền trên những vùng đất cắt nhượng, và hứa không chứa chấp phần tử phạm pháp của họ Nguyễn [giống như quyền tài phán của Bri-tên sau này].[25]

Tuy nhiên, Paris và các viên chức thuộc địa không thi hành những điều khoản ký kết. Chỉ có một nhóm lính đánh thuê Pháp theo Pi-Nhô  qua Sài Gòn, tham gia đạo quân Lê dương đủ quốc tịch của Nguyễn ”An Nam Quốc Vương,” với niên hiệu Cảnh Hưng của Lê Duy Diêu. Mãi tới cuối thập niên 1810, Paris mới tái khám phá “Onam,” nhưng Nguyễn Chủng và rồi Nguyễn Phước Đảm từ chối thông thương, cự tuyệt mọi đòi hỏi thực thi Hiệp ước Versailles [Vec-say-ơ] mà Nguyễn Chủng đã chính thức bác bỏ qua thư gửi vua Phú Lãng Sa ngày 31/1/1790.[26]

Nghệ thuật huấn luyện của Pigneau và các công đồng Ki-tô giáo hữu hiệu đến độ ngày trở lại Gia Định thành năm 1789,  Hoàng tử Cảnh từ chối quì lạy trước ban thờ tổ tiên, hé mở cho các hoàng tử khác cơ hội tranh giành ngôi vua.  Khi bàn luận về nhu cầu huấn luyện thông ngôn ngoại ngữ, Nguyễn Phước Đảm còn nhắc đến kinh nghiệm Cảnh không chịu quì lạy tổ tiên. Năm 1857, khi ra điều trần trước Ủy Ban Cochinchine ở Paris, một giáo sĩ “Tây” tuyên bố rằng có thể Nguyễn Phước Chủng đã giết Thái tử Cảnh.

Họ Nguyễn từng mở mang và cai trị Đường Trong hơn hai trăm năm, chiến thắng của Tây Sơn năm 1777 chưa là chiến thắng cuối cùng. Thành viên họ Nguyễn rất đông, rải rác từ Thuận Hóa ra Thanh Hóa (Nguyễn Hựu), và còn ngược lên Cao Bằng (Nguyễn Hựu và Bế).

Vì sứ đoàn Pigneau chưa thể về Pháp trước năm 1787, trong khi quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, các đặc sứ Nguyễn Xuân, Mạc Thiên Tứ, rồi Doãn Ngạnh (Chu Văn Tiếp), và chính bản thân “Chiêu Nam Cốc” Nguyễn Chủng tìm đến Krung thêp/Bangkok, kinh đô Xiêm La (Thái Lan từ năm 1938), gọi Rama I là cha, cống hiến hoa vàng, hoa bạc và đất  Hà Tiên, thừa nhận bá quyền Xiêm La Hộc tại các tiểu quốc Ai Lao và Chân Lạp để xin viện quân. Nguyễn Chủng còn biệt phái Nguyễn Văn Thành đi “làm ăn” theo hải tặc Tàu và Xiêm. Những người từng tham khảo Đại Nam Thực Lục hẳn không thể không chú ý đến những cựu hải tặc Hoa như Hoàng Trung Đồng—chấp nhận ngồi tù hơn đi công tác cho triều Huế.

Năm 1827, Tổng trấn Lê Văn Duyệt còn nhận chuyển về Huế hàng chục bản sao thư từ của Nguyễn Chủng gửi các giáo sĩ trong thời gian hoạn nạn—xin tiếp tế lương thực, kể lể về các trận đánh quan trọng trong hai năm 1787-1788, hay dò hỏi dấu tích Hoàng tử Cảnh cùng Pi-Nhô—tạo nên tin đồn Tả quân Duyệt chống đối việc lập Nguyễn Phước Đảm, ít nhiều gây nên việc đổi tên Nguyễn Hựu Khôi thành “Lê Văn” Khôi, để trừng trị một cựu công thần “đuôi to khó vẫy.”

Mặc dù không ưa đạo Ki-tô, sau khi Pigneau chết (1799), Nguyễn Phước Chủng vẫn cho các giáo sĩ tự do hoạt động. Nhưng giáo sĩ Pháp chưa thỏa mãn. Ra công vận động, giúp tài lực (cho Nguyễn Chủng vay 270,000 đồng Mexico), nhân lực (tuyển mộ lính đánh thuê Tây phương, đặc biệt là Pháp), và khí giới cùng tàu chiến đưa Nguyễn Chủng lên ngôi, họ muốn vua phải trả ơn bằng cách bỏ lệnh cấm đạo, trọng đãi giáo dân Ki-tô. Nhưng từ thập niên 1790, Nguyễn Chủng đã bắt đầu “về nguồn,” chấn hưng Khổng giáo, xây văn miếu, mở khoa thi lấy người cai trị, đích thân làm lễ tế Xuân, Thu. Vua thường chê bai thuyết thiên đường-địa ngục của Ki-tô giáo “khiến kẻ ngu phu ngu phụ chạy vạy như điên, tiêm nhiễm thành quen, mê mà không biết.” Lên ngôi vua ở Huế chưa đầy hai năm, ngày 4/3/1804, từ Thanh Hoa, vua ban chỉ dụ “Từ nay về sau, dân các tổng xã nào có nhà thờ Gia tô đổ nát thì phải trình quan trấn mới được tu bổ, dựng nhà thờ mới thì đều cấm.” Nếu vi phạm, xã trưởng phải bị đầy đi xứ xa, dân sung làm dịch phu, nhẹ thì đánh roi hay trượng, “để bớt tổn phí cho dân, mà giữ phong tục thuần hậu.”[27]

Vì 60 tập Đệ nhất kỷ của  ĐNTLCB chỉ hoàn tất dưới triều Nguyễn Phước Tuyền và Nguyễn Phước Thời, khó thể không tra vấn về liên hệ giữa luật hương đảng 1804 và luận cứ bài đạo từ triều Nguyễn Phước Đảm về sau. Tất cả các tôn giáo và giả tôn giáo ở Việt Nam đều du nhập từ nước ngoài. Nguyễn Phước Chủng đã bật đèn xanh, hay con cháu tỉm cách biện minh cho tinh thần bài ngoại và chống Ki-tô bằng ý chí cha, ông? Huấn dụ 1804 và Thánh Dụ thập điều 1836 của Nguyễn Phước Đảm—được Nguyễn Phước Thời dịch qua chữ Nôm sau khi mất trọn sáu tỉnh Nam Kỳ—hẳn có liên hệ nhân quả.

Thất vọng về Chủng, các giáo sĩ nuôi tham vọng đầu tư vào con Thái tử Cảnh (đã chết vì bệnh đậu mùa năm 1801), tức Hoàng tôn Đán (Mỹ Đường), và công khai chống lại Hoàng tử Hiệu, người được sự yểm trợ của phe nho sĩ bảo thủ trong triều (như Phạm Đăng Hưng, Thượng thư Bộ Lễ, hay Đậng Đức Siêu, tác giả thuyết mệnh trời của nhà Lê đả bị mất vào tay Tây Sơn, Nguyễn Phước Chủng đã hưng sư diệt loạn, khởi đầu thiên mệnh mới—nên ngày 1/6/1802, xưng vương, đặt niên hiệu mới, trước khi mang quân ra Bắc diệt Nguyễn Quang Toản).

Trong số những người ủng hộ Hoàng tôn Đán có Nguyễn Văn Thành (1758-1817). Thành, gốc Thừa Thiên, sau tổ tiên rời vào Gia Định. Trước theo cha chống Tây Sơn ở Sông Cầu. Từng theo Nguyễn Chủng qua Xiêm La, giúp quân Xiêm đánh thắng Miến Điện. Sau khi trốn từ Bangkok về Nam Kỳ, từng được phái đi tiếp xúc hải tặc người Hoa là Hà Hỷ Văn, theo Văn đi đánh cướp một thời gian. Năm 1802, đứng đầu sổ công thần, được phong chức Tổng trấn Bắc thành. Tháng 2-3/1810, nhân mẹ chết, mang quan tài về Huế, được giao soạn lại luật pháp (tức Luật Gia Long, nhưng sau bị lấy tên ra), rồi nắm giữ binh lực (Chưởng Trung quân).[28]

Quyền cao, chức trọng, Thành không lo bảo vệ tính mạng, lại xen vào việc phế lập, nhiều lần xin vua lập Thái tử, và nhấn mạnh vào vấn đề chính thống, tức muốn lập dòng trưởng. Nguyễn Phước Chủng chưa có quyết định dứt khoát vì chính phi (mẹ Thái tử Cảnh) còn sống, và vua nghi ngờ Thành có dụng tâm. Một lần vua giận nói:

Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng, vỗ lưng chăng? Ta há tối tăm lầm lẫn, không biết đắn đo nên chẳng, vội nghe lời hắn mà không vì xã tắc chọn người sao?

Từ đó hễ vào chầu Thành chỉ xin dựng Thái tử. Vua nín lặng. Thành biết vua không vừa ý, lòng sinh ngờ sợ.

Số phận của Thành và nhóm phò Hoàng tôn Đán bắt đầu xuống dốc từ sau cái chết của Tống Hoàng hậu vào tháng 2-3/1814. Nguyễn Phước Chủng cho Hoàng tử Hiệu làm chủ tế với danh vị con nuôi của Hoàng hậu. Thành cực lực phản đối, nêu lý do Hoàng tôn Đán (thuộc dòng trưởng) làm chủ tế mới phải đạo. Vua không đổi ý, nói con theo mệnh cha để tế mẹ là việc danh chính, ngôn thuận, có gì mà không nên. Thành có ý không bằng lòng.[29] 

Tháng 3-4/1815, Nguyễn Phước Chủng triệu Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt từ tháng 8-9/1812, Thống chế Trần Văn Năng, Lê Chất, v.. v... về kinh. Nhưng có tin quân Xiêm tiến đánh Lào, vua giữ Duyệt, và Năng tại Gia Định. Tháng 7-8/1815, Duyệt mới về tới kinh.[30] Tháng 1-2/1816, Huỳnh Châu [Nguyễn Huỳnh Đức] được cử làm Tổng trấn Gia Định. Tháng 10-11/1819, Châu chết, Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân thay.[31]

Tháng 12/1815-1/1816  Nguyễn Phước Chủng hạ ngục Nguyễn Văn Thuyên, con Nguyễn Văn Thành. Thuyên bị nghi có lòng mưu phản, chiêu tập hào khách. Có người khách cũ là Nguyễn Trương Hiệu tố cáo với Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Hữu Nghi rằng Thuyên muốn nổi loạn, từng sai Hiệu mang thơ thi mời gọi bọn Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, lời lễ rất bội nghịch.

Thơ rằng:

Văn đạo Ái châu đa tuấn kiệt

[Nghe nói đất Ái châu nhiều tuấn kiệt]

Hư hoài trắc tịch dục cầu ti

[Ta để dành chiếu trống bên cạnh đợi chờ]

Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác

[Vô tâm ôm mãi ngọc Kinh sơn]

Thiện tướng phưong tri Ký bắc kỳ

[Tướng tài mới biết ngựa ký đất bắc]

U cốc hữu hương thiên lý viễn

[Hương thơm trong u cốc cũng lan ra ngàn phương]

Cao cương minh phượng cửu cao tri

[Phượng gáy trên gò cao vang chín chằm]

Thử hồi nhuợc đắc trung sơn tể

[Ví thử tìm được tay tể [tướng] trong hang núi]

Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.

[Giúp ta ra tay chuyển cơ trời]

Nghi khuyên Hiệu mang bài thơ tố cáo với Lê Văn Duyệt. Duyệt vốn không ưa Thành, nộp cho Nguyễn Phước Chủng. Vua thoạt tiên chưa muốn tra cứu.

Tay chân Lê Văn Duyệt bèn xúi Hiệu dùng bài thơ trên làm tiền Thuyên. Thuyên phải ký giấy nợ với Hiệu. Có lần Hiệu còn chặn đường Nguyễn Văn Thành đưa giấy nợ của Thuyên đòi tiền. Thành bèn cho bắt cả Hiệu và Thuyên, giao sang phủ Quảng Đức tra hỏi, rồi đích thân trình bày sự việc lên Nguyễn Phước Chủng. Vua cho đình thần bàn nghị.

Hiệu viện dẫn môn khách của Thuyên là Đỗ Văn Chương làm chứng, nhưng Chương đã bỏ vào Gia Định. Vua bèn tha Thuyên, và cho lệnh bắt Chương về Kinh đối chất.[32]

Tháng 2-3/1816 Ký lục Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa hạch tội Nguyễn Văn Thành, nhưng Tham tri Hình bộ Võ Trinh bênh vực, nên vua tạm gác.[33] Dẫu vậy Nguyễn Phước Chủng bắt đầu chán ghét Thành. Sau lễ Nam Giao, không cho vào chầu nữa. Hai người trong phe Thành là Tham tri bộ Hình Võ Trinh và Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn cũng bị hạ ngục vì tội xúi người “làm chứng gian” rằng Hiệu vốn là tịch sĩ của Nguyễn Hữu Nghi, với ý bênh vực Thuyên.[34]

Qua tháng 3-4/1816, Nguyễn Phước Chủng quyết định lập Hoàng tử Hiệu (1791-1841) làm Thái tử.[35] Tháng sau, Phạm Đăng Hưng (cha vợ công tử Dung, tức Nguyễn Phước Tuyền) hỏi cung Đỗ Văn Chương, Chương xác nhận lời khai của Hiệu, nhưng Thuyên chưa nhận tội. Nguyễn Phước Chủng bèn giao Thuyên cho Lê Văn Duyệt tra hỏi, Thuyên mới chịu nhận.

Nguyễn Văn Thành cũng dâng sớ xin chịu tội. Tháng 4-5/1816, vua hạ lệnh tống giam Thuyên vào ngục, nhưng chỉ thu ấn Chưởng Trung quân của Thành. Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân tạm lãnh ấn Chưởng Trung quân, cho đến ngày Trương Tấn Bửu chính thức thay Thành.[36]

Sau khi Hoàng tử Hiệu được cử làm Thái tử triều đình bắt đầu luận tội hai cha con Thành.[37]

Tư thù giữa Thành với Lê Văn Duyệt và Lê Chất có thể ảnh hưởng phần nào. Tháng 11-12/1816, bỗng xảy ra vụ Duyệt bị mất ấn Tả quân. Thủ phạm ăn cắp ấn tự nhận do Nguyễn Văn Thành xúi bẩy. Vua không tin.[38]

Cuối năm 1816, Nguyễn Phước Chủng cho lệnh bắt Lê Duy Hoán vì tội mưu phản. Khi Hoán bị dẫn giải về Huế, quan chức Bộ Hình “lấy cung thêm.” Hoán khai rằng Thuyên từng gửi thư cho Hoán, xúi làm phản.[39] Thuyên cố chối tội, nhưng Lê Văn Duyệt làm cho Thuyên phải nhận.

Tháng 12/1816-1/1817 (12 Ất Hợi), Lê Văn Duyệt làm án con Nguyễn Văn Thành. Tháng 6-7/1817, Thành và các con bị tống giam; vì tội mưu phản với Lê Duy Hoán. Mặc dù quyết không nhận tội, Thành uống thuốc độc tự tử, chỉ để lại một tờ biểu minh oan. Đọc xong tờ biểu, Nguyễn Phước Chủng òa khóc, dụ rằng: “Văn Thành từ lúc trẻ theo trẫm vất vả, có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được, ấy là trẫm kém đức.” Rồi cho chôn cất tử tế. Thuyên và Lê Duy Hoán bị làm án chém. Hiệu được thưởng 500 quan tiền.[40]

Các con Thành đều được tha. Riêng Nguyễn Văn Hàm năm 1833 theo Phó vệ úy Nguyễn Hựu Khôi làm loạn, chỉ huy lực lượng Ki-tô giáo ở Sài Gòn (Phiên An). Vì thế con cháu Thành đều bị truy giết. Mãi tới tháng 4-5/1848, Đông các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn xin Nguyễn Phước Thời ban ơn cho Tôn Thất Lệ Chung, cháu nội Thái tử Cảnh. Rồi xin ban ơn cho dòng giõi Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Lê Chất nên tháng 8-9/1848 Nguyễn Phước Thời cho con Thành là Loại làm chủ quân Cai đội.[41]

Tóm lại, những vụ án Nguyễn Văn Thành hay Tống Thị Quyên-Hoàng tôn Đán chỉ là cái cớ cho các giáo sĩ sử dụng để đả kích Nguyễn Phước Đảm, bất chấp sự thực. Sau khi Thái tử Đảm được ấn phong ngày 5/7/1816, các giáo sĩ và giáo dân công khai chống lại. Không những tung tin Nguyễn Phước Chủng giết chết Thái tử Cảnh (như lời chứng của Giám mục Pellerin trước Ủy Ban Cochinchine ở Paris vào tháng 5/1857), họ còn cáo buộc Nguyễn Phước Đảm đã “soán ngôi” cháu. Cái chết của cha con Thành năm 1817 được bịa đặt là xảy ra dưới triều Nguyễn Phước Đảm. Cuộc thảm sát Tống thị Quyên, vợ Cảnh, năm 1824 và biếm Mỹ Đường (Hoàng tôn Đán) thành thường dân vào đầu năm 1825 vì tội “thông gian với mẹ đẻ”–cùng cái chết của Mỹ Thùy, con thứ hai Cảnh, vào tháng 8/1826–lập tức trở thành thứ “bí ẩn cung đình” là Nguyễn Phước Đảm “đi lại” với chị dâu góa, rồi khi chị dâu mang thai, bèn “giết chị dâu và hai cháu” để che dấu tội loạn luân! Vì không có bằng chứng, lại lẫn lộn về ngày tháng, dữ kiện, các giáo sĩ và Petrus Key chỉ việc thêm vào “theo lời đồn” (dit-on) là tự phủi sạch tay trách nhiệm!

Petrus Key và các giáo sĩ còn bịa ra rằng Lê Văn Duyệt “ngán ngẫm” trước cảnh “Phó vương (Vice Roi) ở Bắc Kỳ” bị giết nên xin vào Gia định đánh giặc. (Cours 1877, II, tr. 261; Trấn 1993, tr. 51-52).

Trang bị bằng các Thánh lệnh đi xâm chiếm và cải đạo các vùng đất “mọi rợ” chưa nằm trong tay hay chưa được một vua Ki-tô nào tự nhận là sở hữu, các giáo sĩ Pháp nghĩ đến việc dùng võ lực lật đổ nhà Nguyễn. Năm 1833, nhân dịp Nguyễn Hựu (“Lê Văn”) Khôi nổi dạy ở miền Nam, Linh mục Joseph Marchand [Mã Song hay Du], vì lý do nào đó, cũng “có mặt” trong thành Phiên An, với khoảng 100 giáo dân Ki-tô, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Hàm (con Thành).

Khôi, theo Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, tên thật Bế Văn Cận, nguyên là con một thổ tù đất Cao Bằng. Khi mộ quân đánh dẹp ở Nghệ An, Khôi được cho mang họ Nguyễn Hựu. Năm 1820, theo Tổng đốc Duyệt vào Gia Định thành, được trọng dụng. Tám năm sau, lên tới chức Phó vệ úy vệ Minh Nghĩa. Sau khi Tổng đốc Duyệt chết năm 1832, Tổng đốc An-Biên Nguyễn Văn Quế và Bố chính Bạch Văn Nguyên đàn hịch tội Khôi là đã lợi dụng binh quyền khai thác gỗ làm của tư. Đêm 5 rạng 6/7/1833 (18/5 Quí Tị) Khôi cùng đồng đảng trong các cơ binh Bắc thuận và Hồi lương nổi lên giết Bố chính Nguyên, chiếm thành Phiên An, rồi giết luôn Tổng đốc Quế. Sau đó, đánh chiếm khắp 6 tỉnh miền Nam. Trước hết, nêu danh nghĩa phò Lê, rồi tuyên bố trả thù cho Lê Văn Duyệt. Giáo dân Ki-tô tham gia cuộc nổi dạy gửi đại diện qua gặp Giám mục Taberd, lúc ấy đang ẩn náu ở Chantabun (Xiêm La), yêu cầu vận động Xiêm và các nước Tây Âu tiếp sức. Họ còn định giương cờ Constantino (có hình chữ thập) để biểu lộ tinh thần “thập tự quân (crusade)” của cuộc nổi dạy, nhưng Marchand không đồng ý.

Vì đã có mật ước với Khôi, đầu năm 1834 Xiêm La nêu danh nghĩa phò trợ Khôi, phái 5 đạo quân xâm phạm vùng Hà Tiên, Châu Đốc của Việt Nam, đồng thời tiến đánh Chân Lạp và Lào, theo thế trong công ngoại kích.[42] 

Nhờ một số danh tướng như Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng, v.. v..., và nhất là Thái Công Triều, một phản tướng mới xin qui phục triều đình, quan quân Nguyễn đẩy lui được giặc Xiêm. Nhưng dù Khôi chết vì bệnh phù thủng đầu năm 1834, mãi hơn một năm sau quân Nguyễn mới tái chiếm được Phiên An ngày 8/9/1835 (16/7 Ất Mùi). Quan quân giết chết tại trận 559 người, kể cả ba con của Khôi. Trong số 1,278 người bị bắt có Nguyễn Văn Chắm, Marchand và Phó tế Nguyễn Văn Phúc [Phước], cai quản họ đạo Chợ Quán, cùng gần 100 giáo dân. Được hỏa tốc báo tin ngày 13/9, Nguyễn Phước Đảm cho lệnh “đào mả Khôi, đâm nát xương cốt rồi chia ném vào nhà cầu 6 tỉnh, thịt cắt thành từng miếng cho chó ăn(?),đầu lâu đóng hòm gửi về kinh cùng 6 trọng phạm [Marchand, Nguyễn Văn Chắm, Lê Bá Minh, Đỗ Văn Dự, Lưu Tín, và “Lê Văn” Viên, con Khôi, mới 7 tuổi].” Tất cả các phạm nhân trong thành Phiên An và tòng phạm, “không cứ già trẻ trai gái ở vài dặm ngoài thành đều chém ngay, rồi đào một hố to [ở Chí Hòa] vất thây lấp đất, chồng đá làm gò dựng bia khắc “nơi bọn nghịch tặc bị giết để tỏ lòng quốc pháp,” sau thường gọi là “Mả Ngụy.” Trên đường giải giao ra Huế, Chắm tìm được cách móc cổ tự tử. Marchand và bốn người khác bị kết án lăng trì [xẻo từng miếng thịt cho tới chết] ở Huế. Nguyễn Phước Đảm cũng xuống lệnh thẳng tay giết hại giáo mục Ki-tô từ ngày Khôi nổi loạn và bắt được mật thư xin cầu viện nước Xiêm.

