- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,358,094

PETRUS KEY “THAM CHÁNH” TRONG TÂN TRÀO

20 Tháng Tám 201910:22 SA(Xem: 875)
truong-vinh-ky-vietnamese-linguist
Trương Vĩnh Ký - 1837-1898


Chương V

“THAM CHÁNH” TRONG TÂN TRÀO


Trước năm 1996, nhiều người tin rằng Petrus Key chỉ bắt đầu làm thông ngôn cho Pháp từ ngày 20/12/1860. Lá thư đến tay Trung tá Jauréguiberry vào đầu tháng 4/1859 và một số tư liệu khác do chúng tôi phát hiện trong dịp làm việc tại Văn Khố Hải Quân Pháp tại Chateaux de Vincennes năm 1996 không những phủ nhận niềm tin này mà còn khiến chúng ta phải xét lại đoạn đời “tham chánh” của Petrus Key dưới một ánh sáng khác.

Trước hết, đừng quên nghị quyết của Ủy Ban Cochinchine vào tháng 5/1857. Theo tinh thần Nghị quyết này, Pháp cần biểu dương lực lượng ở Đại Nam, thiết lập một tân trào với nòng cốt là “các thày kẻ giảng, với sự ủng hộ của 600,000 giáo dân Ki-tô.”[1] 

Petrus Key rời Pinang vào năm 1858, trở lại Cái Mơn của Linh mục Borrelle (Giám mục Lefèbvre đang ở Chợ Quán), và chờ đợi để phục vụ “những nhà giải phóng được Thiên Chúa gửi xuống cứu độ giáo dân An Nam.” Vì Trung tá Jauréguiberry không tin tưởng GM Lefèbvre và từng lên án Lefèbvre phá hoại việc thương thuyết một hòa ước, nên Petrus Key chưa được trọng dụng ngay. Nhưng Petrus Key vẫn được làm thông ngôn ở Chợ Quán, với lương 20 đồng một tháng. Trong một phiếu trình lên Rigault de Genouilly, Jauréguiberry cho biết một thông ngôn tên “Petrus” phải uống thuốc quinine để chữa trị bệnh sốt rét, và ông ta định đưa “Petrus” ra Đà Nẵng để thẩm vấn các quan viên Việt bị Pháp bắt giữ. Tháng 6/1859, Petrus Key tháp tùng Linh mục Theophile Legrand de la Liraye (cố Trường) ra Đà Nẵng làm thông ngôn cho Louis Jules Lafont, tùy viên của Rigault de Genouilly, khi thương thuyết với Nguyễn Tri Phương về việc ký Hiệp định nhưng không thành công.(Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:106-7) Từ sau ngày này, Petrus Key trở lại Sài Gòn, tiếp tục làm việc cho ban thông dịch của Jauréguiberry.

Sau khi Đại tá J. d’Ariès thay Jauréguiberry làm chỉ huy trưởng Sài Gòn vào mùa Xuân 1860, Petrus Key tiếp tục “tham chánh” với chức vụ thông ngôn. Nhưng d’Ariès chẳng mấy thiện cảm với Petrus Key vì tính hạnh cũng như việc Petrus Key đòi lương quá cao (110 đồng một tháng vào tháng 5/1861; so với lương xã trưởng 21 đồng, thông ngôn thường là 20 đồng, nho 7 đồng, và cảnh sát 3 đồng vào năm 1859). Nếu tin được d’Ariès, Petrus Key từng bị sa thải khỏi Nha nội chính [hay Nội trị] vì kiêu ngạo và không biết tự khép mình trong khuôn khổ (thư ngày 21 và 28/5/1861 gửi Léonard Charner). Tuy nhiên, vì cần thông ngôn, các viên chức Pháp vẫn phải trông cậy ở các cố đạo và thày kẻ giảng bỏ tu mà họ chẳng trọng vọng hay kính phục gì. [Một Đề đốc Pháp sau này nhận xét, “những cái tên Latin của chúng trình ra sự lường bịp, man trá và tham nhũng đặc thù Á đông.” (Pallu de la Barrière 1888:158)]