Muốn lợi dụng cuộc làm loạn của Khôi để loại bỏ thế lực “đuôi to khó vẫy” của Lê Văn Duyệt, (ĐNTLCB, II, 21:137-138) từ năm 1833, Nguyễn Phước Đảm đã đổi Khôi sang họ Lê để tiện việc trừng phạt như phá bỏ mộ bia Tả quân Duyệt, bắt giam cả con nuôi (Lê Văn Yên) và họ hàng Lê Văn Duyệt. Con cháu Đán (tức Mỹ Đường) lại bị xóa tên trong sổ tôn thất.[43] 

Tài liệu các nhà truyền giáo trình bày khác với quốc sử Nguyễn: Khôi nổi loạn ngày 18/5/1833 (sic); quân Nguyễn hạ thành Phiên An ngày 29/8/1835; Nguyễn Phước Đảm cho lệnh xử tử 1,940 người, kể cả 64 “giặc” Ki-tô, chôn chung vào một Mả Ngụy. Marchand bị đóng cũi giải về Huế cùng 4 người khác. Marchand bị giết ngày 30/11/1835; vì các tướng giặc bị bắt khai rằng Khôi định nổi lên để lập Hoàng tôn Đán làm vua, nên Nguyễn Phước Đảm “chắc chắn” giết chết Đán năm này. (Huồn 1965, I:299-300, 311) Thực ra, năm 1849 Đán mới chết, cháu nội là Tôn Thất Lệ Chung được phong tước Hầu.

Petrus Key thì ghi 1,137 người bị xử tử, chôn chung trong Mả Ngụy. (Cours, 1877, II, tr 265-66) Thành Sài Gòn do Olivier dựng lên từ thập niên 1790 [?] cũng bị xan thành bình địa. (Ibid., tr 267)

Người đọc sử đời sau, hoặc người muốn nghiên cứu về sự nghiệp văn học của Petrus Key, không thể không tạm ngừng ở đoạn viết về Nguyễn Phước Đảm này cùng bản án Hoàng tôn Đán và Nguyễn Văn Thành để đặt câu hỏi: Tại sao?

Một trong những câu trả lời là Petrus Key không biết gì nhiều về lịch sử cận đại hay hiện đại. Dăm ba trang “sử” khác để dạy cho học trò miền Nam về các vua Thiệu Trị [Nguyễn Phước Tuyền hay Dong] và Tự Đức [Nguyễn Phước Thời] chứng tỏ điều này. Thí dụ như Petrus Key thuật lại rằng Thiệu Trị lấy cả hai dì cháu Phạm Thị Hẳng-Đinh Thị Hạnh; cháu sinh ra “Hoàng Nhậm,” dì sinh ra “Hoàng Bảo;” sau khi Thiệu Trị chết, “Hoàng Nhậm” được lên ngôi, “Hoàng Bảo” nổi loạn, bị thắt cổ chết trong tù. Tự Đức thừa hưởng những cơn nóng giận của cha là Thiệu Trị, và bản chất tàn bạo của ông nội, tức Minh Mạng [héritier de la colère de Thieu Tri et dont le tempérament semble plus se rapprocher de celui de Minh Mang] (Ibid., II:272-273), v.. v... Chẳng cần đợi tới năm 2019 chúng ta mới biết các con vua Nguyễn Phước Tuyền hay Dong đều mang tên đệm Hường hay Hồng mà không phải Hoàng. (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập I, chương I & II) 

Vụ thảm  án Hường Bảo cũng không đơn giản như cách diễn tả “[Hường] Bảo nổi loạn, bị thắt cổ chết trong tù.” (Ibid., II:272) Nó liên hệ chân rết đến cuộc đương đầu sắt máu giữa các giáo sĩ và triều Nguyễn từ năm 1830-33. Quan trọng hơn, ít nhất trong thập niên đầu tiên, ông vua trẻ tuổi, tật bệnh Nguyễn Phước Thời hoàn toàn bị mẹ ruột, tức Thái hậu Từ Dũ (hay “cô Hằng gốc Gò Công” của Petrus Key [Ibid., tr 272]), và các đại thần đầy quyền lực như nhóm Trương Đăng Quế, Vũ Văn Giải khống chế. Đáng ghi nhớ hơn nữa, Nguyễn Phước Thời bị đặt vào tình cảnh đánh giữ không được, mà hòa cũng chẳng yên trước cả hai hiểm họa thực dân Âu Châu và Á Châu—có thể mệnh danh là sự tàn bạo của bàn cờ chính trị thế giới, theo nguyên tắc mạnh được, yếu thua, cá lớn nuốt cá bé.

Đáng lưu ý là những chi tiết của Petrus Key về Nguyễn Phước Thời giống hệt lập luận các nhà truyền giáo—kiểu “Tự Đức chỉ nghe được tiếng đại bác”—phần lớn dựa theo tin đồn do chính họ phao ra. Bởi thế, không thể không hoài nghi Petrus Key đã bị các giáo sĩ Pháp chi phối nặng nề, hoặc nhồi sọ; hễ đả kích được Nguyễn Phước Đảm và các vua nhà Nguyễn là ra tay ngay (Giống như sự trao đổi những lời nhục mạ giữa hai phe Quốc Gia và Cộng Sản từ năm 1945 tới nay. Chẳng phải vô tinh Charles de Gaulle đã chọn một Linh Mục Phó Đô đốc ba sao Thanh tra Bô Tư lệnh Hải Quân làm Cao Ủy Đông Dương).

Nhưng cũng có thể Petrus Key chẳng hề bận tâm đến sự thực lịch sử, góp nhặt tin đồn và dùng trí tưởng tượng của mình, hư cấu thành những truyện cổ tích bằng Pháp ngữ, nhằm phục vụ mục tiêu chính trị giai đoạn của Hội truyền giáo và tổ quốc mới. Nên truyền đơn, khẩu hiệu được khoác cho lớp xiêm áo “histoire” [lịch sử].

Trong thư mở đầu bằng Việt ngữ gửi các học trò đất Nam Kỳ, đề ngày 25/2/1875 ở phần đầu tập I cuốn Cours d’histoire annamite, Petrus Key viết (bằng chữ Việt mới):

Dùng tiếng Pha lang sa là tiếng đã rộng mà lại hay mà chép chuyện nước ta cho anh em coi cho quen thuộc tiếng ấy, trông rằng lấy cái tiếng anh em đang lo học mà thuật lại truyện anh em đã biết thì sẽ giúp anh em cho dễ thông ý tứ léo lắt và hiểu rõ cốt cách tiếng ấy hơn. Trấn, 1993, tr 32.

Như thế, mục đích chính của Petrus Key tự nhận chỉ là “chép chuyện nước ta” cho các học sinh luyện thêm Pháp ngữ. Nhưng thực chăng học trò Nam Kỳ ngày ấy “biết” những loại “tin đồn” mà Petrus Key “dịch” qua tiếng Pháp bàn luận sơ lược ở đoạn trên?

Thực chăng học trò đất Nam Kỳ của thập niên 1870 “biết” rằng lịch sử Việt chia làm ba thời đại: (1) Từ 2874 trước năm Jesus Christ ra đời tới năm Jesus sinh ra gọi là thời đại Thượng cổ; (2) từ năm sinh của Jesus Christ tới năm 966 là thời kỳ chuyển tiếp (période de transition); và (3) từ năm 968 tới nhà Nguyễn gọi là thời hiện đại (temps moderne)? Cái năm số “0” hay số “1” này–tức năm mà nhiều người tin là năm sinh của Jesus Christ–chẳng hề dính nhập đến một biến cố quan trọng nào ở cổ Việt; và Josua/Jesus Christ hay các nước Tây phương cũng chưa hề biết về, nói chi có ảnh hưởng đến, những “xứ mọi rợ” không hề hiện hữu bên ngoài trái đất hình khối vuông tại Âu châu. (Cho tới đầu thế kỷ XV dân Âu châu vẫn còn tin chuyện tiếng hát nhân ngư và vực thẳm đầy sương mù bên ngoài ranh giới trái đất hình khối vuông) Một giả thuyết để nghiên cứu thêm [working thesis] có thể là Petrus Key nuôi dụng tâm viết lại và phân chia lịch sử Việt theo lịch sử truyền giáo Ki-tô Vatican, như một dấu mốc văn hóa của tân trào.

Một điểm độc đáo khác là Petrus Key không hề nhắc đến những cuộc kháng chiến của dân quân miền Nam trong cuộc xâm lăng của Pháp; mà chỉ ca ngợi các quan Tướng Pháp đã khiến dân Nam Kỳ thương yêu và kính trọng. Tội nghiệp cho hồn thiêng của những anh hùng dân tộc như Thiên Hộ Dương, Trương [Công] Định, Thủ khoa Huân, v.. v... Việc người Pháp chiếm đóng ba tỉnh miền Tây năm 1867 được biện minh là do các tỉnh này đã gây nên “những rắc rối thường trực và sâu xa” cho ba tỉnh miền Đông của Pháp. (Ibid., 1877, II, tr 276) [Một độc giả vô danh nào đó hạ bút phê vào dưới đoạn văn trên như sau: “Hay quá!”]

Để tạm kết thúc về mục tiêu viết “sử” của Petrus Key, xin trích thêm đoạn kết của cuốn Cours d’histoire annamite:

Đề đốc Lafont lên thay Đề đốc Duperré ngày 16/10/1877. Giống như những người tiền nhiệm, ông đã tích cực áp dụng những biện pháp mà ông tin rằng đích đáng để bảo đảm hòa bình và thịnh vượng cho đất mới của Pháp. Ông rời chính quyền thuộc địa ngày 7/6/1879.

Ông [Lafont] chấm dứt một loạt các Thống đốc quân sự mà sự tận tâm, nghị lực và sự khôn khéo thận trọng đã cho phép bình định gần như toàn thể xứ này trong vòng 20 năm, đã khiến cho dân chúng của đất Nam Kỳ xưa thương yêu và kính trọng những nhà bảo hộ mới của họ, quốc gia mới của họ; và cuối cùng tạo điều kiện để thực hiện một việc làm đáng kể và lợi ích cho tiền đồ của xứ ta là sự thành lập chính phủ dân sự của ông Le Myre de Vilers, nhiệm chức từ ngày 7/6/1879.

[Nguyên văn: Le Contre-Amiral Lafont succeda au Contre-Amiral Duperré le 16 Octobre 1877. Comme ses prédécesseurs, il s’ờoccupa activement des mesures qu’il croyait les plus propres à assurer la paix et la prospérité de la nouvelle terre francaise. Il a quitté le gouvernement de la colonie le 7 juin 1879.

Avec lui prend fin la série de gouverneurs militaires dont le dévouement, l‘énergie et la prudente habileté ont permis d’arriver en vingt années à peine à la complète pacification du pays, à faire aimer et respecter aux habitants de l’ancien pays de Nam-kỳ leurs nouveaux protecteurs, leur nouvelle patrie; à rendre possible enfin et capable d’exercer une action considérable et bienfaisante sur les destinées du pays, le gouvernement civil, inauguré le 7 juin 1879 par M. Le Myre de Vilers. (Ibid., II:277-78)

Chỉ một đoạn kết này—có lẽ đã được thêm vào ở phút chót, hoặc ở lần tái bản năm 1879—tự nó nói lên quan điểm chính trị của Petrus Key.

Tóm lại, vì nhu cầu tài liệu huấn luyện các thông ngôn và cổ võ việc “bảo hộ” và “bình định” của Pháp, Cours d’histoire annamite của Petrus Key không những thiếu phương pháp sưu tầm tài liệu, thiếu phương pháp viết sử, mà còn thiếu sự khách quan cần thiết. Thật khó thấy một dấu vết nhỏ của “science, conscience, modestie” như Nguyễn Văn Tố–người cùng Linh mục Léopold Cadière chịu trách nhiệm soạn thảo bộ Lịch sử đạo Thiên chúa ở Việt Nam năm 1944–đã ca ngợi.

Tóm lược tài liệu Nguyễn về loạn “Lê Văn Khôi”:

Khôi nguyên họ Bế, giòng dõi Bế Văn Cung ở huyện Thạch Lâm, Cao Bằng (nằm giữa Thất Khê (Nam) và Quảng Uyên (Bắc), và Cảm Hóa (Thái Nguyên, phía Tây) và Thạch An (phía Đông). Đời Nguyễn Phước Chủng (1816) chia làm hai huyện Thạch Lâm và Thạch An. Tiên tổ là họ Nguyễn ở Tống Sơn, di cư lên Cao Bằng sau khi Mạc cướp ngôi nhà Lê. Đổi sang họ Bế theo mẹ. Năm 1787, trong nom thuế khoá cho bộ Hộ, lãnh đốc trấn Cao Bằng. Mang mấy chục thân nhân theo Lê Duy Kỳ/Khiêm, niên hiệu Chiêu Thống, qua Trung Hoa. 16 năm sau [1804] mới về nước. Được Nguyễn Phước Chủng cho đổi họ “Nguyễn Hựu.” Sau khi Khôi làm phản, Nguyễn Phước Đảm bắt những ai có họ Nguyễn Hựu lấy lại họ Bế. ĐNTNC, q. XXV: Cao Bằng, (bản dịch 1997), 4:426-27 [401-30]. Năm 1833, ba người họ Bế chết trận khi chống lại Bế Văn Cận và Nông Văn Vân.

1819: Bế Văn Cận theo Lê Văn Duyệt tới hai trấn Thanh Nghệ và Thanh Bình (sau đổi thành Ninh Bình), Thiên Quan (Phủ Nho Quan) đánh dẹp thổ phỉ. Được đổi họ thành Nguyễn Hựu. Lập được công trạng.

Liệt truyện, II, q. 45 ; IV:475-98

Tháng 7-8/1832  [Bảy Nhâm Thìn]:

* Gia Định: Lê Văn Duyệt ốm nặng. (ĐNTLCB, II, LXXXII, 11:1832-33, 1964:122)

Thống chế biền binh Nguyễn Văn Quế tạm thời lãnh Tổng trấn. Bạch Xuân Nguyên Hiệp lý Binh tào. (ĐNTLCB, II, LXXXII, 11:1832-33, 1964:122,140)

Tháng 8-9/1832  [Tám Nhâm Thìn]: Gia-Định: Lê Văn Duyệt chết.

Vua cho lệnh rút hai vệ Tả bảo nhất và nhị thuộc Tả quân từ Gia Định về kinh; vệ Minh Nghĩa về Quảng Ngãi. Thuộc binh, viên tử, hào mục của Duyệt bổ sung vào chân khuyết trong cơ đội ở thành. Ai muốn về quê quán thì giao sở tại ghi vào sổ để chịu sai dịch. (ĐNTLCB, II, LXXXII, 11:1832-33, 1964:140-141)

- Quở trách Ngô Bá Nhân ở đồn Châu Đốc. Bá Nhân còn giữ chức Bảo hộ Chân Lạp. (ĐNTLCB, II, LXXXII, 11:1832-33, 1964:139)

2/8/1832: Retord tường trình về những hành động đánh phá Ki-tô giáo của Minh Mạng. (Ann, t. VI)

Tháng 9-10/1832  [Chín Nhâm Thìn]:

- Đặt chức Ngũ quân Đô thống phủ chưởng phủ sự.

Trần Văn Năng, tiền quân Đô thống phủ chưởng phủ sự.

Tống Phúc Lương làm Đô thống trung quân.

Phan Văn Thúy, Hậu quân

Nguyễn Văn Hiếu, Tả quân

Nguyễn Văn Xuân, Hữu quân. (ĐNTLCB, II, LXXXIII, 11:1832-33, 1964:158-59)

* Hải Yên: Nguyễn Công Trứ làm Tuần phủ Hải Dương, lãnh ấn Tổng đốc Hải Yên. (ĐNTLCB, II, LXXXIII, 11:1832-33, 1964:158)

* Gia Định: Nguyễn Văn Quế tố cáo những việc phi pháp của Lê Văn Duyệt.

Tìm thấy tại nhà con nuôi Duyệt là Yên 10 tờ giấy ký sẵn ấn quốc gia; 10 tờ giấy ký sẵn ấn công đồng.

Trữ hơn 10070 tấm gỗ tàu và gỗ dàu.

Vua cho lệnh tra xét những việc làm tự quyền của Duyệt. (ĐNTLCB, II, LXXXIII, 11:1832-33, 1964:167-68)

- Dựng chùa Khải Tường.

Đây là nơi Nguyến Phước Hiệu tức Đảm lọt lòng mẹ. (ĐNTLCB, II, LXXXIII, 11:1832-33, 1964:173-74)

Tháng 10-11/1832  [Chín nhuận Nhâm Thìn]:

* Huế: Đặt chức Phó Lãnh binh cho sáu [6] tỉnh miền Bắc. (ĐNTLCB, II, LXXXIV, 11:1832-33, 1964:178)

- Bắt con Lê Duy Hoán là Lê Duy Minh thắt cổ chết. (ĐNTLCB, II, LXXXIV, 11:1832-33, 1964:180)

Khôi cùng đồng lõa là Nguyễn Văn Bột (Phó vệ úy Nhất vệ), cùng bọn vệ úy Nhị vệ ở Tả Bảo là Thái Công Triều, phó vệ úy Lê Đắc Lực, Hành nhân ty Lưu Tín, Phó quản cơ Thanh Thuận là Đặng Vĩnh Ưng, anh của vợ lẽ Duyệt là Võ Vĩnh Tiền, đội Lâm xa là Dương Văn Nhã, đội Hồi lương là Nguyễn Văn Chắm cùng nổi dạy. Quyết giết Bạch Văn Nguyên, sau bắt Nguyễn Văn Quế cùng các quan chức khác.

Đêm 5-6/7/1833 [18/5 Quí Tị], Khôi cùng bè đảng 60 người, mang theo năm [5] thớt voi, ai nấy cầm kiếm, lấy vải trắng quàng cổ làm dấu hiệu, do cửa Hòa Lai vào thẳng Dinh Bố chính. Bạch Xuân Nguyên trốn được. Chúng kéo nhau tới dinh Tổng đốc. Nguyễn Văn Quế cùng con chống lại đều bị hại cả. Án sát Nguyễn Chương Đạt và Lãnh binh Nguyễn Quế ra khỏi thành, trốn thoát. Sau đó Xuân Nguyên cũng bị giặc bắt, cùng với môn khách là Trương Hiệu. (Hiệu từng tố cáo Nguyễn Văn Thuyên, con Nguyễn Văn Thành). Mang đến nhà vợ Duyệt xin đốt sống để tế Duyệt, nhưng vợ Duyệt khóc lóc phản đối. (ĐNTLCB, II, XCV, 12:1833-34, 1965:216) Sau mang Nguyên và Hiệu ra chém.

Khôi lại giết quan coi ngục, thả hết tù phạm, dùng chúng làm quân cảm tử. Phó Lãnh binh Giả Tiến Chiêm dẫn chiến thuyền đến đánh mấy trận, bị thương phải chạy. Cùng Nguyễn Chương Đạt cấp báo về Biên Hòa. Vũ Quýnh, thự Tuần phủ Biên Hòa, cấp báo về kinh.

Vua cử Lê Phúc Bảo, thự Tổng đốc Long Tường, mang binh tới Phiên An, quyền lãnh tổng đốc An-Biên. Bố chính An Giang là Nguyễn Văn Binh quyền Bố chính Phiên An. Thự Bố chính Bình Định là Nguyễn Tử Cư lãnh quyền Án sát Phiên An. Lại truyền cho Lãnh binh Bình Định là Lê Sách mang quản cơ Đĩnh dũng là Đặng Văn Quyến với 300 biền binh; Phú Yên và Khánh hoà mỗi tỉnh một quản cơ và 2300 biền binh; Lãnh binh Lê Văn Nghĩa ở Bình Thuận mang theo 300 biền binh vào ngay Phiên An cho Lê Văn Nghĩa sai phái.

Điều 1 quản cơ mang 500 binh ở cơ Tĩnh Nam Quảng Ngãi vào Bình Định.

Vua nói lính Hồi lương là thân tù tội, đã khoan dung, nay quyết không tha.

Ít ngày sau, Khôi mang binh đánh khắp nơi. Kho tàng, chiến thuyền và voi trận đều lọt vào tay Khôi. (ĐNTLCB, II, XCV, 12:1833-34, 1965:221)

Vua phải sai Nguyễn Văn Hòa và Mai Công Ngôn mang quân kinh thành vào Phiên An. (ĐNTLCB, II, XCV, 12:1833-34, 1965:223)

Tháng 7-8/1833  [6 Quí Tị]:

* Huế: Vua cho lệnh trị tội thân quyến Lê Văn Khôi” ở Cao Bằng. (ĐNTLCB, II, XCVI, 12:1833-34, 1965:228-29)

- Phong thự Hậu quân đô thống Phan Văn Thúy làm Thảo nghịch hữu Tướng quân. Trương Minh Giảng làm Tham tán quân vụ đại thần. Ngày 20/7/1833 [tức mồng 4/6 Quí Tị] phải lên đường tiễu giặc. (ĐNTLCB, II, XCVI, 12:1833-34, 1965:236)

* Biên Hòa: Thành Biên Hòa thất thủ. Vũ Quýnh bỏ chạy. Khôi phong Lê Đắc Lực làm trấn thủ. (ĐNTLCB, II, XCVI, 12:1833-34, 1965:238) Khôi có giáo dân Ki-tô, Thanh kiều, man Quang Hoá, lính Thanh thuận, An thuận, Bắc thuận đảo ngũ. Trong vòng chưa đầy một tuần đã có hàng ngàn quân. Sai Lê Đắc Lực và Lưu Tín mang thủy quân từ Nhà Bè đến quấy nhiễu Biên Hòa. Xuất đội tượng binh Nguyễn Văn Khiển làm nội phản, thúc voi đánh bừa quân triều. Quản cơ Trần Văn Khanh, Phó lãnh binh Phiên An Giả Tiến Chiêm chống không lại. Thủy binh của Phó quản cơ Ngô Văn Hòa cũng thua. Vũ Quýnh chạy đến trạm Thuận Biên. (ĐNTLCB, II, XCVI, 12:1833-34, 1965:239)

[Ít lâu sau, Vũ Quýnh thu phục lại được tỉnh lỵ. (ĐNTLCB, II, XCVII, 12:1833-34, 1965:272)]

Ninh Bình: Tạ Quang Cự bắt được Lê Duy Lương và Lê Duy Nhiên, đưa về kinh. (ĐNTLCB, II, XCVII, 12:1833-34, 1965:262-64)

Tổng đốc Long Tường thua ở Trà Giang (Gia Định). Lê Đại Cương sai binh cứu viện, vẫn thua. (ĐNTLCB, II, XCVII, 12:1833-34, 1965:266-67)

* Định Tường: Tỉnh lỵ thất thủ. (ĐNTLCB, II, XCVIII, 12:1833-34, 1965:278)

Lê Phúc Bảo bỏ chạy về Vĩnh Long.

- Cử Tống Phước Lương, Trung quân đô thống chưởng phủ sự, làm Thảo nghịch tả tướng quân.

Nguyễn Xuân làm Tham tán. Mang binh thuyền vào Nam. (12:280) Khi binh thuyền ra cửa Thuận An, cho người đến miếu Nam Hải long vương và miếu Phong bá cầu gió. (ĐNTLCB, II, XCVIII, 12:1833-34, 1965:281)

Lập miếu thờ vua Chiêm Thành ở kinh đô và Bình Thuận. Sau đó khám phá ra việc Nguyễn Văn Thừa thông mưu với Bế Văn Cận, lại thôi. (ĐNTLCB, II, XCVIII, 12:1833-34, 1965:282-84)

* Lạng Sơn: Bắt được 2 con Khôi cùng 12 thân quyến, mang về Lạng Sơn. (ĐNTLCB, II, XCVIII, 12:1833-34, 1965:284)

* Thái Công Triều lấy các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. (ĐNTLCB, II, XCVII, 12:1833-34, 1965:287)

- Phong Tiền quân đô thống chưởng phủ sự Trần Văn Năng làm Bình khấu Tướng quân. Mang binh thuyền vào Nam. (ĐNTLCB, II, XCVIII, 12:1833-34, 1965:292-93)

- Cho lệnh đổi họ Nguyễn Hựu của Khôi và họ hàng làm họ Lê theo Lê Văn Duyệt. (ĐNTLCB, II, XCVIII, 12:1833-34, 1965:296-97)

Phan Văn Thúy tới Bình Thuận. Nói đã tập hợp đủ bộ binh. Nhưng thủy binh gặp gió ngược, xin cho đậu lại ít ngày. Nguyễn Phước Đảm muốn bộ binh cứ thẳng đường tiến. (ĐNTLCB, II, XCVIII, 12:1833-34, 1965:299)

Ra Dụ về vụ Lê Duy Lương. Lập lại việc lấy thiên hạ từ Tây Sơn, không phải nhà Lê. (ĐNTLCB, II, XCVIII, 12:1833-34, 1965:3289-90)

Tháng 8-9/1833 [7 Quí Tị]:

* Biên Hòa: Quân Khôi lại tấn công Biên Hòa.

Bị đẩy lui. Quan quân thiệt hại nhiều. Phó vệ úy Cẩm y Phan Văn Song và Cai đội Cẩm y Trần Văn Du tử trận. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:301-2) Nguyễn Phước Đảm cho lệnh tỉnh nào thấy thuyền Thụy Long đi mua quân nhu và vũ khí ở Djakarta về, phải dỡ tải hàng hoá đưa vào Nam. (12:304-5) Lại cho mang đầu Lê Duy Lương tới Biên Hòa bêu ở ven sông, rồi mang ra Bắc. (12:306) (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:301-2)

Sau Nguyễn Văn Bột tái chiếm được Biên Hòa. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:317-19)

- Phan Văn Thúy thắng trận ở trạm Biên-Long. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:319-23)

- Kiến An công Đài phải truất vợ lẽ, cháu gọi Khôi bằng cậu, xuống làm đày tớ. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:309-10, 325)

Tuyên Quang : Thổ tri châu Nông Văn Vân làm phản. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:307-9, 315)

- Vũ Quýnh tâu: Lê Văn Khôi là đầu sỏ. Kế đến Nguyễn Văn Bột, Thái Công Triều, Lê Đắc Lực, Nguyễn Văn Chắm, Dương Văn Nhã. Tòng phạm có: Nguyễn Văn Hàm, con Nguyễn Văn Thành; Mạc Hầu Du, Vũ Công Tước, cộng hơn 70 người. Bạch Xuân Nguyên hà khắc. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:301-302, 335-336)

Bắc thành: Đê bị vỡ. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:301-2)331, 340-44, 366-67, 374-76)

Hưng Hóa: Tuần phủ Ngô Huy Tuân tâu tỉnh hạt có 16 huyện, châu, xin thêm quân Sơn Tây tới phòng giữ. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:301-2)338)

Sét đánh núi Ngự Bình là do lòng trời thương yêu. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:301-2)352)

Tuyên Quang : Giặc ở Bảo Lạc. Liên hệ với Nông Văn Vân. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:301-2)354)

- Phan Văn Thúy đau. Xin cử người thay để về Bình Thuận dưỡng bệnh. Nguyễn Phước Đảm cử Trần Văn Năng thay Thúy; Nguyễn Văn Trọng thay Năng. (12 :358-359, 362-363). Nhường quyền chỉ huy cho Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:301-2)379-381) Tháng sau chết ở Khánh Hòa. (ĐNTLCB, II, 12:13)

- Thái Công Triều xin hàng. Nguyễn Phước Đảm viết mật dụ cho Triều, yêu cầu bắt giết lãnh tụ nổi loạn hay tái chiếm Phiên An, đoái công chuộc tội. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:359-60)

Binh thuyền của Tống Phước Long bị ngược gió, thả neo ở Phan Rang. Binh thuyền của Trần Văn Năng cũng đang ở đây. Nguyễn Phước Đảm cho làm lễ cầu gió Đông Bắc. Binh thuyền đi được. Làm lễ tạ. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:360)

- Ngô Bá Tuấn lấy lại được Định Tường. Thái Công Triều từ Vĩnh Long lên, muốn đánh Phiên An. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:371-74)

Tháng 9-10/1833 [8 Quí Tị]: Tuyên Quang: Nông Văn Vân, thổ tù châu Bảo Lạc vây châu Vị Xuyên. (ĐNTLCB, II, XCIX, 12:1833-34, 1965:402-3, 403-4) ĐNNTC, q. XXIII: Tuyên Quang, 1997, 4:338-39 (châu Bảo Lạc xưa là huyện Bảo Lạc, châu Quảng Nguyên. Đời Lý, từng bị Quách Quì chiếm, sau mới trả lại, thêm huyện Bảo Lạc. Quảng Nguyên là Quảng Uyên, Cao Bằng. [333-64] Huyện Vị Xuyên thuộc phủ Tương Yên, Tuyên Quang, thổ tù họ Ma nối quyền thế tập. Phía bắc Tuyên Quang. 4:339

Thái Nguyên: Nông Văn Vân quấy nhiễu châu Bạch Thông [phủ Thông Hoá], (ĐNTLCB, II, CIII, 13:1833-1834, 1965:6-10), rồi Cao Bằng (ĐNTLCB, II, CIII, 13:1833-1834, 1965:31-5).

Trước kia đều thuộc Thái Nguyên; ĐNNTC, q. XX: Thái Nguyên, 1997, 4:154-55 [153-82] Châu Bạch Thông có mỏ vàng Bằng Thành, mỗi năm nạp thuế 15 lạng, mỏ bạc Tống Tinh (mỗi nămthuế 160 lạng), mỏ Bông (150 lạng), mỏ Cẩm Lạc (60 lạng). ĐNNTC, q. XX: Thái Nguyên, 1997, 4:180-81 [153-82], có nhiều gỗ tốt [tr. 181-82]

ĐNNTC, q. XXII: Hưng Hóa, 1997, 4:284-85 [Thủy Vĩ, bắc giáp Văn Sơn, Vân Nam. Đèo Quốc Thể, trước giữ Bảo Thắng, làm thổ tù; động Cam Đường có mỏ vàng; phía đông giáp Tụ Long của Tuyên Quang; họ Nguyễn nối đời làm phụ đạo;  [265-332]

Tháng 9-10/1833 [8 Quí Tị]: * Phiên An: Đổi tên Phiên An làm Gia Định. (ĐNTLCB, II, CII, 12:1833-34, 1965:389)

* Vĩnh Long: Doãn Uẩn lấy lại được Vĩnh Long.

Thái Công Triều thắng nhiều trận. (ĐNTLCB, II, CII, 12:1833-34, 1965:398)

* Hà Tiên: Án sát An Giang Bùi Văn Lý lấy lại được An Giang và Hà Tiên. (ĐNTLCB, II, CII, 12:1833-34, 1965:406-8)

- Bùi Văn Lý lại được tin thám báo là Bế Văn Cận gửi sứ qua Xiêm, đi theo sông Vĩnh Tế. Trong số này có Nguyễn Văn Mân được Mạc Công Du cử tới gặp Nguyễn Hựu Khôi [Bế Văn Cận] để lo việc thông dịch tiếng Xiêm. Bèn viết thư cho Du quở trách, đòi phải chặn bắt sứ đoàn của Bế Văn Cận. Lại cho người tới lấy Hà Tiên.

Mạc Công Du sai Mạc Công Tài và Mạc Hầu Diện phối hợp với thành thủ úy Phú Quốc là Nguyễn Văn Sương và suất đội Thanh Châu bắt được Chánh sứ Nguyễn Thụy; Phó sứ Nguyễn Văn Quí, và 21 người khác cùng thư từ. Giết ngay tại chỗ 6 lính Hồi lương. Còn giáo dân Ki-tô thì bắt giam lại ở An Giang. (ĐNTLCB, II, CII, 12:1833 [9/1833], 1965;408-9)

Nguyễn Phước Đảm cho lệnh lăng trì xử tử chánh phó sứ. 15 giáo dân Ki-tô thì chém ngang lưng. Phơi đầu cho mọi người thấy. Thư từ thì đốt đi. (ĐNTLCB, II, CII, 12:1833 [9/1833], 1965;408-9)

 [VNC: Không thấy nói gì về kế hoạch đề phòng Xiêm]

* Biên Hòa: Trương Minh Giảng lấy lại được Biên Hòa. (ĐNTLCB, II, CII, 12:1833 [9/1833], 1965:411-13)

Bổ nhiệm quan chức mới ở Gia Định.

Nguyễn Văn Trọng làm Thảo nghịch Hữu tướng quân; lãnh Tổng đốc Định-Biên. Trương Minh Giảng làm Tham tán, kiêm Tổng đốc An-Hà, kiêm Bảo hộ Chân Lạp. (ĐNTLCB, II, CIII,13:[9/1833]-1834, 1965:15)

 [Nguyễn Văn Trọng, Trương Minh Giảng bắt đầu tiến đánh Sài Gòn. Trần Văn Năng cũng kéo tới đánh phía Đông Nam (Bến Nghé). (ĐNTLCB, II, CIII, 13:[9/1833]-1834, 1965:16-19)

Dẹp tan bọn người Thanh chiến đấu trong phố Sài Gòn (bị bắt 700, chém đầu 60. (ĐNTLCB, II, CIII, 13:[9/1833]-1834, 1965:25-6, 27)

Nguyễn Phước Đảm ra Dụ 9 điều về cách đối xử với dân chúng Phiên An. (ĐNTLCB, II, CIII, 13:[9/1833]-1834, ĐNTLCB, II, 13:[9/1833]-1834, 1965:23-6)

* Tuyên Quang: Nông Văn Vân, thổ tù châu Bảo Lạc vây châu Vị Xuyên. (12:402-3, 403-4) ĐNNTC, q. XXIII: Tuyên Quang, 1997, 4:338-39 (châu Bảo Lạc xưa là huyện Bảo Lạc, châu Quảng Nguyên. Đời Lý, Quảng Nguyên từng bị Quách Quì chiếm, sau mới trả lại, thêm huyện Bảo Lạc. Quảng Nguyên là Quảng Uyên, Cao Bằng. [333-64] Huyện Vị Xuyên thuộc phủ Tương Yên, Tuyên Quang, thổ tù họ Ma nối quyền thế tập. Phía bắc Tuyên Quang. 4:339

Thái Nguyên: Nông Văn Vân quấy nhiễu châu Bạch Thông [phủ Thông Hoá], (ĐNTLCB, II, CIII, 13:[9/1833]-1834, 1965:6-10), rồi Cao Bằng (ĐNTLCB, II, CIII, 13:[9/1833]-1834, 1965:31-5).

Trước kia đều thuộc Thái Nguyên; ĐNNTC, q. XX: Thái Nguyên, 1997, 4:154-55 [153-82] Châu Bạch Thông có mỏ vàng Bằng Thành, mỗi năm nạp thuế 15 lạng, mỏ bạc Tống Tinh (mỗi năm thuế 160 lạng), mỏ Bông (150 lạng), mỏ Cẩm Lạc (60 lạng). ĐNNTC, q. XX: Thái Nguyên, 1997, 4:180-81 [153-82], có nhiều gỗ tốt [tr. 181-82]

Cho lệnh đào mồ mả 4 đời Cận ở Cao Bằng lấy hài cốt đốt đi. (ĐNTLCB, II, CIII, 13:[9/1833]-1834, 1965:42)

Cho Nguyễn Công Trứ mang quân lên Tuyên Quang, cùng Lê Văn Đức đánh giặc. ĐNTLCB, II, CIII, 13:[9/1833]-1834, 1965:44)

* An Giang: Chọn Long Sơn để xây thành An Giang.

Cách Hà Tiên 80km750]; Nam Vang 97km750; và Vĩnh Long, 106km250]. (ĐNTLCB, II, LXXXVIII, 12:1833-34, 1965:30-1)

Tháng 7-8/1835 [Sáu Ất Mùi]: 

Ngày 10/7/1835 [15/6 Ất Mùi], làm lễ "bảo tất" [ôm đầu gối] Cho Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, cùng các tham tán Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thụy, Nguyễn Tiến Lâm, Hồ Hựu được ôm gối theo kiểu nhà Thanh. (ĐNTLCB, II, CLIII, 16:1835 [8/35], 1966:293-295).

Tháng 7-8/1835 [Sáu nhuận Ất Mùi]: Sai soạn cuốn Ngự chế tiễu binh Lưỡng kỳ nghịch phỉ phương lược. Tuyển tập những châu phê của Nguyễn Phước Đảm, vì vua “Văn thì thần, võ thì thánh, rực rỡ như trăng sao vận hành ở trên trời, cuồn cuộn như sông ngòi mông mênh ở mặt đất.” Trương Đăng Quế và Hà Tông Quyền lo việc biên tập. Sách soạn xong gồm 153 quyển, 142 quyển chính biên, 8 quyển phụ biên, 2 quyển thơ, 1 mục lục. (ĐNTLCB, II, CLIII, 17:[7/1835]-1836,1966:25-26)

Tháng 12/1840-1/1841  [Chạp Canh Tí]: Phát đệm đỡ đầu gối vì khi trình việc quì quá lâu. (ĐNTLCB, II, CCXX, 22:1840-1841, 1969:359)

Tháng 5-6/1838 [4 nhuận Mậu Tuất]: Phát thêm 6 địa bàn và 4 đồng hồ cát cho đề đốc Vũ Văn Từ, hiệp lý thủy sư Đào Trí Phú. (ĐNTLCB, II, CXCII, 20:1838-1839, 1968:139)

Tháng 11-12/1839 [Mười Kỷ Hợi]: Chế tạo một thuyền chạy hơn nước lớn, tốn trên 11,000 quan. (ĐNTLCB, II, CCVII, 21:1839-1840, 1969:227)

ĐNTLCB, II, XIII, XX, XXIV, 6:1822-1824, 1963:

ĐNTLCB, II, XXV, XXXVI, 7:1824-1826,  1964:

ĐNTLCB, II, XXXVII, XLIX, 8:1826-1828,  1964:

ĐNTLCB, II, L, LXIII, 9:1828-1830,  1964:

ĐNTLCB, II, LXIV, LXXVII, 10:1830-1832, 1964:

ĐNTLCB, II, LXXVIII, LXXXVII, 11:1832-1833, 1964:

ĐNTLCB, II, LXXXVIII, CII,12:1833 [9/33], 1965:

ĐNTLCB, II, CIII, CXVI, 13:[9/1833]-1834, 1965:

1833:

1/1/1833 tàu Peacock của Đặc sứ Edmund Roberts đến Đà Nẵng.

Ngày 27/1/1832, Ngoại trưởng Edward Livingston chỉ thị cho Đặc sứ Edmund Roberts tìm cách ký thương ước, và chuyển thư Tổng thống Andrew Jackson (1829-1837) cho Nguyễn Phước Đảm.

Rời Boston tháng 3/1832, tàu Peacock vượt qua Rio de Janeiro. Sau khi thăm Philippines và Trung Hoa, dù thời tiết xấu, ngày 1/1/1833 đến được Đà Nẵng.

Bốn ngày sau tàu Peacock bị cuốn trôi về phía Nam, tới Vụng Lấm (Phú Yên), giữa Poulo Cambir và Cape Averella, phía nam Thị Nại (Qui Nhơn).

Chuyến đi của Roberts được ghi nhận trong Thực Lục:

Quốc trưởng nước Nhã di lí (nước này ở Tây dương, hoặc gọi là Hoa Kỳ, hoặc gọi là Ma-ly-căn, hoặc gọi là Tân Anh-cát-lị) . . . sai bọn bề tôi là Nghĩa Đức Môn La Bách Đại, Úy Đức Giai Tâm Gia (tên hai người) đem quốc thư xin thông thương, thuyền ở cửa Vụng Lấm thuộc Phú Yên. Vua sai Viên ngoại lang Nguyễn Tri Phương, tư vụ Lý Văn Phức đi hội với quan tỉnh, lên trên thuyền thết tiệc, và hỏi ý họ đến đây làm gì. Họ nói: “Chỉ muốn thông hiếu và giao thương,” nói năng rất cung kính. Đến lúc dịch thơ ra, có nhiều chỗ không hợp thể thức.

Vua bảo không cần đệ trình thư ấy. Rồi cho quan quyền [thương] bạc làm tờ trả lời. Đại lược nói: “Nước ấy muốn xin thông thương, cố nhiên là ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật qui định. Từ nay nếu có đến buôn bán thì cho đỗ ở vụng Trà Sơn, tấn sở Đà Nẵng, không được lên bờ làm nhà, vượt qua kỷ luật. Rồi giao thư cho họ mà bảo họ đi.”[44]

Báo cáo của Roberts nhiều chi tiết hơn. Thoạt tiên, sứ bộ Mỹ tiếp xúc với một lý trưởng, và viên chức này trình bày sơ lược tổ chức chính quyền cũng như thể lệ đệ trình văn thư. Tiếp đó, quan tỉnh Phú Yên tới. Họ cho Roberts xem một bảng liệt kê quốc kỳ các nước, yêu cầu sứ đoàn Mỹ xác định quốc kỳ của mình. Sau đó, hai bên thảo luận về cách thức đạo đạt thư Tổng thống Mỹ tới Nguyễn Phước Đảm: Trước hết, Roberts phải viết thư cho Thương bạc (ty Ngoại thương), trình bày mục đích của sứ đoàn. Quan Việt nhiều lần bắt bẻ đòi sửa lại thư cho hợp với phong tục Việt Nam. Ngày 17/1/1833, một phái đoàn Huế tới nơi gặp Roberts. Hai bên lại qua một chu trình hỏi/đáp về mục đích của sứ đoàn, rồi bắt bẻ hình thức cũng như nội dung bản dịch quốc thư. Cuối cùng, ngày 26/1, kết quả từ Huế xuống–thay vì có văn thư trả lời chính thức, hai quan lớn Việt thết tiệc sứ đoàn, rồi hôm sau lên tàu nói chuyện. Họ yêu cầu được xem trước bản dịch thư Tổng thống Mỹ để sửa chữa lại nếu cần hầu tránh vua nổi giận. [Giống như nhà Thanh, Nguyễn Phước Đảm bắt các quốc trưởng phải viết biểu hay sớ như con đối với cha. Sau cuộc chiến tranh nha phiến (1839-1842 và 1858-1860) nhà Thanh mới bỏ thể lệ bắt vua ngoại quốc dâng biểu]. Roberts cương quyết giữ lập trường Tổng thống Mỹ không thua kém hay đứng dưới bất cứ ai, và không thể làm nhục quốc thể. Ngày 7/2/1833, Roberts báo cho các quan Việt biết chiến hạm Mỹ sẽ lên đường, vì sứ mệnh thất bại; nhưng hy vọng hai bên không vì thế mà thiếu thân thiện. Quan Việt đề nghị tàu Mỹ cứ ghé cảng Đà Nẵng buôn bán, càng thường xuyên càng tốt. Roberts đáp: tàu Mỹ khó thể cặp bến Việt Nam khi chẳng biết gì về điều lệ buôn bán hay thuế má. Khi đại diện Huế nói Mỹ sẽ được hưởng sự đãi ngộ bình đẳng như Bri-tên và Pháp, và những nước này chẳng bao giờ thắc mắc về luật lệ, chẳng ai dám đánh thuế họ cao hơn các nước khác, Roberts nói điều này không đúng, vì Việt Nam cho Trung Hoa nhiều ưu quyền hơn Pháp và Bri-tên. Hai bên nâng ly mừng chúc sức khoẻ Tổng thống Jackson, phái đoàn Việt chúc sứ Mỹ ra đi vui vẻ, sớm trở lại, rồi cáo từ.