Các tư liệu văn khố Pháp không cho biết rõ vai trò của Petrus Key trong cuộc thương thuyết Hiệp ước cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp năm 1862. Chỉ biết Petrus Key theo Thiếu tá Charles Simon ra Huế vào tháng 4/1862, thuyết phục triều Nguyễn về tối hậu thư của Thống đốc Louis A Bonard (11/1861-30/4/1863): Ký hòa ước hay sẽ mất luôn Bắc Kỳ vào tay “Lê Duy Minh [Pedro Tạ Văn Phượng].” Bên thêm rằng theo các Giáo sĩ, quan tướng Pháp đã gạt bỏ các giáo sĩ và nhóm thày kẻ giảng thông ngôn [như Petrus Key, Nguyễn Trường Tộ, v.. v..] trong đợt thương thuyết cuối cùng; và phải sử dụng người Hoa thông dịch để bảo mật và tránh sự phá phách của các cố đạo. [2]

Vì thế, Petrus Key dạy tại trường Thông Ngôn mà không làm việc trực tiếp với cựu Linh mục Legrand de la Liraye (cố Trường) hay Gabriel Aubaret, một chuyên viên Hán ngữ, nữa.

PETRUS KEY VÀ SỨ ĐOÀN

PHAN THANH GIẢN (1863-1864)

Trong tâm bút Paris: Xuân 1996, tôi còn công bố tài liệu về việc năm 1863, khi phái đoàn Phan Thanh Giản qua Pháp, Petrus Key Trương Vĩnh Ký, thông ngôn hạng nhất của soái phủ Sài Gòn được cử vao phái đoàn hướng dẫn của Pháp, đưa sứ đoàn Phan Thanh Giản qua Paris đáp lễ  Napolén III việc Phó Đô Đốc Bonard đến Huế gặp vua Nguyễn Phước Thời, chào hỏi và tặng quà. Một phóng ảnh đã được in lại trong cuốn Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I (1997, tr. 68), và Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I (1999, tr. 297).

Hiệp biện đại học sĩ Giản làm Chánh sứ. Cùng đi có Phạm Phú Thứ, Tả Tham tri Bộ Lại, làm Phó sứ; Ngụy Khắc Đản, án sát Quảng Nam (gốc Nghệ An), làm Bồi sứ, và hơn 50 tùy tùng. Nhưng mục đích chính là xin sửa  Hòa ước 5/6/1862, nhất là Khoản 3: chuộc lại ba tỉnh miền Đông theo kiểu Bri-tên đối xử với nhà Thanh sau khi trả tiền bồi thường chiến phí (indemnities) [chịu cắt nhượng thành Sài Gòn, Định Tường, Thủ Dầu Một và Côn Lôn theo kiểu Bri-tên và nhà Thanh]; “nếu có phải bù thêm số bạc nhiều ít bao nhiêu, nước tôi cũng yên lòng lo liệu chu thỏa.”

Ngoài ra, còn muốn sửa đổi:

Khoản 2: Hạn chế số cố đạo là 15 người để dễ kiểm soát;  

Khoản 4: Xin bỏ đoạn muốn cắt đất hay giảng hòa với nước khác phải có sự chấp thuận của Pháp; [23]

Khoản 6: Xin bỏ điều kiện đặt lãnh sự quán ở kinh đô. [24-25]

Khoản 8: Xin kéo dài thời hạn trả tiền bồi thường chiến phí [4 triệu Mỹ Kim] thành 20 năm. [3]

 Theo Phan Thanh Giản, “chỉ biết hết lòng, hết sức mà thôi;” chưa biết kết quả ra sao. Nếu thất bại, hy vọng vẫn tạo được cảm tình trong những liên hệ tương lai.” Nguyễn Phước Thời ứa nước mắt nhắn nhủ phải hết sức. Không nên tin cậy bọn thông ngôn. Đừng quì lạy khi triều kiến, mà áp dụng theo lệ Tây phương.[4]