Ngày 8/2/1833, tàu Peacock nhổ neo. Sự thất bại này khiến Roberts cay đắng nhận định:

Ở bề ngoài toàn diện của vịnh biển, quốc gia này đang ở vào điều kiện phát triển cao, nhưng nếu quan sát gần hơn, viễn tượng tốt đẹp ấy không thực hiện được. Dân chúng không một ngoại lệ là một dân tộc dơ bẩn nhất thế giới. . . . [Người Việt] không biết được . . . khoảng cách biệt giữa hai quốc gia; họ cũng chẳng biết gì về tình hình Bắc Mỹ, cho rằng Mỹ nằm ở Âu châu như sau này tôi được biết. (27)

Tháng1-2/1834 [Chạp Quí Tị]:

* Lào: Tướng Xiêm là Phục Nha Mã Kha Thiệp, cùng em Anu [A Nỗ] là Ấp Ma Hãn, đóng quân ở đồn Phô Kham, phao tin sẽ đánh phủ Trấn Tĩnh.

Quan viên Trấn Tĩnh, Lạc Biên báo về tỉnh Nghệ An, xin viện binh. (ĐNTLCB, II, 13: 1833b, 1965:295-96)

Binh Xiêm chiếm đồn Nùng Khai, giáp địa phận Trấn Ninh. (ĐNTLCB, II, 13: 1833b, 1965:311) Binh Xiêm cùng em A Nỗ ở Viêng Chăn xâm lấn biên giới các châu Tầm Bôn, Mang Bổng, Ba Lan, Làng Thìn ở phủ Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. (ĐNTLCB, II, 13: 1833b, 1965:381-83)

Quân Xiêm tấn công Trán Tĩnh, thuộc tỉnh Nghệ An.

Nguyễn Phước Đảm định sai Tạ Quang Cự tăng viện cho Nghệ An, nhưng phải ở lại Cao Bằng vì Nông Văn Vân lại nổi dạy, mang theo 700-800 quân người Thanh. (ĐNTLCB, II, 13: 1833b, 1965:394-95)

Quân Xiêm chiếm phủ Trấn Tĩnh. (ĐNTLCB, II, 13: 1833b, 1965:404-6)

* Huế: Vua cho lệnh dân chúng không được khích bác, chế riễu những tín đồ Ki-tô đã bước qua thập tự giá. (ĐNTLCB, II, 13: 1833b, 1965:296)

* An Giang: Ang Chan, vua Chân Lạp, cưỡi thuyền nhỏ chạy sang An Giang (13: 1833b, 1965:297).

[Sau chạy sang Vĩnh Long; dân theo tới 1800 người, thuyền hơn 100 chiếc; ĐNTLCB, II, CXV,  13:1833b, 1965:377-79]

- Quân Xiêm tiến đánh phủ Bông Xuy của Chân Lạp, tiến đến vụng Xà Năng, chỉ còn cách Nam Vang một ngày đường.

Vua cho lệnh Nguyễn Văn Năng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lập tức tiến quân. (ĐNTLCB, II, 13:1833b, 1965:297-99) Phó lãnh binh Lê Đại Cương làm Lãnh binh An Giang. Thái Công Triều khai phục làm thành thủ úy. Gọi thêm hương dõng ba tỉnh An Giang, Vĩnh Long và Định Tường. Mỗi tỉnh 2000-3000 người. (ĐNTLCB,  II, CXIV, 13:1833b, 1965:298)

* Cao Bằng: Tạ Quang Cự tái chiếm Cao Bằng. (ĐNTLCB,  II, CXIV,  13: 1833b, 1965:299)

* Nam Kỳ: Nguyễn Phước Đảm sai Ngự sử Lê Hữu Bản vào Nam.

Tuyên truyền các nơi đã bình định miền Bắc; quân Xiêm không dám xâm lăng. Nghịch tặc Khôi sẽ bị truy diệt. (ĐNTLCB,  II, 13: 1833b, 1965:302-3)  Cho Thống chế Hồ Văn Khuê vào làm Tham tán đại thần ở Gia Định hoặc An Giang. Còn tăng phái cho Nam Kỳ nhiều tướng lãnh.

* Hà Tiên: Thủy binh Xiêm tới hải phận Lam Dữ.

Tuần phủ Trịnh Đường báo cáo về Gia Định. (ĐNTLCB,  II, CXV, 13: 1833b, 1965:311-2) 

Sau đó, hơn 100 chiến thuyền Xiêm xâm phạm hải phận Hà Tiên. Theo hai đường tiến đến: cửa biển Kim Dữ, và do sông nhánh Thị Lý đổ bộ. (ĐNTLCB, II, CXV,  13:1833b, 1965:316) 

Quân Xiêm tiến sát thành Hà Tiên. Giặc dùng quân người Thanh làm tiền quân. Hà Tiên thất thủ. Các quan chạy về An Giang. (ĐNTLCB, II, CXV,  13:1833b, 1965:319-20)

* Phiên An: Đàn bà trẻ con ngày một ra khỏi thành. Tất cả đều bị câu lưu.

Vua cho họ về nhà. Còn trai tráng được đi lính thú chuộc tội. (ĐNTLCB, II, CXVI, 13: 1833b, 1965:314-15, 370-71)

Theo Nguyễn Phước Đảm, chủ chốt trong vụ nổi loạn chỉ có lính Hồi Lương và tín đồ Gia tô. (ĐNTLCB, II, CXV, 13:1833b, 1965:315-16)

Trong bọn ra thú có tín đồ đạo Ki-tô. Vua ra lệnh tha và trợ cấp để họ sớm bỏ tà đạo, theo về đường chính. Vua truyền dụ cho 6 tỉnh miền Nam:

"Quân dân 6 tỉnh Nam Kỳ vốn giữ lòng tôn thân, sẵn có tinh thần trung nghĩa, trong đó có vài kẻ trót đã theo đạo Gia tô nhưng xét ra bản tâm họ chẳng qua vì tình cờ bị tả đạo mê hoặc nhưng thiên lương vẫn còn, chắc rằng lâu dần họ tự tỉnh ngộ, chớ đâu có lý nào khinh bỉ cha mẹ, làng nước mà theo loài khác? Nên chày cho năm tháng để đợi cho họ tự biến đổi lấy. Gần đây nghe nói các quan địa phương thừa hành không tốt nhất khái đều cấm đoán bài xích cả! Lại có những bọn hư hỏng tạ sự dọa nạt, khiến họ phải sợ hãi bối rối không yên! Thế không phải là ý sửa đổi phong tục dần dần.

Các ngươi nên dụ khắp dân gian: đối với những kẻ trót theo đạo Gia Tô, không cần tra bắt để họ được yên thân làm ăn. Hoặc giả có kẻ trước đi nơi khác, hoặc sa ngã vào trong bọn giặc cướp, nên biết đem mình ra thú, thì đều được rộng tha tội trước, cho về ở nhà. Xóm làng sở tại không được chỉ trích ruồng rẫy. Những kẻ bà con thân thuộc bà nên báo cáo cho nhau biết, khiến họ sớm quay đầu về." (ĐNTLCB, II, CXV, 13:1833b, 1965:349-50)

* Chân Lạp: Quân Xiêm chiếm Nam Vang. Thừa biện Hồ Công Chỉ phải triệt thoái vì viện binh không đến kịp. (ĐNTLCB, II, CXV, 13:1833b, 1965:336-39)

Cho lệnh dân chúng được tự động chiêu mộ binh sĩ, luyện tập đánh giặc. (ĐNTLCB, II, CXV,  13:1833b, 1965:339)

* An Giang: Quân Xiêm chia hai đường đánh chiếm đồn Châu Đốc. An Giang thất thủ.

Một cánh từ Hà Tiên truy kích lên.

Một cánh từ Nam Vang xuôi xuống.

Bố chính Đặng Văn Bằng và Án sát Bùi Văn Lý rút về sông Sa Đéc (phủ lỵ thành mới) để chờ cứu viện. (ĐNTLCB, II, CXVI, 13:1833b, 1965:350-51)

Vua cho sử dụng Thái Công Triều, trước đã theo nghịch Khôi. (ĐNTLCB, II, CXVI, 13: 1833b, 1965:353)

Binh thuyền của Trương Minh Giảng kéo tới thôn Phú An, ranh giới An Giang. (ĐNTLCB, II, CXVI, 13: 1833b, 1965:357-58)

- Phóng thích thân nhân những người nổi loạn, ngoại trừ những đầu xỏ như Nguyễn Văn Chắm, Vũ Công Tước. (ĐNTLCB, II, CXVI, 13:1833b, 1965:359)

Thảo nghịch Tả Tướng Quân Tống Phước Lương mang binh thuyền tới An Giang. (ĐNTLCB, II, CXVI, 13:1833b, 1965:371-72)

Trương Minh Giảng phá được quân Xiêm ở Thuận Cảng. Vua ban cho Giảng và Nguyễn Xuân tước Nam. (ĐNTLCB, II, CXVI, 13: 1833b, 1965:374-76)

* Một người Chân Lạp về thú báo cáo:

Tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri cùng em thứ hai vua Xiêm đóng tại Nam Vang với 10,000 quân.

Đạo quân đánh Châu Đốc do Phi Nhã Liêm Cầm Hiên. 200 chiến thuyền, 6-7,000 người Hoa, Lạp, Xiêm, Mán, Lào.

Đạo quân đánh Hà Tiên do Phi nhã Phạt Lăng [Chaophraya Phrakhlang] (người phụ trách vùng Nam, và việc buôn bán của Syam). Có 150 chiến thuyền. Quân lính có nhiều sắc dân, kể cả tín đồ Ki-tô người Việt. Một tù binh là tín đồ Ki-tô tên Lê Văn Công khai rằng đạo trưởng Thuần ở Xiêm tuyển mộ khoảng 2,000 tín đồ Ki-tô ở phía sau chưa tới. (ĐNTLCB, II, CXVI, 13:1833b, 1965:397-98)

* Giao tranh lớn ở Thuận Cảng. Hai tướng Việt tử trận. (ĐNTLCB, II, CXVI, 13:1833b, 1965:399-401)

20/1/1834 [11/12 Quí Tỵ]: Gia Định: Nguyễn Hựu Khôi chết bệnh.

Con là Cú được cử lên thay. Nguyễn Văn Trắm [Chắm] làm điều khiển. (Cao Xuân Dục, QTCBTY, tr 169; ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:17-8))

Tháng 2-3/1834 [Giêng Giáp Ngọ]:

* An Giang: Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đánh tan giặc Xiêm ở Cổ Hỗ. Xiêm từ Thuận Cảng dẫn 100 chiến thuyền xuống đánh Cổ Hỗ. Quân Nguyễn giết được 1 Tướng và 20 binh Xiêm. Hai bên cầm cự nhau tại đây. (ĐNTLCB, II, CXVII,14:1834, 1965:6-7)

Quân Xiêm tấn công. Vệ úy Phạm Hữu Tâm xung trận. Giết được 60 binh Xiêm. (ĐNTLCB, II, CXVII,14:1834, 1965:14-5)

Tống Phước Long đau, mang bộ hạ về Gia Định. Tán tương Trương Phúc Định thay. Bình khấu Tướng quân cũng mang 470 biền binh, cưỡi 10 thuyền ô đến tăng cường An Giang. (ĐNTLCB, II, CXVII,  14:1834, 1965:15-6)

Giặc Xiêm phải lui về Châu Đốc. (ĐNTLCB, II, CXVII, 14:1834, 1965:-27-9)

Quân Việt chiếm lại được Châu Đốc. Truy kích qua Hà Tiên. (ĐNTLCB, II, CXVII, 14:1834, 1965:33-6)

ít lâu sau, chiếm lại đồn Hà Tiên. (ĐNTLCB, II, CXVIII,  14: 1834, 1965:40-5)

Trần Văn Năng, Trương Minh Giảng dẫn quân lên Nam Vang. (ĐNTLCB, II, CXVIII, 14:1834, 1965:46-7) Vua sai hộ tống vua Chân Lạp từ Vĩnh Long về nước. (ĐNTLCB, II, CXVIII, 14:1834, 1965:48) Quân Xiêm cũng rút khỏi Lào. (ĐNTLCB, II, CXVIII, 14:1834, 1965:49-51)

* Gia Định: 40 quân nổi loạn lẻn ra ngoài thành.

Bị giết 2 tên. (ĐNTLCB, II, CXVII, 14:1834, 1965:8-9)

Có tin Lê Văn Khôi đã chết ngày 20/1/1834 vì bệnh phù thủng. (Giặc suy con Khôi là Cù, mới 8 tuổi lên thay. Cầm đầu trong thành bây giờ là Nguyễn Văn Chắm.

Chắm quê ở Hưng Yên. Vợ con đã bị bắt. Vua cho lệnh giết vợ, con gái và cháu Chắm, tổng cộng 8 người. Con trai là Trịnh được mang vào Gia Định để gọi Chắm ra hàng. (ĐNTLCB, II, CXVII, 14:1834, 1965:17-8) 50 người ra hàng. (ĐNTLCB, II, CXVIII, 14:1834, 1965:47)

* Ba Cầu Nam Phủ: Quân Chân Lạp đẩy lùi quân Xiêm. (ĐNTLCB, II, CXVII,  14:1834, 1965:18-9)

* Cao Bằng: Nông Văn Vân lại nổi lên ở Cao Bằng. (ĐNTLCB, II, CXVII, 14:1834, 1965:24-6) Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ truy đánh. Vân phải mang gia đình chạy qua Hoa Nam. (ĐNTLCB, II, CXVII, 14:1834, 1965:30-3)

16/2/1834 :

* Bangkok : Thư Taberd từ Xiêm [ngày 16/2/1834] gửi Barantin, Giám đốc truyền giáo Singapore: Trên tàu Nguyễn đôi khi có thông ngôn Ki-tô. Đáng tin cậy nhất là Michel Cuu, ở Thợ Đúc. Hai người khác Pierre Mân [Nguyễn Văn Mẫn] và Philippe, con Vannier tự nhận là Ki-tô. Chỉ nên giao thư cho hai người này trong trường hợp Jaccard (Cố Phan) còn sống, hoặc nếu y nói đã biết Delamotte (Cố Y). [tr. 149] Tài liệu 58 :

[Tháng 12/1835-1/1836: Sai thông ngôn Nguyễn Văn Mẫn, và nhân viên Tứ dịch quán Trần Đại Trung, Nguyễn Hữu Quang đi Hạ Châu rồi ở lại học tập. (ĐNTLCB, II,17:1835-1836, 1966:217)]

* Gia Định: Tiền quân chưởng phủ sự Nguyễn Văn Năng chết bệnh ở bến Siêu trên đường rút quân. Nguyễn Phước Đảm phong làm Thái phó, tước Tân thành quận công. Cao Xuân Dục, QTCBTY, tr  171.

Xiêm đánh phá vùng Nghệ An. Phạm Văn Điển chống phá giặc ở Trấn Tĩnh. Cao Xuân Dục, QTCBTY, tr  171.

10/3-8/4/1834 [Tháng Hai Giáp Ngọ]:

Xiêm tiếp tục khuấy phá Nghệ An. Hữu quân Nguyễn Văn Xuân làm Tổng đốc An-Tĩnh, Kinh Lược sứ, chống phá giặc ở Trấn Ninh. Cao Xuân Dục, QTCBTY, tr  172.

Cao Bằng: Tạ Quang Cự bị cách tước bá vì thua trận. Cao Xuân Dục, QTCBTY, tr  172.

Lạng Sơn: Bắt được Nguyễn Khắc Thước. Cao Xuân Dục, QTCBTY, tr  172.

Nam Vang: Đuổi xong giặc Xiêm. Dụ cho Trương Minh Giảng và Thái Công Triều rút về Gia Định. QTCBTY, tr  172.

Quảng Trị: Quân Xiêm vâm phạm châu Ba Lan, Cam Lộ. Tuần phủ Quảng Trị tới Ba Lan. Dương Văn Phong tạm thời hộ lý Quảng Trị. QTCBTY, tr  172.

Con trai A Nỗ và gia quyến xin đến Nghệ

Tháng 4-5/1834 [Ba Giáp Ngọ] Đánh tan được quân Xiêm ở Chân Lạp. Để lại 2000 quân ở Nam Vang. Vua dự trù xây đồn "An Man," cử một lãnh binh coi.

Tháng 5-6/1834 [Tư Giáp Ngọ]: * Lào: Phản công quân Xiêm ở Khung Giang. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:229)

* Chân Lạp: Thành An Man xây gần xong. Cho vua Chân Lạp [Ang Chan] dời đô về Nam Vang. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965: 233-234) Hoãn việc triều cống cho Chân Lạp. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:239)

* Phiên An: Giết con Chắm là Nguyễn Văn Trịnh, vì Chắm không chịu hàng. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:228-29)

* Phiên An: Cử Nguyễn Xuân làm Thảo nghịch Tả tướng quân. (ĐNTLCB, , II, 14: 1834, 1965:242)

Tống Phước Long và Tham tán Lê Đăng Doanh phải về Kinh. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:244) 

* Dòng dõi vua Chiêm là Nguyễn Văn Thừa bị tống giam. Lý do là đã nhận lời Khôi mưu toan làm phản.( ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:259)

* Chân Lạp: Lại có tin quân Xiêm định tấn công Chân Lạp. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:261)

* Lào: Nguyễn Văn Xuân và Phạm Văn Điển tiến vào Trấn Tĩnh.

Con trai A Nỗ và gia quyến xin đến Nghệ An tị nạn. Cho đóng ở Qui Hợp. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:272-73)

25/5/1834: * Lao Bảo: Linh mục Odorico, gốc Italia, chết trong ngục. (Huồn 1965, I:294)

Tháng 6-7/1834 [Năm Giáp Ngọ]:

* Chân Lạp: Trương Minh Giảng bắt đầu thương thuyết với Phi Nhã Chất Tri. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:287)

* Huế: Báo cáo về việc quân Xiêm. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:296-98)

Tháng7-8/1834 [Sáu Giáp Ngọ]:

15/7/1834: Nguyễn Phước Đảm ban hành "Thánh Dụ Huấn địch thập điều." Nguyên bản tác phẩm trên cùng bản diễn ca của Nguyễn Phước Thời năm 1870 đã được Lê Hữu Mục phiên dịch và chú giải với tựa Huấn địch thập điều (Sài Gòn: 1971). 

Năm 1837, tức ba năm sau ngày Nguyễn Phước Đảm công bố "Hiến chương giáo dục" của mình bằng Hán tự, Hội thừa sai Pháp bí mật lưu hành một tập kinh bổn bằng chữ Nôm, với tựa Thánh giáo yếu lý quốc ngữ, gồm 10 điều răn, học thuyết ba ngôi, và bản chất "Đức chủ trời" [thượng đế]. (Bibliothèque Nationale (Paris), sách chữ nôm, bản B-5; Woodside 1971:58)

* Nam Vang: Phó vệ úy Nguyễn Văn Hòa làm Lãnh binh đồn An Man. Thái Công Triều hợp lực cai quản binh đội. (ĐNTLCB, II, 14: 1834, 1965:359)

5/8-2/9/1834 [Tháng Bảy Giáp Ngọ]:

Tháng 9-10/1834  [Tám Giáp Ngọ]:

24/9/1834: Joseph Marchand viết thư cho Taberd.

Theo Marchand, trong thành Gia Định có khoảng 3,000-4,000 người, phần đông là dân Bình Thuận. Họ đang bị lính triều bao vây. Nguyễn Phước Đảm đang cho lệnh phải đánh quân sĩ nổi dạy, và bắt đạo.

Những người cầm đầu yêu cầu Marchand chỉ cho may lá cờ của Constantine [có hình thập tự], nhưng Marchand không đồng ý. Tháng trước, họ cũng gửi một sứ đoàn giáo dân Ki-tô qua Bangkok, và yêu cầu Taberd về Sài Gòn. Nhưng nay Marchand yêu cầu Taberd cứ ở lại Bangkok.

Báo tin nhà thờ Chợ Quán bị phá hủy ngày hôm trước [23/9/1834?]. (Louvet, La Cochinchine religieuse, II:83-4; Huồn 1965, I:306-7)

3-31/10/1834 [Tháng Chín Giáp Ngọ]:

Lý Văn Phức đi Quảng Đông về, báo cáo tàu buôn Hồng Mao cầu khích với người Tàu. (QTCBTY, 1971:192)

1-30/11/1834 [Tháng Mười Giáp Ngọ]:

(QTCBTY, 1971:192)

1-29/12/1834 [Tháng Một Giáp Ngọ]:

(QTCBTY, 1971:192)

1835

Tháng 12/1834-1/1835 [Chạp Giáp Ngọ]:

Đặt ra Viện Cơ Mật. (QTCBTY, 1971:192)

Quảng Trị: Đặt lại thuế ở châu Hường Hóa, Cam Lộ.

Chia làm làng ấp, vì dân tình nguyện “cải theo lệ Hán.” (QTCBTY, 1971:192)

Thừa Thiên: Đặt thêm 3 huyện Phú Lộc, Hương Thủy, Phong Điền.

Nam Vang: Ang Chan [Nak Ong Chan] chết. Cho Tra Long và Vệ úy La Kiên giữ lấy quốc ấn, theo Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương làm việc. (QTCBTY, 1971:193)

29/1/1835: Nguyên đán Ất Mùi.

Tháng 1-2/1835 [Giêng Ất Mùi]: Nguyễn Phước Đảm cho lệnh quân đào đường hầm tới sát chân thành Phiên An. Số người ra thú lên tới 550 người. 525 người Thanh, Chân Lạp và Nam Kỳ; 25 người Bắc Kỳ. Một số tìm cách trốn đi. Cho lệnh kiểm soát nghiêm ngặt.( ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:10-11)

* Chân Lạp: Sai Phan Thanh Giản đến đồn An Man tuyên chỉ: Phong Ang May [Ngọc Vân] làm Ngọc Vân Chân Lạp quận chúa. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:21, 105-6) Đổi đồn An Man làm thành Trấn Tây. Trương Minh Giảng làm Tổng đốc, phụ tá có Lê Đại Cương. Lại sai thêm 20 viên chức qua làm việc. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:22)

Trương Minh Giảng được phong tuớc Bình thành bá, Đông các Đại học sĩ, lãnh ấn Tổng đốc An-Hà, bảo hộ Chân Lạp. Nguyễn Xuân làm Đô thống, Thái tử Thái bảo, lãnh Tổng đốc Vĩnh Long, Định Tường. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:24-5) Nguyễn Văn Hòa được đổi làm Lãnh binh thành Trấn Tây; vệ úy Nguyễn Văn Tình làm Phó Lãnh binh. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:41)

27/2-28/3/1835 [Tháng Hai Ất Mùi]:

* Gia Định: Thi Hương.

Lấy 9 cử nhân. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:59)

* Phiên An: Phó tướng Nguyễn Văn Thùy chết. (ĐNTLCB, 26: 1835, 1966:63)

* Bình Thuận: Dân Chàm nổi loạn. (ĐNTLCB, 26: 1835, 1966:68-71, 77-9, 80-4,93-4, 97-8, 102-3, 119-22)

* Bắc Ninh: Phạm Bá Mật nổi lên ở Bắc Ninh. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:77)

* Thái Nguyên: Bắt được Bế Văn Huyền, đóng cũi giải về kinh giết đi. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:85)

29/3-27/4/1835 [Tháng Ba Ất Mùi]

* Chân Lạp: Nặc Ông Giun [Ang Duong] cho người liên lạc Trương Minh Giảng.

Ý muốn xin về nước. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:107-9)

* Chân Lạp: Đắp thành Trấn Tây. (ĐNTLCB, 26: 1835, 1966:134-35)

Cử Tôn Thất Tuệ, Thị vệ bậc 4, làm Thành Thủ Úy, coi đội pháo thủ. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:182)

Nặc Ông Giun [Ang Duong] mưu khôi phục. (ĐNTLCB, 26: 1835, 1966:193-94)

* Phiên An: Quân giặc liều mình ra thành đánh lớn. (ĐNTLCB, 26: 1835, 1966:132-34)

* Hà Tiên: Lập đồn điền ở Hà Tiên. (ĐNTLCB, 26: 1835, 1966:135-36)

* Phạm Văn Điển giết được Nông Văn Vân. (ĐNTLCB, 26: 1835, 1966:148-54)

28/4-26/5/1835 [Tháng Tư Ất Mùi]:

3/5/1835: Từ Xiêm, Taberd phong Etienne T Cuénot Thể làm Giám Mục để lén về Qui Nhơn lo đối phó Nguyễn Phước Đảm. 21/6/1835: Cuénot tới Phú Yên. Lập 2 chủng viện ở An Ninh (Huế, nay là Quảng Trị) và Lái Thiêu. Nhà tu nữ có 18 nhà, gồm 250 nữ tu.

27/5-25/6/1835 [Tháng Năm Ất Mùi]:

27/5/1835: * Huế: Cho lệnh giết dòng giõi vua Chiêm Thành.

Đó là Nguyễn Văn Thừa và Nguyễn Văn Nguyên. (ĐNTLCB, II, 16: 1835, 1966:281).

- Làm lễ "bảo tất" [ôm đầu gối] Cho Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, cùng các tham tán Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thụy, Nguyễn Tiến Lâm, Hồ Hựu được ôm gối theo kiểu nhà Thanh.

"Điển giắt hốt và đai, đi bằng đầu gối, tiến lên. Vua ruỗi một chân ra, Điển chia hai tay ôm lấy, ngẩng lên, khấu đầu một cái. Được đặc chỉ ban khen và tiền thưởng, Điển liền dơ tay lên trán, nhận lãnh rồi lại khấu đầu một cái, đi bằng đầu gối lui ra đến chỗ phủ phục trước, cầm hốt, lại khấu đầu một lần nữa, rồi rảo bước đi ra (ĐNTLCB, 26: 1835, 1966:292-93). Trứ cũng theo những nghi lễ tương tự, nhưng có vẻ miễn cưỡng.

* Phiên An: Quan tướng Gia Định báo cáo tình trạng quân nổi loạn:

Về sự canh phòng của đảng giặc: mặt trước thì nghịch Hàm đốc suất độ 100 người đạo Gia-tô; mặt sau thì nghịch Chắm đốc xuất độ 200 người Hồi lương, Bắc thuận; mặt tả thì nghịch Quế đốc xuất độ 150 người Hồi lương; mặt hữu nghịch Minh đốc xuất độ 200 người Hồi lương, Bắc thuận và Gia Định. (ĐNTLCB, II, 26: 1835, 1966:322)

Giao cho Phạm Hữu Tâm làm thự Thảo nghịch Hữu tướng quân, hiệp với Tả tướng quân Nguyễn Xuân đánh giặc. Nguyễn Văn Trọng vẫn giữ chức Tổng đốc Định-Biên.

26/6-25/7/1835 [Tháng Sáu Ất Mùi]:

* Huế: Nguyễn Phước Đảm cử lễ bảo tất. Vua tự tay rót rượu cho Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thụy, Nguyễn Tấn Lâm, Hồ Hựu. (QTCBTY, 1971:196)

* Quảng Ngãi: Lập đền thờ thần Hoàng Sa ở bãi biển.

Bãi Hoàng Sa ngoài biển có một chỗ cây cỏ rậm tốt, trong cồn có giếng, phía tây nam có miếu và bia đá khắc bốn chữ Vạn Lý Ba Bình.

Vua cho lập miếu, dựng bia, đằng trước xây một bình phong. (QTCBTY, 1971:197)

26/7-23/8/1835 [Tháng Sáu Ất Mùi nhuận]:

* Huế: Cho lệnh kiểm soát dân cư ngụ và ra vào các tỉnh thành. (ĐNTLCB, II,17:1835-1836, 1966:5)

- Bắt các tỉnh thuộc Gia Định và Bắc Thành phải nộp vào kinh các du sơn đồng pháo và đại luân xa đồng pháo. (ĐNTLCB, II,17:1835-1836, 1966:5-6)

- Cho Phan Thanh Giản làm Bố chính Quảng Nam, hộ lý ấn quan phòng tuần phủ Nam-Ngãi.  (ĐNTLCB, II,17:1835-1836, 1966:6)

- Vua chê câu đối của Minh Thái tổ là quê kệch.( ĐNTLCB, II, 17, 1966:6)

- Qui định lại ngạch lãnh binh và phó lãnh binh.

Phàm tỉnh hạt to, quân lính nhiều thì đặt một lãnh binh quan và phó lãnh binh. (9 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Định, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây và Trấn Tây).

Tỉnh có ít quân hơn chỉ đặt một lãnh binh (4 tỉnh Bình Định, Bình Thuận, Vĩnh Long và An Giang).

Những tỉnh gần kinh kỳ, những tỉnh trung bình và những nơi địa đầu xung yếu đều đặt lãnh binh (8 tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thanh Hoa, Ninh Bình, Hưng Yên, Lạng Sơn và Hà Tiên).

Những tỉnh nhỏ mà quân ít chỉ đặt một Phó lãnh binh (9 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Biên Hòa, Định Tường, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Quảng Yên và Cao Bằng)

Lãnh binh dùng quan Chánh tam phẩm; Phó lãnh binh, tòng tam phẩm. Duy ở Thanh-Nghệ có Thần sách kinh binh (quân cứng mạnh), lãnh binh dùng quan tòng nhị phẩm; phó lãnh binh, chánh tam phẩm.

Tỉnh nào có nhiều lính thủy (Nghệ An, Thanh Hoa, Nam Định và Hà Nội) thì đặt một thủy sư phó lãnh binh (tòng tam phẩm)

Hoàng Văn Lý, lãnh binh Hà Tiên, trật tòng nhị phẩm; Nguyễn Văn Tình, Phó Lãnh binh Trấn Tây, trật tam phẩm. (ĐNTLCB, II,17:1835-1836, 1966:20-2)

Tháng 7-8/1835 [Sáu Ất Mùi nhuận]:

Quan tướng Gia Định báo cáo tình trạng quân nổi loạn:

Về sự canh phòng của đảng giặc: mặt trước thì nghịch Hàm đốc suất độ 100 người đạo Gia-tô; mặt sau thì nghịch Chắm đốc xuất độ 200 người Hồi Lương, Bắc Thuận; mặt tả thì nghịch Quế đốc xuất độ 150 người Hồi Lương; mặt hữu nghịch Minh đốc xuất độ 200 người Hồi Lương, Bắc Thuận và Gia Định. (ĐNTLCB, II, 16:1835, 1966:322)

[đội Hồi lương Gia Định thành lập tháng 1-2/1825 [12 Giáp Thân]: 492 tù xung quân và tội lưu được tổ chức thành 10 đội Hồi lương; mỗi đội 50 người. (ĐNTLCB, II, 7:1824-1826,  1964:103)]

Tháng 26/7-23/8/1835 [Sáu Ất Mùi nhuận]:

- Sai soạn cuốn Ngự chế tiễu binh Lưỡng kỳ nghịch phỉ phương lược.

Tuyển tập những châu phê của Nguyễn Phước Đảm, vì vua “Văn thì thần, võ thì thánh, rực rỡ như trăng sao vận hành ở trên trời, cuồn cuộn như sông ngòi mông mênh ở mặt đất.” Trương Đăng Quế và Hà Tông Quyền lo việc biên tập. Sách soạn xong gồm 153 quyển, 142 quyển chính biên, 8 quyển phụ biên, 2 quyển thơ, 1 quyển mục lục. (ĐNTLCB, II,17:1835, 1966:25-26)

* Gia Định: Quân lính đào khoét vào thân thành làm chỗ ẩn thân.

Thế giặc càng ngày càng yếu. Đại bác của giặc bị lật đổ, kho thuốc súng phát nổ. (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966:11-12, 14-16)

* Hải Dương: Tổng đốc Nguyễn Công Trứ xin hoãn thu gạo.

Tỉnh này có 18 huyện, nhiều ruộng mùa hơn chiêm. Năm nay mùa Chiêm không tốt, xin trợ giúp. (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966, 1966:12-13)

* Cao Bằng: Đặt thêm phủ Hòa An.

Tỉnh này có 1 phủ 5 huyện, đất rộng man mác. Nay lấy hai huyện Thạch Lâm và Thạch An làm phủ Hòa An. Còn ba huyện Thượng Lang, Hạ Lang và Quảng Uyên vẫn thuộc phủ Trùng Khánh. (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966:16-7)

* Vĩnh Long: Phong Bố chính Quảng Ngãi là Trương Văn Uyển làm Bố chính Vĩnh Long.

Hiệp cùng Án sát Vũ Xuân Diệu, Lãnh binh Nguyễn Văn Dụ, quyền giữ ấn quan phòng Tổng đốc Long-Tường. Tôn Thất Bạch thay Uyển làm Bố chính Quảng Ngãi. (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966:17)

- Bắt đầu đặt thuế đinh, thuế điền. (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966, 1966:22-23)

* Trấn Tây: Nguyễn Phước Đảm chỉ thị cho Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương, bảo hộ thành Trấn Tây. (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966, 1966:26-28)

Giảng được chức Tổng đốc An-Hà; Cương chức Tuần phủ. (Ibid., 28)

Tháng 8-9/1835 [Bảy Ất Mùi, 24/8-21/9/1835]: Sai thị lang bộ Lễ, Nguyễn Tri Phương, vào tham quan Phiên An ít ngày bằng đường bộ.

- Lập đàn cầu siêu ở chùa Thiên Mụ.

Việc lập đàn cầu siêu này là do lòng thương sót tử sĩ, “chẳng phải dốc lòng mê tín đạo Phật.”  Cấp giới đao [dao cắt áo] và độ điệp [văn bằng] cho các nhà sư giữ giới. (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966:33-34)

- Xây hầm chứa bạc ở Nội vụ phủ.

Lấy 800,000 lạng đựng vào 800 hòm [rương].  (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966:35)

* Trấn Tây: Quan nước Chân Lạp dâng 24 thớt voi.

* Phiên An: Ba góc thành Phiên An đã bị sụp.

* Thái Nguyên: Đặt thêm phủ Tùng Hóa.

Tách ra từ 4 huyện Định Châu, Văn Lãng, Phú Lương và Đại Từ của Phủ Phú Bình. Phủ Thông Hóa vẫn giữ nguyên. (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966:36-37)

An Giang: Đổi phủ Ba Thắc của Chân Lạp làm phủ Ba Xuyên.

Đất này nằm xen kẽ giữa hai tỉnh An Giang và Hà Tiên. Tây giáp huyện Vĩnh Định, An Giang. Nam giáp huyện Long Xuyên tỉnh Hà Tiên. Cách xa thành Nam Vang.

Có khoảng vài ngàn người Triều Châu và nhiều người Việt ở xen vào. Nguồn lợi về cá, muối, thóc gạo. Có hai nhánh sông thông ra cửa biển, giặc cướp dễ bề qua lại thuận tiện. Thuyền buôn cũng dễ buôn lậu.

Nguyễn Phước Đảm cho lệnh thành lập phủ lị. (ĐNTLCB, II,17: 1835, 1966:42-43)

Cử Nguyễn Gia Nghi, viên ngoại lang [V-2, chánh văn phòng] bộ Lại làm án phủ sứ. Nhiệm vụ chính là thu thuế giống như Khai Biên và Quảng Biên.

8/9/1835 [16/7 Ất Mùi]: Quân Nguyễn hạ được thành Phiên An (Gia Định).

Quan quân chết trận hơn 60 người, bị thương hơn 400. Tù phạm đã ra thú chết trận hơn 20 người, bị thương hơn 70 người.

Bắt hoặc chém được 1,832 tên phạm. Chém được 554 tên, kể cả (kể cả Trung quân Nguyễn Văn Quế, Hữu quân Nguyễn Văn Hàm, Hậu quân Nguyễn Văn Từ, Phó tướng Phạm Văn Hòa và ba con trai Khôi là Câu, Tiểu Câu và Bế, và 64 lính Ki-tô), chôn ở Chí Hoà, gọi là "mả Ngụy."

Bắt sống 1,278 người. Joseph Marchand (Mã Song, Du tức Phú Hoài Nhân) bị đóng cũi giải về Huế cùng Nguyễn Văn Chắm (Tiền quân điều khiển), Lưu [Hằng] Tín (Công bộ thái khanh) và Lê Văn Viên, con Khôi, mới có 7 tuổi, cùng 4 con gái khác của Khôi; Lê Bá Minh (Tả quân), Đỗ Văn Dự (Lễ bộ kiêm Binh bộ Thái khanh), (ĐNTLCB, II, 17:1835-1836, 1966:47-51)] [Xem 30/11/1835]

 [Có tin còn thêm Nguyễn Văn Phước, phó tế xứ Chợ Quán (cùng 1 vợ cả, 4 vợ lẽ) , Mạc Tấn Giai, một người Hoa,

Cho lệnh tìm xác Khôi, đào lấy hài cốt, tán nát ra chia giao 6 tỉnh bỏ vào hố xí, còn thịt thái cho chó ăn. Rồi đóng hòm đựng đầu lâu đưa về kinh, bêu khắp các chợ để răn những kẻ phản tặc. Lại chia các đầu mục giặc, giao cho Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên và Trấn Tây mỗi nơi một tên, lăng trì xử tử, bêu đầu ba ngày rồi quăng xác xuống sông.

Giết hết 1940 người, kể cả 64 lính Ki-tô, chôn ở Chí-hoà, gọi là "mả Ngụy." Trên mộ có tấm bia đề “Nghịch tặc biền tru xứ” [chỗ nghịch tặc chụm đầu bị giết]. (ĐNTLCB, II, 17:1835-1836, 1966:46-54, 86) [Xem 30/11/1835]

Còn cho lệnh phá thành. (ĐNTLCB, II, 17:1835-1836, 1966:55-56)

Tháng 9-10/1835 [Tám Ất Mùi]:

15/10/1835: Marchand và đồng bọn bị giải về Huế. Bị giam trong trại Vũ Lâm.

Theo lời khai của các tướng giặc, Khôi làm loạn để phò An Hòa [con Mỹ Đường/Hoàng tôn Đán] lên ngôi. An Hòa hứa sẽ theo đạo Ki-tô, và Marchand là linh hồn của cuộc nổi dạy. Trong khi đó, các giáo sĩ ở ngoại quốc yêu cầu Xiêm La và các nước Âu châu, kể cả Hồng Mao, tiếp tay. (Annale de la Propagation de la foi, 1835, tr. 538; Huồn 1965, I:309)

Tháng 11-12/1835 [Mười Ất Mùi]:

28/11/1835: Huế: Xử tử Andre Trần Văn Trông [Thông?].(Huồn 1965, II:331-332)

30/11/1835: Huế: Xử lăng trì Linh mục Du [Joseph Marchand], người Pháp tại họ đạo Thợ Đúc. (Huồn 1965, I:315-317).

Vụ án làm loạn của Hường Bảo (1825-1854) dưới triều Nguyễn Phước Thời (10/11/1847-19/7/1883):

Hường Bảo là con trưởng Nguyễn Phước Tuyền [Miên Tông] (11/2/1841- 4/11/1847), niên hiệu Thiệu Trị, nhưng mẹ là vợ thứ, tên Đinh Thị Hạnh, cô Thành phi Phạm thị Hằng, gốc Gò Công. Định Tường [mẹ Hường Nhiệm, 1829-1883]  Tháng 9/1845 [Tám Ất Tị, 2-30/9/1845], Bảo có con trai. Nguyễn Phước Tuyền đặt tên là Ưng Phước/Phúc, cho ẵm vào cung Từ Thọ của bà nội là Thái Hoàng Thái hậu nuôi nấng, thưởng cho rất nhiều. Vua còn đặc cách cho lương hoàng trưởng tôn, vì ngũ đại đồng đường. Xưa nay, hoàng tôn chỉ được lương sau ba [3] tuổi.[45]

Tháng 11-12/1845 vua sai bộ Lễ làm lễ tiến tôn [giới thiệu cháu nội lên tổ tiên]. Dâng sách vàng. Ban chiếu 25 điều. (ĐNTLCB, III, LII, 25:1844-1846, 1971:357-62) Ngày 30/11/1845: Lễ ngũ đại đồng đường. (ĐNCBLT, I, q 5; (Huế, 1993), 2:84-6 (Đạt)) Tháng 5-6/1846, đặt yến “ngũ đại đồng đường.” (ĐNTLCB, III, LVII, 26:1846-1848, 1972:63) Vua cấy tịch điền. Hường Bảo được theo đi cày. (ĐNTLCB, III, LVII, 26:1846-1848, 1972:80-1)

Tháng 4-5/1842 [Ba Nhâm Dần, 11/4-9/5/1842] An Giang: Phạm Văn Điển phá tan quân Xiêm ở Hà Âm. (ĐNTLCB, III, XVI, 24: 1842-1843, 1971:80)

Tháng 3-4/1842 [Hai Nhâm Dần, 12/3-10/4/1842]

28/3/1842 [ngày Mậu Tuất?]: Nguyễn Phước Tuyền tới Hà Nội.

Đổi tên chùa Trấn Quốc thành Trấn Bắc. (ĐNTLCB, III, XVI, 24: 1842-1843, 1971:60)

* Gia Định: Loạn ở miền An Giang.