Ngày 22/6/1863, Phan Thanh Giản xuống tàu Echo vào Sài Gòn. Ngày 26/6, Hải quân Trung tá Henri Rieunier (Lý A Nhi) tới thăm sứ đoàn Phan Thanh Giản. Cho biết sẽ tháp tùng phái đoàn qua Pháp để hướng dẫn. Ba chánh phó sứ phải trả tiền vé tàu 536 đồng [piastre] mỗi người; 10 quan tùy tùng 241 đồng mỗi người; những người còn lại 121 đồng. Tiền hành lý hết 2,250 đồng. Tiền chi phí xe lửa là 1,000 đồng. Tổng số chi phí là 13,980 đồng. Mỗi đồng tương đương với 7 đồng 2 phân.[5] (Ngô Đình Diệm, 1919, tr. 167)

Mấy ngày sau, Phan Thanh Giản chọn Phó tế [Linh mục] Nguyễn Hoằng làm thông ngôn. Thông ngôn thứ hai là Nguyễn Văn Trường, bị chết dọc đường. (Ngô Đình Diệm, 1919, tr. 170, 185)

Ngày 2/7/1863 [17/5 Quí Hợi] tân Thống đốc/ Đề đốc Pierre Paul Benoit de la Grandière (30/4/1863-31/3/1865, 19/11/1865-4/4/1868), mời sứ đoàn dự dạ tiệc. Giới thiệu phái đoàn Rieunier. (Ngô Đình Diệm, BAVH, Vol VI, No. 1bis & 2 (Avril-June 1919), tr. 171).

Ngày 4/7/1863 [19/5 Quí Hợi], tàu Européen nhổ neo ra khơi, mang theo sứ đoàn Phan Thanh Giản. Gabriel Aubaret [Ha Bá Lý] cũng có mặt với phương vị thông ngôn, cùng  Petrus "Key", và 8 người Việt khác, trongtoán liên lạc do Henri Rieunier hướng dẫn (Danh sách chính thức phái đoàn thông ngôn gồm Petrus Key & Petrus [Nguyễn Văn] San, giáo viên trường Thông ngôn; hai "nho [lettrés]" (Ba [Tôn Thọ] Tường, Phủ Tân Bình, và [Quan Văn] Hiếu; hai học sinh trường Mgr D'Adran là Trần Văn Lương, con Huyện Ca, và Simon Của; cùng 3 người hầu, kể cả Pedro Trần Quang Diêu [6] 

Cho tới năm 1996, nhiều người vẫn tin rằng năm 1863 “Phan Thanh Giản yêu cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho phái đoàn đi Paris và Madrid.” (Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 24) Thực ra, chi tiết Petrus Key thuộc phái bộ Pháp tháp tùng sứ đoàn Phan Thanh Giản đã được công bố bằng Pháp ngữ từ năm 1919 và rồi Việt ngữ mới ở Sài Gòn từ năm 1960. Báo Văn Đàn [của nhóm Tinh Việt Văn Đoàn?] từng đăng bản dịch “Tây Hành Nhật Ký” [Nhật ký đi Tây] của Phạm Phú Thứ, phó sứ của Phan Thanh Giản, đã trình lên vua ngày 31/3/1864.

Theo tài liệu này:

Ngày 1-2/7/1863, triều đình bổ sung danh sách phái bộ, thêm hai người thông ngôn [một người tên Nguyễn Văn Trường bị chết dọc đường]. Về phía Pháp, bổ sung thêm 4 người, trong đó có Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, Tôn Thọ Tường làm ký lục.[7] 

[Từ năm 1919 và 1921, tờ Bulletin de Amis du Vieux Hue (BAVH, Thành tích biểu của Hội Những nguòi bạn của cố đô Huế) đã có những loạt bài dịch tập Nhu Tây sứ trình nhật ký của Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ. Các tài liệu này đều xác nhận thông ngôn chính của sứ đoàn Nguyễn là Linh mục Nguyễn Hoằng; Petrus Key và Tôn Thọ Tường là phụ tá của Trung tá Aubaret, thông dịch viên chính thức cho sứ đoàn Phan Thanh Giản.[8] 

 Năm 1918-1919, cựu Cửu phẩm Ngô Đình Diệm tại Tân Thơ Viện Huế cũng dịch và giới thiệu một phần báo cáo Phan Thanh Giản-Phạm Phú Thứ].[9]