Ngày 20/10/1846 [1/9 Bính Ngọ], Nguyễn Phước Tuyền và Hường Bảo làm lễ tạ ơn Thái Hoàng thái hậu), bà nội Nguyễn Phước Tuyền, khỏi bệnh; nhưng thái hậu đột ngột qua đời ngày 6/11/1846, thọ 78 tuổi. Đám tang do Hậu quân Đô thống Tôn Thất Bật và Đào Trí Phú phụ trách. ĐNTLCB, III, LXI, 26: 1846-1848, 1972:157-59. Bật là cựu Tổng đốc Hà Nội, làm thự Tổng đốc Quảng Nam sau cuộc bắn phá của chiến hạm Pháp ngày 15/4/1847. Đào Trí Phú, rất thân cận của Nguyễn Phước Tuyền, thì bị thất sủng từ ngày mua hàng hóa Tây dương cho Nguyễn Phước Thời, rồi bị dân kiện, bị hạ ngục, chịu lăng trì trong vụ án “làm loạn” của Hường Bảo.

Tháng 9-10/1847, Hoàng tử thứ hai  Hường Nhiệm, bị bệnh đậu mùa. Khỏi bệnh, Nguyễn Phước Tuyền cho một bộ Ngự chế Chỉ thiện đường hội tập.  (ĐNTLCB, III, LXXI, 26:1846-1848, 1972:374-75)

Tháng 1-2/1846, Nguyễn Phước Tuyền phong Thành phi Phạm thị Hằng [mẹ Hường Nhiệm] tước Quí phi. (ĐNTLCB, III, LIV, 26:1846-1848, 1972:15-16)

Tháng 9-10/1847: Viện Cơ Mật xin in tập thơ Vũ cống của Nguyễn Phước Tuyền, vì nhà vua “đức cao hơn những đời chuộng văn, đạo thịnh hơn những đời chuộng võ.” Từ khi lên ngôi, “phong hóa lan khắp, đạo trị quang minh, trong thì nhân dân nhảy múa mừng Xuân, ngoài thì phương xa lặn lội đến cống, đùn đùn như mây Đường Nghiêu bay, sang sảng như đàn Ngu Thuấn gẩy.” (ĐNTLCB, III, LXXI, 26: 1846-1848, 1972:368-374)

Ca ngợi công lao gìn giữ Cao Miên. Vua phê: Được [Khả]. (ĐNTLCB, III, LXXI, 26: 1846-1847, 1972:374)

13/10/1847: Nguyễn Phước Tuyền ngả bệnh. Hôm sau khá hơn. Ngày 14/10, thiết triều. Sau đó lại bệnh nặng hơn.

25/10/1847 [ngày Quí tị, 17/9 Đinh Mùi]: Nguyễn Phước Tuyền bí mật lập "di chiếu" đưa Phước Tuy Công Hường Nhiệm (1829-1883), con quí phi Hằng lên ngôi. Gọi bốn [4] đại thần là Trương Đăng Quế (1794-1865), Võ Văn Giải (chết 1853), Nguyễn Tri Phương (1800-1873) và Lâm Duy Thiệp [Hiệp] đến bên giường bệnh, cho biết muốn lập con thứ hai là Nhiệm thay vì con trưởng , An Phong Công Hường Bảo. “Hường Bảo tuy lớn, nhưng là con vợ thứ, mà lại ngu độn, ít học, chỉ ham vui chơi, không thể để cho kế thừa nghiệp lớn được.” Ngoài triều đình không ai hay biết. [Di chiếu không đề ngày].[46]

Hường Bảo than phiền rằng “Tẻ tướng” Trương Đăng Quế đã sửa đổi di chiếu đưa Hường Nhiệm lên ngôi.

Có 54 con, gồm 29 hoàng tử, 25 hoàng nữ. (ĐNTLCB, III, LXXII, 26: 1846-1848, 1972:390) Đa số có truyện trong Chính Biên Liệt Truyện, nhị tập, quyển 8, 9 và 10; ĐNCBLT, II, (1993), 2:153-203. Công chúa  út là vợ Nguyễn Lâm, con trai Nguyễn Tri Phương, bị tử trận ngày Pháp chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất, 20/11/1873. Một tháng sau, ngày 20/12/1873, Võ Hiển Đại học sĩ Phương từ trần vì không chịu chữa vết thương ở đùi. ĐNCBLT, II, (1993), 2:202-3; ĐNTLCB, IV, [q XLIX, ] 32: 1870-1874, 1972:336, 349)

Năm 1866, Nguyễn Phước Thời giết hết con trai Hường Bảo nhân vụ Đoàn Trưng làm phản, hay “Giặc Chày Vôi.”

10/2/1842: Tết Nhâm Dần

Tháng 2-3/1842, dời phủ lỵ Lạc Hóa An Giang vào thôn An Tĩnh; huyện lỵ Trà Vinh vào thôn Vĩnh Trường (thuộc phủ Tuân Nghĩa). (ĐNTLCB, III, XV, 24: 1842-1844, 1971:7)

26/11 [12?]/1848: Giám mục Đường Trong Tây Jean-Marie Pellerin báo cáo về việc Hường Bảo nhiều lần móc nối giáo dân Ki-tô để lấy lại ngai vàng. Bảo hứa sẽ không những chỉ cho tự do giảng đạo mà còn khuyến khích toàn dân cải đạo. Những người thân tín [néophytes] tham khảo ý kiến Pellerin nhiều lần, nhưng Pellerin khuyến cáo con chiên đừng dính líu vào chính trị. (Annales de la Propagandation de la Foi, vol XXII, 1850, tr. 369,370; CAOM [Aix], APF, 1850, tr 370). Vulliez, “Un voyage à Hue en 1880;” BAVH, XXI:3 (July-Sept 1934), tr. 212-213n1 [199-219]).

- Tháng 11-12/1848 Nguyễn Phước Thời tăng bổng lộc hàng năm cho Hường Bảo. Mỗi năm Hường Bảo được thêm 500 quan tiền [4,000 francs] và 500 phương gạo. (ĐNTLCB, IV, III, 27:1848-1854, 1973:144).

25/5/1851: GM Retord báo cáo mới nhận được thư ngày 23/2/1851 của Pellerin nói Hường Bảo mưu định trốn đi nước ngoài để tìm cách lấy lại ngôi vua; đã thành công, và vua nghi giáo dân Ki-tô tiếp tay. Trong một lệnh cấm đạo, nêu rõ: “Nhưng điều ác lớn nhất là chúng [giáo dân Ki-tô] vừa mới mưu toan quyến rũ một hoàng tử.” (Annales de la Propagation de la Foi, tome XXIV, 1852, pp. 8-10; Vulliez, “Un voyage à Hue en 1880;” BAVH, XXI:3 (July-Sept 1934), tr 214n1 [199-219]).

Hường Bảo có chín [9] con trai, một [1] con trai nuôi, và tám [8] gái. Bị đổi qua họ Đinh, theo họ mẹ. Hai [2] trai và hai [2] gái bị đầy đi Lao Bảo. Hai công chúa được hưởng lương như những con gái khác; Vulliez, “Un voyage à Hue en 1880;” annoté par Cadière; BAVH, vol 21, no 3 (7-9/1934), p 212n1 [179-219].

Báo cáo v/v bắn phá Đà Nẵng năm 1847 [Augustine Lapierre & Rigault de Genouilly].

9/3/1858: Giám mục Etienne Théodore Cuénot, Giám Mục Đàng Trong Tây, [chết trong ngục Bình Định năm 1862] gửi thư báo tin Linh mục Roy đã đến Bình Định ngày 24/6/1857, và cái chết của Combes, người thiết lập họ đạo ở vùng “mọi.”  Vào cuối năm âm lịch, có thêm hai dụ cấm đạo.  (LC 1858:25).

Trong đợt bài đạo cuối cùng của Nguyễn Phước Thời, hai linh mục

Pierre Francois Neron ở Đường Ngoài bị chắt đầu tại Sơn Tây ngày 3/11/1860,

Jean Théophane Venard ở Đường Ngoài bị chắt đầu tại Hà Nội ngày 2/2/1861.

17 người Việt, 1 nữ, 16 nam; 7 giáo mục bản xứ  [prêtres], 4 thày kẻ giảng [catéchistes], 6 tín đồ [chrétiens] [7. Michel Hồ Đình Hỷ, tín đồ, Đường Trong Bắc [Cochinchine septentrionale], chặt đầu ở An Hoa ngày 22/5/1857]; (Seminaire de Missions Etrangères, Lettre commune, No 47, 31/7/1909.

1. Agnès Lê Thị Thanh/Bà Đễ ; Đường Ngoài Biển [Tonkin maritime], chết trong ngục Nam Định, ngày 18/7/1841.

2. Pierre Khanh, giáo mục bản xứ [prêtre 1], Đường Ngoài Nam [Tonkin méridional], chặt đầu ở Hà Tĩnh ngày 12/7/1842.

3. Paul Loc, giáo mục bản xứ  [prêtre 2], Đường Trong Tây [Cochinchine occidentale], chặt đầu ở Sài Gòn ngày 13/2/1853.

4. Joseph Luu,  thày kẻ giảng [catéchiste 1], Đường Trong Tây [Cochinchine occidentale], chết trong ngục Vĩnh Long ngày 2/5/1854.

5. André Nam Thuong, thày kẻ giảng [catéchiste 2], Đường Trong Đông [Cochinchine orientale], chết khi bị đầy tới Mỹ Tho, 15/7/1855.

6. Laurent Nguyen Van Huong, giáo mục [prêtre 3], Đường Ngoài Nam [Tonkin méridional], chặt đầu ở Ninh Bình ngày 27/4/1856.

7. Michel Hồ Đình Hỷ, tín đồ, Đường Trong Bắc [Cochinchine septentrionale], chặt đầu ở An Hoa ngày 22/5/1857.

8. Pierre Dao Van Van, thày kẻ giảng [catéchiste 3], Đường Ngoài Tây [Tonkin occidentale], chặt đầu gần Sơn Tây, ngày 25/4/1857.

9. Francois Trung, tín đồ, Đường Trong Bắc [Cochinchine septentrionale], caporal, chặt đầu ở An Hoa ngày 6/10/1858.

10. Paul Lê Bảo Tịnh, giáo mục [prêtre 4], Đường Ngoài Biển [Tonkin maritime], chặt đầu ở Nam Định, ngày 6/4/1859.

11. Paul Hanh, tín đồ, Đường Trong Tây [Cochinchine occidentale], chặt đầu ngày 28/5/1859.

12. Pierre Qui,  giáo mục [prêtre 5], Đường Trong Tây [Cochinchine occidentale], chặt đầu ở Châu Đốc 31/7/1859.

13. Emmanuel Le Van Phung, tín đồ Cambodge, thắt cổ ở Cây Met, 31/7/1859.

14. Joseph Le Dang Thi, tín đồ, Đường Trong Bắc [Cochinchine septentrionale], caporal, chặt đầu ở An Hoa ngày 24/10/1860.

15. Pierre Luu,  giáo mục [prêtre 6], Đường Trong Tây [Cochinchine occidentale], chặt đầu ở Mỹ Tho tháng 4/1861

16. Mathieu Nguyen Van Dac hay Phuong, thày kẻ giảng [catéchiste], Đường Trong Bắc [Cochinchine septentrionale], chặt đầu ở Đồng Hới ngày 26/5/1861.

17. Paul Hoan, giáo mục [prêtre 7], Đường Trong Bắc [Cochinchine septentrionale], chặt đầu ở Đồng Hới ngày 26/5/1861.

16/2/1842: Jean-Claude Miche (Mịch, rồi Gioăng, 1805-1873), và Duclos bị bắt.

ĐNTL ghi là tháng 1/1843, bắt được Mịch và Lộ ở Phú Yên. Giải về kinh, kết tội nặng. Sau tạm giam trong ngục. Sau đó có tàu công phái ngoại quốc, bèn thả cho bọn ấy về. (ĐNTLCB, III, XXVI, 24: 1842-1843, 1971:268)

Tuy nhiên, tháng 1-2/1843 lại ghi trao trả năm [5] giáo sĩ Đoan, Vọng, Nhị, Mịch và Lộ cho Y-lê-viết-ca theo lời tâu của Ngụy Khắc Tuần, tuần phủ Nam-Ngãi. (ĐNTLCB, III, XXVI, 24: 1842-1843, 1971:288)

 [1841]: Dominique Lefèbvre được cử làm "Phó giám mục" của Etienne Théodore  Cuénot [chết trong ngục Bình Định ngày 14/11/1862. Năm 1908 được phong chức Chân Phước].

Tháng 4-5/1842, Jean-Claude Miche và Duclos [Mịch Danh Lộ], từng bị bắt khi từ Gia Định lẻn đến Phú Yên. Nguyễn Phước Tuyền cho lệnh kết án tử hình. Nhưng chỉ tạm giam, rồi lại tha. (ĐNTLCB, III, XVIII, 24:1842-1843, 1971:85) 

Ngày 18/5/1842,  Duclos và Miche viết cho Tổng lãnh sự Barrot ở Manila:

Các thừa sai không thể thở dài oán trách nước Pháp, tổ quốc độ lượng của họ, nhưng ở đây, im lặng là một trọng tội. Người ta muốn biết phải chăng nhân quyền chỉ áp dụng cho tất cả các dân tộc ngoại trừ người Pháp? Phải chăng con dân Đại Pháp khi xa quê phải dấu kỹ gốc gác mình để làm trò chơi trong bàn tay bạo chúa?....Chúng tôi không đòi hỏi sự trợ giúp mà chúng tôi có quyền nhưng không được hưởng.

Năm 1844, Miche phụ tá Lefèbvre, ở Đường Trong Tây gồm Nam Kỳ và Cao Miên. Có 25,000 giáo dân. Gồm 5 LM Pháp, và 11 LM bản xứ. LC 14/4/1850. Sau đó, lên chức Giám Mục Cambodge. Dàn xếp cho vua Khmer ký kết Hiệp ước với Montigny.

Do trung gian của Giám mục Miche, ngày 11/8/1863, Thống đốc La Grandière ký hiệp ước bảo hộ với Phra Norodom, vua Cao Miên. (Paris phê chuẩn năm 1864; và Xiêm đồng ý năm 1867). Hòa ước này chấm dứt tình trạng "chim nhiều đầu" của Căm Bốt hay Chân Lạp qua nhiều thế kỷ. Miche được ban thưởng Bắc đẩu Bội tinh. 1865, thay Lefèbvre, làm GM Sài Gòn.

* Hà Tiên: Tuần phủ Lương Văn Liễu báo tin có 93 thuyền Xiêm tới đóng ở bến Tiêu Lục và đảo ở Mai Lam.

Khoảng 30 thuyền và 1 tàu Tây dương xâm phạm Phú Quốc. (ĐNTLCB, III, XV, 24: 1842-1843, 1971:7-8)

Tháng 2-3/1842, người tự xưng là con Thái tử Cảnh ở Nam Vang mang 5,000 binh Xiêm và Khmer tấn công Sách sô (thuộc địa hạt Nam Ninh của Chân Lạp, tiếp cận Tây Ninh của Đại Nam). (ĐNTLCB, III, XIV, 23:1841-1842, 1970:439-40, XV, 24: 1842-1843, 1971:9-11)

1/3/1842: Nguyễn Phước Tuyền rời kinh đô ra Bắc nhận lễ thụ phong. Cho An Phong đình hầu Hường Bảo, 18 tuổi, làm Lưu kinh.

 Có Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên, Lê Văn Phú, Tôn Thất Bạch phụ tá. (ĐNTLCB, III, XV,  24: 1842-1843, 1971:20-22)

Đây là theo ý Thái hoàng Thái hậu. Nguyễn Phước Tuyền muốn cho Hoàng tử thứ hai là Hường Nhiệm làm lưu kinh, vì "Hường Bảo tuy tuổi đã lớn, nhưng không có học, kiến văn hẹp hòi, e khó làm xong công việc." Bởi thế, mang Hường Nhiệm theo. Hộ giá có Trương Đăng Quế. (ĐNTLCB, III, XV, 24: 1842-1843, 1971:25) Thành phi Phạm Thị Hằng cũng đi theo. (ĐNCBLT, II, q 2-3, tập 3, (1993), tr 26 [25-42, 43-66].

1/3/1842: Quân Xiêm mang chiến thuyền tới khuấy phá khu vực Hà Tiên. (ĐNTLCB, III, XVI, 24: 1842-1843, 1971:45-46, 47-50)


[1]Vũ Ngự Chiêu-Hoàng Đỗ Vũ, “Đại Việt Thời Khai Sinh;”www.hopluu.net, 3/2019; trích từ Việt Nam Sử Chép theo Lịch Tây (sẽ xuất bản)

[2] Thư ngày 25/2/1875 của P.J. Truong Vinh Ky, ở phần đầu tập I, Cours d’histoire annamite; Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 32.

[3] Về quốc hiệu Đại Việt, xem Ngô Sĩ Liên et al., Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản dịch [Quốc Tử Giám tàng bản] Cao Huy Giu và Đào Duy Anh, 4 tập (Hà Nội: 1967), bản dịch [Nội các quan bản] Ngô PETRUS KEY VÀ NGOẠI NGỮ:

 

Không ai có thể phủ nhận được một điều là Petrus Key thuộc hạng thông ngôn tài giỏi của Pháp trong giai đoạn xâm phạm Đại Nam. Mặc dù không được quan to, chức lớn, không có dịp làm giàu, nhưng Petrus Key trở thành một biểu tượng của giới tân học bản xứ.

Vì thành đạt này, những người ngưỡng mộ Petrus Key đã vẽ chân cho rắn đến nhiều khi phi-nhân-hóa ông. Người đọc sách sử không thể không tự hỏi thực chăng chú bé 11 tuổi Trương Vĩnh Ký nói thông thạo “5 thứ tiếng,” và sau này thông thạo tới “26 thứ tiếng?” Thực chăng Petrus Key xứng danh là một nhà ngôn ngữ học (linguist), hay chỉ là một thông ngôn (interpreter hay translator) xuất sắc?

 

1. Khái niệm về sự thông thạo một ngoại ngữ:

Theo Nguyễn Văn Trung, hồ sơ cá nhân Petrus Key tại soái phủ Sài Gòn ghi vào giữa thập niên 1870, ông biết 7 ngoại ngữ: Pháp, Anh, Tây Ban Nha (espagnol), I-ta-lia, Malay, Khmer (Miên) và Latin. (Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 138, note)

Đây có lẽ do Petrus Key tự khai hơn đã có một cuộc trắc nghiệm chính thức. Ngoài ra, không thấy hai thứ chữ Hán-Việt và Nôm.

Số ngoại ngữ này có thể tạm chấp nhận được. Nhưng thật khó để tin Petrus Key thông thạo tới “15 sinh ngữ, tử ngữ Âu châu và 11 sinh ngữ Á châu” như một ông Pierre Vieillard nào đó đã viết năm 1947.

a. Thời gian huấn luyện cần thiết:

Cá nhân tôi, trong thời gian chuẩn bị chương trình Tiến sĩ Sử Đông Nam Á, từng học thêm hai ngoại ngữ Indonesian và Thái tại Athens (Ohio) và Madison (Wisconsin). Dù qua lớp “intensive course” (khóa cấp tốc, tức dồn hết thì giờ trong ngày để học một sinh ngữ), thường thường cần từ 10 tuần tới 9 tháng để có thể nói, đọc và viết một cách tạm đủ dùng, tức get around như chào hỏi thông thường, đi chợ, hỏi đường xe cộ, đọc vài tin báo đơn giản. Sau đó, cần sử dụng ngôn ngữ trên qua các buổi nói chuyện với người bản xứ, đọc sách báo, v.. v... trong vài ba năm mới tiến đến mức trung bình.

Muốn thành thạo được 26 thứ tiếng, Petrus Key phải bỏ ra ít nhất 20, 21 năm huấn luyện liên lũy, đó là chưa kể thời gian cần thiết để trau dồi thêm tại các xã hội ngoại quốc trên cùng sách báo địa phương. Nhưng, thực tế, Petrus Key chỉ theo học các trường đạo từ khoảng năm 1842 tới 1858. Suốt 15 hay 16 năm trên, cách nào để ông thông thạo 26 thứ tiếng khi không có những lớp huấn luyện chuyên môn? Hơn nữa, tại các trường đạo ở Cái Mơn, Cao Miên, hay Pinang, các giáo sĩ chỉ dạy ba thứ ngôn ngữ chính: Pháp, Latin annamite, và Latin. Muốn thông thạo “23” thứ tiếng khác, sợ rằng chẳng những không đủ thời gian luyện tập, mà còn thiếu giáo viên huấn luyện, và cũng không có đủ số 23 sinh ngữ hay tử ngữ khác mà học. Ngoài ra, trong số 127 [141, hay 143] “tác phẩm” của ông phải có dấu vết việc học tập các ngoại ngữ này.

(Năm 1888, thư viện Nam kỳ chỉ có 88 cuốn sách của Petrus Key. Năm 1898, trong số sách tồn kho bà quả phụ Petrus Key yêu cầu Pháp tiêu thụ giúp chỉ có 23 tựa)

Nhưng chưa một nhà nghiên cứu nào, ở ngoại quốc hay trong nước, liệt kê và dẫn chứng đầy đủ 26 thứ tiếng mà Petrus Key học tập hay thông thạo. Ngay đến việc “10 thứ tiếng” mà Hồ Hữu Tường nêu lên, hay “15 thứ tiếng” mà Nguyễn Thanh Liêm đề cập cũng không liệt kê và chứng minh được đầy đủ. Và, Petrus Key, chẳng hiểu có khiêm tốn hay chăng, cũng chỉ ghi trong hồ sơ cá nhân mình biết hoặc đã học 7 (bảy) ngoại ngữ. Rất tiếc tôi không rõ Petrus Key có tự khai trình độ đọc, viết và nói của mình hay chăng (như fair [vừa phải], good [khá] hay excellent [thông thạo như người bản xứ]).