Phan Thanh Giản trình "Nhu Tây sứ trình nhật ký" lên Nguyễn Phước Thời ngày 31/3/1864:; nhưng tác giả là Phạm Phú Thứ. Phan Thanh Giản và Ngụy Khắc Đản chỉ đọc qua, và hiệu đính.  Nguyễn Phước Thời giữ Giản ở kinh, để chờ sứ giả Pháp tới thương nghị hoà ước mới. Cử Phan Thanh Giản làm thượng thư bộ Lại; Phạm Phú Thứ làm tả tham tri bộ Lại; Ngụy Khắc Đản, Quang lộc tự khanh, biện lý bộ Binh. (30:66)

Không được đọc các tài liệu trên, hoặc đọc mà không hiểu, cho tới năm 2001, tại hải ngoại vẫn có người cả đoan rằng chính Phan Thanh Giản đích thân xin Petrus Key tham gia sứ đoàn Nguyễn, và nhắm mắt lại “phán” rằng tài liệu văn khố tôi công bố là “sai lầm.” Tôi không nêu tên những người này, vì không cần thiết. Điều đáng nói ở đây là sự phản ứng do tư tâm và cảm tính trên, dù dễ hiểu, nhưng không thể chấp nhận được ở những người từng tốt nghiệp Đại học. Trước hết, những người này chưa từng nghiên cứu về sử, và kiến thức sử chỉ là tổng hợp những Thông tin đầy rẫy sai lầm của các tác giả và nhà truyền giáo trước đây (như không một giáo dân nào tiếp tay Francis Garnier trong cuộc đánh chiếm Hà Nội và Bắc Kỳ năm 1873 [sic]). Thứ hai, do một nguyên nhân thầm kín nào đó, họ mất đi sự lương thiện tối thiểu cần thiết của người trí thức và người cầm bút trong một cuộc tranh luận: Muốn chỉ trích hay đả phá một phát hiện lịch sử nào, cần trưng dẫn những tài liệu rõ ràng, hiển nhiên (thí dụ như trong trường hợp này, văn thư của Phan Thanh Giản gửi các quan tướng Pháp, hoặc trình báo lên vua Nguyễn Phước Thời về việc xin đích danh Petrus Key, hay ban khen của Nguyễn Phước Thời sau khi hoàn tất sứ mệnh). Ví thử kiến thức có bị ô nhiễm vì những sách báo cũ từ trước đến nay kiểu Petrus Key làm thông ngôn trong phái đoàn Phan Thanh Giản, hay “đích thân Phan Thanh Giản xin Petrus Key đi làm thông ngôn,” thì cũng cần vận dụng khả năng suy luận để tự hỏi tại sao trong số những người qua Pháp làm thông ngôn lại có thêm những Petrus [San], Ba Tường, Hiếu, Trần Văn Luông [Long], Simon Của, v.. v... mà sử sách cũ, ngoại trừ tư liệu của cụ Phạm Phú Thứ, không hề chép đến? Và, cũng nên tự hỏi, chẳng lẽ Rieunier hay Aubaret “sai lầm” khi làm báo cáo xin thành lập phái đoàn thông ngôn qua Pháp năm 1863? Hoặc, nếu có cơ hội, nên dò hỏi xem quốc sử nhà Nguyễn có ghi chép gì về việc này hay chăng. Đó là sự thận trọng tối thiểu cần thiết của người trí thức để tránh mắc phải lỗi lầm hồ đồ. Thứ ba, vì tư tâm, họ đã chỉ đọc sử và phản ứng về những phát hiện tư liệu mới theo quan điểm hay lập trường tôn giáo hoặc chính trị, đưa ra những cảm nhận không những chỉ thiếu lý lẽ và những lời hô hoán, rẫy rụa của người bị giam hãm trong hầm tối đã lâu bỗng dưng bị đưa ra trước bầu trời rực nắng.

Vì tập đi sứ của Phạm Phú Thứ chưa được phiên dịch toàn bộ ra Việt ngữ mới, chỉ thấy có tên Aubaret—tùy viên của Bonard, một chuyên viên Hán học, trưởng toán thông ngôn phái đoàn hướng dẫn Pháp—là người thường xuyên liên lạc với phái bộ Việt. Điều này có nghĩa, khi về tới Pháp, Rieunier được chính thức nghỉ phép, và phái đoàn thông dịch do Aubaret cầm đầu, giữ việc liên lạc giữa Bộ Ngoại Giao Pháp và sứ đoàn. Chi tiết sứ bộ Việt từ Marseille qua Madrid phải giảm bớt 5 người để nhường chỗ cho Aubaret, Petrus Key, Ba Tường cùng hai người khác của soái phủ Sài Gòn cũng là một bằng chứng cho thấy sự khác biệt nhau giữa hai sứ đoàn Huế và soái phủ Pháp tại Sài Gòn. (Sứ đoàn Nguyễn phải rút lại còn 20 người để khỏi chật chội; Trần Xuân Toạn 1921:279).

Ngoài ra, tên Trương Vĩnh Ký còn xuất hiện trong nhật ký của Phạm Phú Thứ khi sứ đoàn được chính phủ Espania mời đến thăm Roma một tuần, từ ngày 1 tới ngày 7/12/1863: Ngày 2/12/1863, theo Phạm Phú Thứ, “Phái bộ đưa Trương Vĩnh Ký vào thăm thành Roma và gặp Giáo hoàng.” (Ibid., tr. 175) Đoạn văn trên của Phó sứ Thứ cũng thêm phần khẳng định Petrus Key không thuộc phái bộ sứ đoàn Nguyễn.

Cách nào đi nữa, cần khẳng định rằng “Những người An-nam-mít ở Nam Kỳ thuộc Pháp đi qua Pháp cùng với sứ đoàn của vua Tự Đức [Annamites de la Cochinchine francaise allant en France avec l’ambassade du Roi Tu Duc],” trong phái đoàn Rieunier, gồm có nhất đẳng thông ngôn Petrus Key Trương Vĩnh Ký, Giáo viên trường thông ngôn Pháp; đệ nhị đẳng thông ngôn Petrus [San]; hai nho (lettré) Tôn Thọ “Ba” Tường (Phủ Tân Bình), và Hiếu (nho thuộc Bộ Tổng Tham mưu); hai học sinh trường Giám mục d’Adran [Pierre J G Pigneau], Trần Văn Luông [Long], con Trần Tử Ca, và Simon Của.. Họ không thuộc sứ đoàn Phan Thanh Giản.[10] 

Xin ghi lại một số nét chính về sứ đoàn Phan Thanh Giaản:

14/8-12/9/1863 [Tháng 7 Quí Hợi]:

10/9/1863: Phái đoàn Phan Thanh Giản tới Marseille.

13/9-12/10/1863 [Tháng 8 Quí Hợi]:

13/9/1863: Sứ đoàn Phan Thanh Giản tới Paris.

18/9/1863: Ngoại trưởng Drouhin de Lhuys tiếp kiến Giản.

30/9/1863: Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản đi thăm một nhà thờ. Phụ trách việc truyền đạo ở phương Đông. Gặp hai người từng ở VN: Đoan (Pierre Charrier, 1803-1871) và Định (Jean-Claude Pernot, 1823-1904), trước từng ở Vĩnh Long. Trần Xuân Toạn (dịch), “L’Ambassade de Phan Thanh Gian, 1863-1864); BAVH, 1921, tr. 168-169 [147-187].

5/10/1863: Vợ và con gái Vannier từ Lorient tới thăm.

Nguyễn Thị Liên [Sen] là con gái Nguyễn Văn Dũng, Thuyền tả cai đội. Nhắc lại chuyến thăm đột ngột của Tôn Thất Thường (Văn Liễu) và Dũng năm 1840 hoặc 1841. Ngày 7/10, trở lại dự tiệc với con trai, con gái. Mặc quốc phục. Trần Xuân Toạn (dịch), “L’Ambassade de Phan Thanh Gian, 1863-1864); BAVH, 1921, tr. 174-176, 178-180 [147-187].

5/11/1863: Napoleon III tiếp sứ đoàn ở điện Tuleries.

7/11/1863: Bộ Ngoại Giao trao cho PTG quốc thư đồng ý sửa lại hòa ước 1862.

10/11/1863: Sứ đoàn đi Madrid gặp Nữ hoàng Isabella. II.

Sau đó xuống tàu về nước.