 

b. Khả năng hấp thụ ngôn ngữ:

Các nhà ngôn ngữ học huấn luyện chúng tôi cho biết người cực kỳ thông minh chỉ có thể thông thạo được 5 hay 6 thứ tiếng là cùng. Có nhà thông thái, như Giáo sư John Dower, lập gia đình với một phụ nữ Nhật, bỏ ra hơn 20 năm nghiên cứu về lịch sử Nhật, nhưng tâm sự với tôi là ông chưa dám tuyên bố thông thạo tiếng Nhật. Nhiều học giả ngoại quốc ở Mỹ hai, ba chục năm mà nói và viết tiếng Anh vẫn chưa hết dấu vết ngoại quốc.

Chưa hề có ai không từng được luyện nói mà có thể nói một ngoại ngữ “thông thạo”; chưa học văn phạm một ngôn ngữ mà có thể đọc hiểu hoặc viết một cách tường tận. Cho dẫu những người có trí nhớ phi thường, đến độ “graphic memory” [trí nhớ như in], mà không được huấn luyện cũng đành khoanh tay; giỏi lắm, lõm bõm vài ba chữ, vài câu làm duyên.

 

c. Phương pháp huấn luyện:

Vào hạ bán thế kỷ XIX, các phương pháp dạy ngoại ngữ còn đặt nặng vào phương pháp đọc-học, tức học viên phải học thuộc lòng từng chữ, từng câu, từng đoạn, và ngoẹo đầu ngoẹo cổ tụng đọc như các học viên của các tu viện Islam mà ai có dịp theo dõi thời sự về phong trào Taliban ở Afghanistan mới đây từng chứng kiến. Thời đó chưa có các phương tiện luyện âm (audio), luyện hình (flash cards hay visual, I-pad) hiện nay. Bởi vậy, muốn thông thạo (tức nói, đọc và viết) một ngoại ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ không dễ. Mặc dù người Pháp đã biết cách sử dụng những phụ tá người bản xứ–tức các répétiteurs bản xứ trong các lớp học ngoại ngữ–dẫu có thứ trí nhớ phi thường, học viên chỉ có thể đọc thông thạo một ngoại ngữ, nhưng chưa hẳn đã viết rành mạch và nói trôi chảy. Trường hợp các sứ giả Việt phải bút đàm với quan chức Trung Quốc, hay cụ Phan Bội Châu mượn giấy mực “nói chuyện” với Lương Khải Siêu trên đất Nhật–dù từng đậu giải nguyên trường Nghệ và vào Huế tọa giám chờ ngày thi Tiến sĩ–chỉ là vài thí dụ cụ thể. Những di dân Việt trên thế giới có lẽ từng tri nghiệm điều này bằng chính bản thân mình hơn bốn thập niên qua.

 

d. Huấn luyện viên:

Các nhà truyền giáo thường được coi như chuyên viên về ngôn ngữ. Nhờ lãnh thổ hoạt động bao trùm hoàn cầu, các chủng viện qui tụ số huấn luyện viên ngôn ngữ khá hùng hậu.

Tuy nhiên, tại chủng viện Pinang không có đủ số chuyên viên để dạy bảo Petrus Key 26 thứ tiếng. Chương trình huấn luyện–trung bình ba (3) năm–cũng không đòi hỏi học sinh phải biết nhiều ngoại ngữ, và trên thực tế các học viên chỉ được dạy bảo ba (3) thứ tiếng: Pháp, Latin và chữ Việt sử dụng mẫu tự Latin.

 

2. Ngoại ngữ Petrus Key thông thạo:

Song song với danh sách số 7 ngoại ngữ liệt kê trong hồ sơ cá nhân Petrus Key, một trong những nguồn tài liệu để tìm hiểu số ngoại ngữ mà Petrus Key thông thạo là chương trình huấn luyện của Collège général de Penang tức Chủng viện Pinang mà cậu thanh niên Petrus Key theo học từ khoảng 1855 tới 1858.

Theo tài liệu Hội truyền giáo Hải ngoại, trường này dạy hai thứ tiếng Pháp và Annamite (sử dụng mẫu tự Latin). Ngoài ra, học viên còn được học triết lý Greek (Hy Lạp), thần học và cổ ngữ Latin.

Chữ Việt và Pháp có thể Petrus Key đã bắt đầu học từ thời ở với “cụ Tám” ở Cái Mơn, hay cố Long, cố Hòa, và tiểu chủng viện Pinhalu (Cao Miên). Như thế, vào năm 1857-1858, Petrus Key có thể thông thạo hai thứ tiếng Pháp và Việt ngữ mới, với trình độ một học sinh tiểu học. Cổ ngữ La-tinh là tiếng thứ ba cậu thanh niên Petrus Key được huấn luyện tại Chủng viện Pinang (tức bậc trung học đệ nhất cấp). Mặc dù phần lớn các học viên chỉ cần biết nói vài ba câu Latin để làm lễ phép bí tích hay rửa tội đã đủ, nhưng Petrus Key có thể thành thạo vì được các giáo sĩ tuyển chọn làm thông ngôn cho quan tướng viễn chinh Pháp. (Tuy nhiên, muốn tốt nghiệp chủng viện thường đòi hỏi phải có lòng phục tùng tuyệt đối). [Năm 1858, theo Phó Giám mục Borelle, “chú Ký” cùng một chú khác về tới Cái Mơn; “chú” thứ hai này bị trục xuất khỏi Pinang vì lý do hạnh kiểm, và trở thành một tay cờ bạc, trộm cắp. “Chú Ký” thì được tiến cử cho Pháp làm thông ngôn]

Vì Pinang nằm trong một thuộc địa của Bri-tên, Petrus Key và đồng song có thể được học thêm một số chữ và thành ngữ tiếng Anh cổ thời. Trong thư viết vào tháng 3/1859 gửi Jauréguiberry, Petrus Key trích một câu ngạn ngữ: “The wearer knows very well where the shoe pincheth” [Kẻ đi giày mới biết chỗ nào xiết thốn]. Nhưng khả năng “nói và viết” tiếng Anh thì cần đặt dấu hỏi. Một dấu hỏi rất lớn. Những ai từng sống ở Mỹ, Os-tră-lia, Canada, hay Liên Hiệp Vương Quốc Bri-tên [UK] có thể nghiệm chứng điều này. Dù ra sức học tập từ 5 tới 10 năm, cũng chỉ đủ khả năng nói và đọc, viết tiếng Anh qua loa thôi. Khả năng nói tiếng Anh của Petrus Key, theo Nguyễn Văn Tố, được một người Anh ghi nhận là “nói với tôi bằng một thứ tiếng Anh rất thành thạo, hơi pha giọng Pháp.” (Nguyễn Văn Tố, 1937, tr. 37, dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 139) Tiếng Anh phát âm bằng mũi, tiếng Pháp phát âm bằng cuống họng; bảo một người nói tiếng Anh rất thành thạo, nhưng pha giọng Pháp, khó thể là lời khen. Giống như có người đến Mỹ, muốn ăn thịt bò nướng [beefsteak], lại nói thành muốn ăn thứ “gậy đánh bò” [beef-stick]! Đó là chưa nói đến cuốn tự điển loại bỏ túi từ tiếng Pháp qua tiếng Anh, ấn bản năm 1812 của Thomas Nugent tìm thấy trong di vật của Petrus Key và được đem ra triển lãm năm 1933. Một người thông thạo tiếng Anh, nói chi một nhà ngôn ngữ học, ít khi dùng tự điển bỏ túi. Có lẽ đây chỉ là món quà ai đó tặng cho Petrus Key.

Pinang [Đảo Cau] là một hòn đảo nằm về phía Tây bán đảo Mã Lai, nơi người Hoa và thổ dân Malaysia sống bằng kỹ nghệ khai thác mỏ kẽm. Sau 3 năm sống tại đây, Petrus Key có thể học thêm ít tiếng Malay, như apa ká-pà?[ ông mạnh giỏi?], Bay bay sájà [Tốt, tốt lắm!]. Sau này, học thêm để soạn những câu đàm thoại đơn giản; nhưng cũng có thể chỉ phỏng dịch từ một tác phẩm ngoại quốc nào đó. Có lẽ vì thế, hồ sơ cá nhân ghi Petrus Ký biết tiếng Malay. Rất tiếc tôi chưa có dịp nghiên cứu các sách viết về tiếng Malay do Petrus Key soạn (nếu có) nên chưa thể thẩm định giá trị các sách trên, và từ đó khả năng hiểu biết tiếng Malay của ông. Hy vọng sẽ có một nhà ngôn ngữ học, hay Đông Nam Á học nào tìm đọc các tác phẩm trên.

Vì đa số học viên tại Pinang từ 1852 tới năm 1857 là người Việt (117 trên tổng số 149 người năm 1857), cơ hội để Petrus Key học thêm ngoại ngữ từ bạn cùng khóa hay lớp rất hiếm. Đa số học viên không-phải-người-Việt đến từ Xiêm, Trung Hoa, hoặc Lào (không có Nhật). Nhờ vậy, Petrus Key có thể nói được ít thổ âm của người Hoa (kiểu nị hảo búa hảo [ông/bà khỏe không?], uở thính pú tổng [nghe mà không hiểu], chịa muối [ăn cháo], chịa mừng [ăn cơm]), hay ít tiếng thông dụng Thái (Xiêm) và Lào (kiểu tham ngan yù thí nải?[ làm việc ở đâu?], pop-căn-mày! [hẹn gặp lại]). Trong danh sách các tác phẩm của Petrus Key đăng trên Bách Khoa, về gần cuối đời ông, người ta thấy liệt kê những cuốn Cours de langue malaise (1893), Vocabulaire francais-malais (1894), Cours de langue laotienne (1894), Vocabulaire laotien-francais (1894), Guide de la conversation laotienne-francaise (1894), Cours de siamois (1889), Vocabulaire francaise-siamois (1894), Guide de la conversation siamoise-francaise (1894). Nhưng chẳng hiểu có ai đã thấy tận mắt những tập sách này hay chưa? Chữ viết Thái (Xiêm) dựa theo tiếng Sanskrit và Pali, không dễ nhớ. Petrus Key đã viết bằng chữ Thái nguyên gốc hay dựa theo lối phiên âm theo kiểu ghi âm của các nhà ngôn ngữ học ngoại quốc? Và những “tác phẩm” này–theo Giáo sư Trương Bửu Lâm, Giám đốc Viện Khảo Cổ Sài Gòn–thường chỉ dài khoảng từ một, hai trang tới vài chục trang là cùng. Tổng cộng những trang bút tích của Petrus Key về “ngôn ngữ Đông Dương” chỉ có 33 trang. (Xem thêm bảng liệt kê các tác phẩm của Petrus Key mà Trương Vĩnh Tống gửi tặng Viện Khảo Cổ Sài Gòn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 88-98) Và cũng nên ghi thêm nhu cầu tiếng Thái hoặc Lào vào thời gian này; vì Lào mới bị sát nhập vào Liên bang Đông Dương.

Về tiếng Miến Điện [Burmese, nay là Myanmar], đây là một sinh ngữ rất khó học cho người ngoại quốc. Trên thế giới hiện nay chỉ có khoảng 100 học giả không-phải-người-Miến thông thạo tiếng Miến. Chẳng hiểu Petrus Key học tiếng Miến từ bao giờ mà trong năm 1892, ông đã soạn được ba bộ sách dạy tiếng Miến: Cours de langue birmane, Vocabulaire francais-birman, Guide de la conversation birman[e]-francais[e]. Năm 1892, Petrus Key cho biết đã hoàn tất bản thảo “autographiés” [in thạch bản]; (Nguyễn Văn Trung, op. cit., tr. 126). nhưng chẳng hiểu có ai đã thấy tận mắt những tập sách hay bản thảo này ấn loát năm 1894 như Bách Khoa công bố? Sách dày bao nhiêu trang? Nội dung ra sao? Sử dụng chữ Miến chính gốc, hay loại chữ Miến đã phiên âm theo Tây phương?

Chưa được tham khảo các tác phẩm trên, nên tôi chưa thể có ý kiến. Nhưng tưởng cũng cần nêu lên hai [2] nhận xét sơ khởi nhỏ:

(1) Nếu tin được bảng liệt kê trong Bách Khoa đã đề cập, chỉ trong năm 1894, Petrus Key hoàn tất bản thảo hoặc cho ra đời tới 43 tác phẩm, kể cả bộ tự điển Pha Lang Sa-Annam lớn, tự điển tam ngữ Nhu-Pha Lang Sa-Annam, cùng một tập Nhân vật chí các triều đại Việt. Như thế, Petrus Key, ở tuổi 56-57, cứ khoảng 10 ngày hoàn tất một tác phẩm (bản thảo). Không rõ mỗi tác phẩm dày bao nhiêu trang, nhưng nếu trung bình mỗi nghiên cứu khoảng 100 trang, chỉ ngồi chép lại thôi cũng khó thực hiện nổi 43 cuốn, cho dẫu đã làm việc nhiều năm. Còn những ghi chú một vài trang, chép từ một tự điển hay biên khảo của các tác giả ngoại quốc nào đó (như nhiều học giả Việt thường làm), mà tôn xưng thành “tác phẩm” thì sợ rằng cung văn quá đáng.

(2) Thứ hai, mặc dù năm 1892, Petrus Key nhắc đến ba [3] tựa tự điển Pha Lang Sa-Annam lớn, tự điển tam ngữ Nhu-Pha Lang Sa-Annam, và tập Nhân vật chí các triều đại Việt, nhưng danh sách do Giáo sư Trương Bửu Lâm thành lập tại Viện Khảo Cổ Sài Gòn năm 1958 không thấy các tựa sách này. Thư viện Quốc Gia Pháp (Francois Mitterrand) thì chỉ có tập Tự điển Pháp-Việt in năm 1878, và tập Tự điển Pháp-Việt nhỏ, ấn bản năm 1884 và 1920. Văn khố Kho Lưu trữ Quốc Gia II tại Sài Gòn cho biết Petrus còn hoàn tất bộ tự điển Annamite-francais [Việt-Pháp].

Trong số các tác phẩm của Petrus Key, có tập Prosodie et versification annamite [Phép văn thi Annam]. Cuốn này chỉ in thạch bản, còn lại bốn (04) bài, khoảng 80 trang:

Bài thứ hai: Phép làm văn, làm thơ.

Bài thứ tư: Văn dùng trong việc thi học trò.

Bài thứ năm: Hoài cổ tự thuật phú

Bài thứ sáu: Phép làm văn (GOUCOCH, IA-7, HS 206 (3)) 

“Hoa ngữ,” chắc Petrus Ký chỉ tự học thêm sau này, vì những năm đầu chiếm đóng Sài Gòn, soái phủ Pháp vẫn phải trông cậy ở các tay “nho” Tôn Thọ “Ba” Tường, Trần Tử Ca hay Hiếu. Và ngay chính Petrus Key cũng trông cậy ở “Ba” Tường” mỗi khi đụng chạm đến chữ Nho (Hán-Việt). Có thể Petrus Key đã được học một số chữ Hán-Việt (nghĩa là chữ Hán đọc theo lối người Việt) hồi nhỏ, rồi sau đó mới tự học thêm cả chữ Hán-Việt và Nôm trong thập niên 1860. Mãi tới năm 1875-1876, mới thấy Petrus Key bắt đầu viết về cách học chữ Hán (đọc theo kiểu người Việt), cho học sinh lớp đồng ấu. Cũng từ thời gian này người ta không thấy tên nửa Latin, nửa Anh ngữ “Petrus Key” nữa, mà xuất hiện tên “Sĩ Tải” Trương Vĩnh Ký. Tại thư viện Francois Mitterand (Paris) thấy có tập Huấn mông khúc ca: Sách dạy trẻ nhỏ học chữ Nhu (1884), Tam tự kinh cuốc ngữ diễn ca (1884), Đại Nam cuốc sử ký diễn ca của Lê Ngô Cát (1875). Rồi năm 1888, Petrus Key được giao phụ trách dạy hai lớp chữ Nho và chữ Khmer [Miên]. Và năm 1896, Petrus Key yêu cầu Pháp mua ủng hộ 2,000 cuốn Minh Tâm Bửu Giám [Le précieux miroir du coeur].

 (Có lẽ Petrus Key học được tiếng Miên ở đất Miên (kiểu tâu tê? [đi đâu thế?], tâu sa [đi chợ]), v.. v.. Ngày 7/7/1888, khi đang phụ trách lớp dạy tiếng Miên và tiếng Tàu tại trường Chasseloup Laubat, Petrus Key viết thư cho Thống soái Nam Kỳ về việc không có répétiteur người Miên cho lớp dạy tiếng Miên để giúp học sinh luyện giọng. (GOUCOCH, IA-6, HS 232 (5, 61)) 

 “Ấn độ ngữ” có tới hàng trăm thứ tiếng (dialects) khác nhau, và nguyên những loại tiếng chính của Liên bang India [Ấn độ] đã có tới bốn năm thứ (Hindu, Urdu, Tamil, Sanskrit, Pali, v.. v...). Bảo Petrus Key biết nói “Ấn độ ngữ” chẳng hiểu Hồ Hữu Tường và các tác giả khác muốn nói Petrus Key lưu loát cả trăm thứ tiếng trên, hay loại ngôn ngữ đặc thù nào (thí dụ như tiếng Hindu hay tiếng nói của dân Chettya, tức Chà và xét-ti, chuyên môn gác cổng tư dinh quan lớn Pháp, làm mã tà, mật thám, gác tù hay cho vay lời cắt cổ ở Sài Gòn?) (Xem Hồ Hữu Tường, “Hiện tượng Trương Vĩnh Ký;” Bách Khoa (Sài Gòn), M [1974], tr. 15-22)

Danh sách các tác phẩm của Petrus Key trong Bách Khoa liệt kê năm 1894 Petrus Key hoàn tất 8 tác phẩm Cours de langue tamoule, Guide de conversation tamoul[e]-francais[e], Cours de langue indoustane, Vocabulaire francais-indoustan, Guide de la conversation indoustan[e]-francais[e], Cours de ciampois, Vocabulaire francais-ciampois, Guide de la conversation ciampoise-francaise. Những tựa sách này được chính tay Petrus Key ghi là “autographiés” [in thạch bản] năm 1892. Nhưng chưa thấy ai cho biết tác phẩm này hiện tàng trữ ở đâu, và cũng chưa ai phân tích nội dung các tác phẩm trên. Đặt vấn đề triệt để hơn, thực chăng những tác phẩm này hiện hữu? Câu trả lời xin dành cho những nhà Petrus Key học. (Tưởng nên lập lại, trong mục “Ecritures et langues indochinoises” [chữ viết và tiếng nói Đông Dương], Viện Khảo Cổ Sài Gòn chỉ ghi 33 trang bút tích của Petrus Key về chữ Nôm, Quốc ngữ, Hán [viết và nói], Miên, Xiêm, Chiêm Thành, Lào và Mã Lai; Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 95).

Tiếng Y pha nho [Spanish hay Espagnol], không hiểu Petrus Key học ở đâu; nhưng chắc chắn bản dịch thư vua Nguyễn Phước Thời gửi Nữ hoàng Espania là bằng tiếng Pháp, có ký tên Trương Vĩnh Ký. Khi ra thông dịch ở Huế năm 1870, thì Petrus Key vẫn dịch bằng tiếng Pháp—qua ba chặng khá phức tạp: dịch chữ espagnol qua Latin, rồi Latin qua phalangsa, cuối cùng từ phalangsa qua chữ nho.. Nếu biết tiếng Y pha nho, hẳn Petrus Key đã viết một cuốn sách dạy đàm thoại, làm một cuốn tự điển kiểu bỏ túi hay những “ghi chú [notes]” vài ba trang như tất cả những loại ngôn ngữ Petrus Key đã tự học. Hoặc trong tủ sách gia đình phải có tự điển và văn phạm về loại chữ này. Chỉ hơi ngạc nhiên là theo tài liệu văn khố Pháp, hồ sơ cá nhân Petrus Key tại Soái phủ Sài Gòn năm 1872, 1874, 1875 ghi rằng Petrus Key biết tiếng Espania.

Tháng 4/1870, Petrus Key dịch thư sứ Espania A Đôn Phô Bắc Xu gửi Nguyễn Phước Thời về hiệp ước mới qua chữ Nôm.

“Nhật ngữ” thì khó tin, nếu chẳng phải hoang tưởng. Hồ sơ cá nhân Petrus Key thuộc Nha Nội chính Soái phủ Sài Gòn không ghi ông biết tiếng Nhật. (Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 138, note) Kho sách gia đình mang ra bán năm 1898 hay đấu xảo năm 1933 cũng không thấy có tự điển, sách dạy văn phạm hay bất cứ dấu vết (như ghi chú, v.. v... ) nào về ngoại ngữ này. Người đầu tiên ghi Petrus Key “nói” thạo tiếng Nhật là Pierre Vieillard vào năm 1947. Theo tài liệu tôi được tham khảo, các nhà truyền giáo không dạy tiếng Nhật ở Collège général de Penang, và cũng chẳng có dấu vết nào của chủng sinh Nhật tại đây. Sau khi người sáng lập dòng Tên là Francois Xavier đến Nhật giảng đạo, triều đình Nhật đi đến kết luận rằng Ki-tô giáo nguy hiểm cho chế độ, nên trục xuất tất cả các nhà truyền giáo Tây phương và ra lệnh cấm đạo. Giáo dân Ki-tô đầu tiên bị giết năm 1597. Khi giáo sĩ và giáo dân nổi loạn, các lãnh chúa Nhật bèn xuống tay mạnh. Vào năm 1613-1615, một số giáo sĩ Tây phương và giáo dân Nhật sống sót phải chạy trốn tới Hội An [Faifo] lập nghiệp. Tới năm 1624, không còn một tín đồ Ki-tô hay nhà truyền giáo nào trên đất Phù Tang. Bởi thế, Hội Truyền giáo Hải ngoại Pháp không có nhu cầu dạy và học tiếng Nhật. Hơn nữa, Petrus Key tự liệt kê đã xuất bản sách dạy tiếng Xiêm, Miên vào cuối thập niên 1880, rồi từ năm 1893 sách dạy tiếng Lào, Malay, Tamoule (Tamil?), Miến Điện, Ciampois (Chàm) mà chẳng thấy cuốn dạy đàm thoại Nhật ngữ hay danh từ Nhật nào. (Nếu có biết tiếng Nhật, thì có lẽ chỉ dăm tiếng chào hỏi làm vui; kiểu Ohio!)

Tóm lại, khi trong tuổi thanh xuân, Petrus Key có thể biết được năm, sáu thứ tiếng. Sau này, Petrus Key nghiên cứu thêm chữ Hán và chữ Nôm, và có thể biết (đọc, viết hoặc nói) được 7, 8 thứ tiếng là cùng. (Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 138) Nhưng nếu nói thông thạo, thì chỉ khoảng 3, 4 thứ tiếng (Pháp, Việt, Việt Hán và chữ Nôm). Chỉ ngần ấy đã đủ là một học giả trong thế kỷ XIX và XX!

Đáng lưu ý nhất trong số tác phẩm của Petrus Key là các cuốn Mẹo luật dạy tiếng Pha-lang-sa: tóm lại vắn vắn để dạy học trò mới nhập trường (1872), và Abrégé de grammaire annamite [Sách mẹo An-Nam] (1867, 1924). Đây không phải là những nghiên cứu nghiêm túc thuộc lãnh vực ngôn ngữ học, mà chỉ là những bài giảng dạy trong lớp cho các học sinh mới khai tâm. Phần văn phạm tiếng Pháp là tổng hợp kiến thức của tác giả “tóm lại vắn vắn để dạy học trò mới nhập trường.” Phần văn phạm tiếng Việt mới ít nhiều có sự đóng góp của ông, trong nỗ lực đưa chữ Việt mới (dựa trên mẫu tự Latin) từ khuôn viên các chủng viện ra ngoài xã hội, hầu thay thế hẳn chữ Hán-Việt. Sách lược này do Hội truyền giáo đề ra, nhưng các viên chức bảo hộ Pháp cực lực chống đối, nhấn mạnh vào việc dạy chữ Pháp.

Thêm nữa, vì Petrus Key là một trong những người bản xứ tiên phong học hỏi rồi giảng dạy hai thứ tiếng này ở Sài Gòn, hai tác phẩm trên chỉ có giá trị lịch sử, giống như các tác phẩm đương thời của Hùinh Tịnh Paulus Của, v.. v... Gọi chúng bằng những đại ngôn như “sách nghiên cứu về ngôn ngữ học” sợ rằng không chỉnh.

Đó là chưa kể “thuyết” của Petrus Key in ở phần mở đầu cuốn Abrégé de grammaire annamite [Sách mẹo An-Nam] (1867, 1924), rằng người Việt đã có chữ viết kiểu “ghi âm” từ thế kỷ thứ V TTL–một lời võ đoán không có bằng chứng khả tín nào để yểm trợ, kiểu “5 trụ đồng Mã Viện trên núi Thạch Bi,” vườn địa đàng trong thánh kinh, tập tục công hữu nguyên thủy [communism] chưa ai từng chứng nghiệm mà Karl Marx hoang tưởng (nhưng bị hiểu và dịch sai thành gongchan hay Cộng Sản [góp chung tài sản]).

Ngoài ra, tiếng Pháp hay tiếng Việt là hai sinh ngữ, luôn luôn biến đổi về từ ngữ, thành ngữ, cũng như cách cấu trúc. Các sách về văn phạm của Petrus Key hầu như chẳng còn ảnh hưởng nào với quốc ngữ, và cũng không thể sử dụng cho “học trò mới nhập trường” Pháp ngữ hiện nay.

Những “tác phẩm” dài vài trang (không quá vài chục trang) ghi vắn tắt về sử ký và địa dư của Petrus Key thì hầu như chẳng còn chút giá trị nào; ngoại trừ ở thời điểm khai sinh của chúng, để nộp cho cấp chỉ huy quân sự Pháp, hay huấn luyện viên chức Pháp-Việt. Ngay đến cuốn Cours d’histoire annamite [Bài học sử An-nam-nít] của Petrus Key, gồm 2 tập, do chính quyền Pháp in trong khoảng 1875-1877 [1879?] (hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp và Sài Gòn) thì không những thiếu phương pháp biên soạn, mà còn nhiều sai lầm về dữ kiện, với những lời phê bình võ đoán, khó thể coi là một bộ thông sử nghiêm túc. [Xem phần sau]

Ngắn và gọn, nguồn gốc của sự huyễn truyền có lẽ là thuật ngự “linguiste” trong hồ sơ hành nghề thông ngôn của Petrus Key. Thực ra, linguiste vào thế kỷ XIX chỉ có nghĩa thông ngôn. Năm 1819-1820, Hải quân Thiếu tá Mỹ John White đã gặp tại Sài Gòn những linguistes này khoảng 4, 5 tháng.

Ngày 5/6/1819, Thiếu tá John White (1782-1840), hạm trưởng tàu Franklin của Mỹ, thấy Pulau Obi [mũi Cà Mau].

The kingdom of Cochin China, sometimes called Onam, was first discovered by Ptolemy [an astrologer and geographer in Alexandria, in the second century, who based his theories on the belief that all heavenly bodies revolve around the earth], by whom it is barely noticed under the name of “Sina,”  and is placed by d’Anville as the eastern extremity of the ancient habitable world.”  North American Review (Boston), vol. 18, no. 42 (Jan 1824) [New Series, no. 17], p. 140.

White đã rời Salem ngày Thứ Bảy, 2/1/1819. Tới Batavia, rồi Sumatra, trước khi đến Cochin China, một thứ “Elrado” tân thời trong các tác phẩm như Voyage à Madagascar et aux Indes orientales của Abbé Rochon (1791); Oeuvres complètes của Pierre Poivre (Paris : Fuchs, 1797), và John Barrow, A Voyage to Cochinchina in the years 1792 and 1793 (London : Strahan & Rastow, 1806).

Theo Encyclopedia Britanica, Poivre giới thiệu người Cochin Chinese như “nhã nhặn, tiết kiệm, bao dung và chăm chỉ. Trong xứ không có một tên ăn mày và chưa bao giờ có chuyện sát nhân. Một khách lạ có thể lang thang từ đầu đến cuối vương quốc, ngoại trừ kinh đô, mà không bị một lời sỉ nhục nào. Bất kỳ nơi đâu, khách được tiếp đón bằng sự tò mò vui vẻ, nhưng cũng đồng thời, là sự độ lượng bao la” [gentle, frugal, hospitable, and industrious. There is not a beggar in the country, and robbery and murder are absolutely unknown. A stranger may wander through the Kingdom from one end to the other, the capital excepted, without meeting the slightest insult. He will be received everywhere with the most eager curiosity, but at the same time, with the greatest benevolence].”  North American Review (Boston), vol. 18, no. 42 (Jan 1824) [New Series, no. 17], p. 141.

Đức Thọ et al, [sẽ dẫn ĐVSK]; Quốc sử quán, Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục (1884), TB V:17-18, CB III:20, V:12, bản dịch Việt ngữ của Viện sử học, 20 tập (Hà Nội: 1959-1960), (Hà Nội: Giao Dục, 1998), 2 tập, I:183, 337, 413. [Sẽ dẫn: CM]. Về quốc hiệu Việt Nam, xem Quốc sử quán, Đại Nam Thực Lục Chính Biên, bản dịch Viện Sử học Hà Nội, 38 tập (Hà Nội: 1962-1978), Đệ nhất kỷ I, q XIX, XXII, XXXIII, tập 3:1802-1809, 1963:91, 141, 157-58, 169-70 [sẽ dẫn ĐNTLCB]

[4] Vũ Ngự Chiêu-Hoàng Đỗ Vũ, Kiện Hay Không Kiện?, tập II, Phụ Bản V, tr 301-322.

[5] Ibid, tập II, tr 294-300.

[6]Annales annamites, Sử ký Đại Nam Việt, [SKĐNV], (Sài Gòn: 1974), tr 60:

[7] SKĐNV (45 tuổi, không ghi ngày mất. Ghi chuyện Nguyễn Quang Bình giả được “Gia Khánh!” phong vương vào năm 1791 tại Kẻ Chợ [thực ra, Hoằng Lịch, vào tháng 3 Nhâm Tí, 1790). SKĐNV, 1974:42-44.

[8] ĐNCBLT, q. XXX: Ngụy Tây, 42B; (Sài Gòn: 1970), tr. 172-73; (1993), II:529]. Sử  quan Nguyễn viết chữ “tử ” với hàm ý  “trừng phạt” Nguyễn Huệ. Dịch giả Sài Gòn ghi là “băng.”

[9]ĐNTLCB, I, XVII, 3:1802-1809, 1963:33-37, 42-43.

[10]ĐNTLCB, I, XIX, XXIII, 3:1802-1809, 1963:91, 157-158, 169-170.

[11] Ngô Sĩ Liên et al, Đại Việt Sử Ký, Ngoại Kỷ Toàn Thư (1679), Nội Các quan bản,  I:1a; bản dịch Ngô Đức Thọ (2009), 1:150.

[12]ĐNTLCB, I, XXIX, 3:1802-1809, 1963:283-85.

[13]Mục Lục Châu Bản Triều Nguyễn, II: Triều Minh Mạng, Châu Bản [CB] 56, tờ 1, bản dịch Trần Kính Hòa et al, (Huế: Viện Đại Học Huế, 1962), tập II, tr 12. Bản chữ Mỹ thêm tước “Vice-roi of Giadinh,” sai; KLTTƯ I (Hà Nội), Mục Lục Châu Bản Triều Nguyễn, Minh Mệnh I (1820-1821)-IV (1824-1825), CB 147, tờ 188, tập II (Hà Nội: 2003), tr 135.

[14] ĐNTLCB, IV, IV, 27:1848-1854,  1973:186-187.

[15] Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử [1965], I:300-1.

[16] ĐNTLCB, II, XXX, 7:1824-1826, 1964:104-105; ĐNLTCB q. 2 (truyện Anh Duệ Hoàng thái tử) & 23 (truyện Lê Văn Duyệt hạ) [1993], II:49, 52-54, 396 [Việt ngữ].

[17]ĐNTLCB, II, XI, 8:1826-1828, 1964:97.

[18]ĐNTLCB, I, LX, 4:1809-1820, 1963:395-396, 398.

 

[19] Xem chú 13 supra. 

[20] ĐNTLCB, I, LIII, 4:1809-1820, 1963:302.

[21] ĐNTLCB, I, LX, 4:1809-1820, 1963:391.

[22] ĐNTLCB, I, LX, 4:1809-1820, 1963:398.

[23]Tháng 10-11/1663, nhắc lại lệnh cấm tà đạo Da tô. CMCB, XXXIII:5-6 (Hà Nội: 1959), tập XVI:7-8 [1513-1514], (Hà Nội: 1998), II:300-301.  Năm 1754, Trịnh Doanh lại cấm, nhắc đến huyền thoại tháng 3-4/1533, triều Lê Ninh (25/1/1533-9/3/1548), miếu hiệu Lê Trang Tông, niên hiệu Nguyên Hòa, I-nê-xu tới giảng đạo Hoa Lang—theo Minh sử, đọc sai từ Hòa Lan [Holland hay Dutch, tới Jawa sớm nhất]--ở xã Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chân, và xã Trà Lũ, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định hiện nay. ĐVSK, BKTL, XVI:1ab, Lâu (2009), 3:146-147; Thông Sử, Long (1978), tr 270; CMCB, XXVII:25-26; (Hà Nội: 1959), XIV:23-24 [1331-1332];   (Hà Nội: 1998), II:108) CMCB, XLI:24-25 (Hà Nội: 1959), XVIII:71 [1813], (Hà Nội: 1998), II:626-627.  

[24] ĐNCBLT, I, q 2 (1993), 2:44-54 ; ĐNTLCB, I, I, 2:1778-1802, 1963:33-34, 165, 386[Đông Cung Thái tử, nguyên súy ngày 1/5/1793; chết bệnh đậu mùa ngày 20/31801]

[25] CAOM (Aix), GGI [Amiraux], 11704 ; Louvet, Mgr d’Adran : Missionnaire et patriote, p 147; Đỗ Bang & Nguyễn Minh Tường, Chân Dung Các Vua Nguyễn (Huế : Thuận Hóa, 1996), tr 197-200.

[26] SHM (Vincennes), GG2-44, carton 3, d.1. 48 ; và AMAE (Paris), Mémoires et Documents, Asie, vol 64, tờ 21.

[27]ĐNTLCB, I, XXIII, 3:1802-1809, 1963:162-69. Theo các giáo sĩ, cấm cả sửa chữa nhà thờ; Louvet, La Cochinchine religieuse, II:16-19; Huồn 1965, I:267-268).

[28] ĐNTLCB, I, XL, 4:1809-1820, 1963:64.

[29] ĐNTLCB, I, XLVIII, 4:1809-1820, 1963:213-14.

[30] ĐNTLCB, I, XLIX, 4: 1809-1820, 1963:252.

[31] ĐNTLCB, I, LX, 4: 1809-1820, 1963:390-391.

[32] ĐNTLCB, I, LI, 4:1809-1820, 1963:267-69.

[33] ĐNTLCB, I, LII, 4:1809-1820, 1963:275-76.

[34] ĐNTLCB, I, LII, 4:1809-1820, 1963:277.

[35] ĐNTLCB, I, LII, 4:1809-1820, 1963:278-80.

[36] ĐNTLCB, I, LIII, 4:1809-1820, 1963:283-84, 300.

[37] ĐNTLCB, I, LIII, 4:1809-1820, 1963:292-93.

[38] ĐNTLCB, I, LIV, 4:1809-1820, 1963:302.

[39] ĐNTLCB, I, LIV, 4:1809-1820, 1963:304-5, 319.

[40]ĐNTLCB, I, LV, 4:1809-1820, 1963:319-322; ĐNCBLT, q.21; QTCBTY 1971:92.

[41] ĐNTLCB, IV, II, III, 27:1848-1854, 1973:74-77, 119-20.

[42] Năm 1833-1834 [Chulasarakat 1195], Tổng Tư lệnh Xiêm là Chaophraya Bodintharadecha hay Bodindecha (Sing Singhaseni)—người làm cỏ Vạn Tượng năm 1827-1829; In Search, 112. Quân Xiêm sử dụng khí giới mua của Bri-tên và Mỹ. Gồm 3 quân đoàn. Quân đoàn I có lính lê-dương mà đa số là người Mon. Ngoài ra, còn toán quân người Âu, như Hunter, một lái buôn súng người Bri-tên, và tín đồ Ki-tô mà đa số là pháo thủ Portuguese và Espania.

[43] ĐNCBLT, II, q. 23 [Lê Văn Duyệt, hạ], (1993), 2:402-5; Ibid., q. 45 [truyện các nghịch thần], (1993), 4:475-98; ĐNTLCB, I, 2:1778-1802, 213-216, 238-244, 266, 273, 278, 286-288, 317-318, 335-338, 396, 401; II, 3:1802-1809, 1963:16-18, 25-26, 107-115; 16:205, 158-63, 168, 265-6, 271-2, 322; và 17:46-56,154-6.

[44]ĐNTLCB, II, LXXXIV, 11:1832-33, 1964:231 [Tháng 12/1832-1/1833 (11 Nhâm Thìn, Minh Mạng XIII)]. Bản dịch này hơi khác với bản dịch của Léon Sogny trong [Notulettes: II. Une mission américaine en Annam sous Minh Mang]; BAVH, XXIV, No. 1 (Jan-Mars 1937), tr. 64]. Viên ngoại lang (V-1), theo Sogny, tương tự như chức Chánh văn phòng một bộ. Tư vụ (VII-1) là Phó Chánh Văn phòng.

[45]ĐNTLCB, III, XLIX, 25:1844-1846, 1971:312-13.

[46]ĐNTLCB, III, LXXII, 26:1846-1848, 1972:389, 392; Ibid., IV, I, 27:1848-1854, 1973:32-3.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 2372)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
23 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 66240)
C uộc tranh đấu của Phật Giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 , trên bối cảnh liên hệ ngày một xấu đi giữa Bộ Ngoại Giao Mỹ và chính phủ Ngô Đình Diệm trong hai năm 1962-1963. Mặc dù chỉ nhấn mạnh vào cuộc tự thiêu bi tráng của Thượng tọa Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 [...] “Vài Ý Nghĩ Về Thượng Tọa Thích Quảng Đức” công bố lần đầu tiên một số tài liệu văn khố Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa và Phủ Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa, giúp vùi chôn một lần và mãi mãi loại sử văn suy tôn, nhớ ơn và đào mộ. Tạp Chí Hợp Lưu
14 Tháng Mười Một 20198:06 CH(Xem: 371)
Hẹn nói chuyện với em bốn lần / Anh quên bật tiếng điện thoại một lần / Bắt máy không kịp một lần / Trễ hai giờ một lần
14 Tháng Mười Một 20197:35 CH(Xem: 201)
Hôm 29.10.2019 Lào bắt đầu cho vận hành đập thủy điện Xayaburi và tiếp theo sẽ là con đập Don Sahong. Đây là hai đập thủy điện nằm trên dòng chính sông Mekong, đã và đang gây rất nhiều tranh cãi giữa Lào, Thái Lan, Cambodia cũng như Việt Nam ở hạ nguồn Mekong. Nguồn tin đáng chú ý khác từ MRC Ủy Hội Sông Mekong cho thấy Lào đang chuẩn bị tham vấn dự án thủy điện Luang Prabang có công suất 1410 MW, nằm cách thị trấn Luang Prabang khoảng 30 cây số. Nếu không có gì đột biến, đập Luang Prabang được khởi công xây vào tháng 7/ 2020. Một chuyên gia sông Mekong, bác sĩ Ngô Thế Vinh, tác giả hai cuốn sách ‘Cửu Long Cạn Dòng - Biển Đông Dậy Sóng’ và ‘Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch’, từng có bài tham luận về dự án Luang Prabang liên quan đến Việt Nam, trình bày sự việc qua bài phỏng vấn do Thanh Trúc thực hiện.
11 Tháng Mười Một 20196:54 CH(Xem: 422)
Điệu nhạc đơn độc trỗi dậy, / người ca sĩ giọng khàn đục cất cao tiếng hát mê hoặc / căn phòng tối chìm vào cung bậc / đâu đó trên môi, trong tóc / nụ hôn còn hồng da thịt / tiếng kèn đồng ngày nào thổi xuyên miền ký ức.
11 Tháng Mười Một 20196:47 CH(Xem: 463)
Hắn nhìn chăm chú bức tranh treo trên tường, đôi mắt hắn lóe lên một tia nhìn đầy cảm xúc. Có lẽ hắn đang liên tưởng hình ảnh người thiếu nữ trong tranh là một người có thật ngoài đời. Người thiếu nữ có đôi mắt rất buồn, một nỗi buồn tận cùng của sự đau khổ, tuyệt vọng.
10 Tháng Mười Một 20199:24 CH(Xem: 433)
Không còn ai thắp ngọn nến hồng / Hạt mưa bay long lanh / Ấm áp tiếng cười ngọn gió / Ta mở cánh cửa mùa đông
10 Tháng Mười Một 20199:16 CH(Xem: 407)
“Thưa bố, mẹ Con đắn đo nhiều lắm, và phải tập trung rất nhiều lòng dũng cảm để có thể viết bức thư này… Khi bố mẹ đọc được những dòng này, con đã ở một phương trời xa, phương trời mơ ước mà con từng ấp ủ trong những năm túng quẫn đến cạn đường sống của nhà ta…
07 Tháng Mười Một 20198:36 CH(Xem: 494)
Trong thời niên thiếu, anh cũng như một số bạn đều mê đọc tiểu thuyết, đọc thơ của các văn thi sĩ tiền chiến. Trong các nhóm nhà văn đó thì nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã ảnh hưởng đến anh nhiều nhất. Văn của họ nhẹ nhàng, trong sáng, với những truyện tình lãng mạn lồng trong khung cảnh quê hương đơn sơ và lúc nào cũng man mác tình yêu. Truyện của họ, không lúc nào thiếu trong tủ sách gia đình của anh. Trong nhóm đó, Nhất Linh được anh coi như một mẫu người lý tưởng, một nhà văn, một chiến sĩ cách mạng. Nhiều nhân vật trong truyện đã in sâu vào ký ức anh. Họ không những đã trở thành một phần đời sống của anh mà đôi khi lại là những giấc mộng không thành. Trong những năm cuối cuộc đời, ông xa lánh cảnh trần tục, như một tiên ông quy ẩn bên dòng suối Đa Mê của rừng lan Đà Lạt.
05 Tháng Mười Một 20196:10 CH(Xem: 564)
Nỗi buồn em chưa bao giờ cũ / Em giấu nó như trai ngậm ngọc / Như cầu vồng sau mưa / Em giấu nỗi buồn từ sáng qua trưa / Chiều tà và đêm xuống ...