18/3/1864: Về tới Sài Gòn. 21/3/1863: Trình kết quả lên vua. 31/3/1864: Pham Phú Thứ trình Nhu Tây Sứ Trình Nhật Ký. ĐNTLCB, IV, XXIX, 30:1863-1866, 1974”66.

15/6/1864, Lãnh sự Bangkok Aubaret tới Huế. Có Charles Duval tháp tùng. 15/7/1864, ký tạm ước bảo hộ hình thức. Trả lại ba tỉnh, chỉ đỏng quân ở một số nơi; giảm 2 triệu Mỹ Kim.. ĐNTLCB, IV, XXIX, 30:1863-1866, 1974:84-86, 96.

10/11/1864: Napoléon III không phê chuẩn, vì gặp chống đối mãnh liệt từ mọi phe phái, đặc biệt là Đề đốc/Thống đốc Benoit de la Grandière (30/4/1863-31/3/1865, 19/11/1865-4/4/1868),Hội Truyền giáo, và Câu Lạc Bộ Thuộc Địa.[11]

20/1/1865: La Grandière báo tin trên cho Huế.

27/3/1865: Nguyễn Hữu Thời mật dụ đoạn tuyệt con đỏ miền Đông.

La Grandière thì muốn chiếm trọn miền nam để bành trướng qua Kamboja, Lào, Xiêm và Vân Nam.Sài-Gòn: Trong thư riêng ngày 17/1/1865 cho Maurut Dupleix, La Grandière viết: Ý định của tôi là sẽ duy trì hiệp ước [5/6/]1862 cho tới khi thời cơ cho phép chúng ta xé bỏ nó.[12]

31/3/1865: La Grandière xuống tàu Đồng Nai về nước để thảo luận với Chasseloup-Laubat về việc đánh chiếm toàn bộ miền Nam. Đề Đốc Pierre-Gustave Roze [Tê Dô Đô] tạm thời XLTV chức Thống đốc [cho tới ngày 19/11/1865]. (ĐNTLCB, IV, XXIX,30:1863-1865, 1974:169)

Tuy nhiên, Chaseloup-Laubat chưa có quyết định dứt khoát. Trở lại Sài Gòn, de La Grandière tiếp tục củng cố chính quyền thuộc địa, cải biến dần ba tỉnh miền Đông theo sở kiến chờ cơ hội xé bỏ Hiệp ước 5/6/1862, chiếm đóng nốt ba tỉnh miền Tây.

Ngày 19/1/1867, tân Bộ trưởng Hải Quân Thuộc Đía Rigault de Genouilly chấp thuận cho De La Grandière chiếm miền Tây Nam Kỳ.

CƠN MỘNG DU ĐỔI MỚI & NGOẠI GIAO:

Thời gian này, Nguyễn Phước Thời và các đại thần—đặc biệt là Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ—đang lạc vào một cơn mộng du đổi mới và ngoại giao. Từ năm 1863, Trần Tiễn Thành đã tiếp xúc với nhóm Nguyễn Hoằng, Nguyễn Trường Tộ, hai đệ tử hầu cận Gauthier, đang tị nạn ở Sài Gòn, rồi Quảng Bình. Với tham vọng được đánh giá như biết tiến cử người hiền, Trần Tiễn Thành—một người Việt gốc Hoa—từng tiến cử lên Nguyễn Phước Thời Nguyễn Văn Tường (1810-1886)—người đã dự thi với họ Nguyễn Phước, nên bị cách tuột, cấm thi trọn đời. Nhờ sự giới thiệu của Thành, Tường được dự thi, và trúng tuyển. Khi Giặc Chày Vôi bột phát, Tường đang giữ chức Phủ Doãn Thừa Thiên. Bị kết tội bất cẩn, thiếu kiểm soát, nhưng Tường chỉ bị cách lưu.[13] 

Năm 1863, Phan Thanh Giản và Trần Tiễn Thành từng sử dụng Phó tế Nguyễn Hoằng, người Hương Sơn, Diễn Châu, Hà Tĩnh/Nghệ An, làm thông ngôn cho phái đoàn qua Pháp. Từ năm 1864-1865, Thành tiến cử một nhân vật khác, tự hào thâu tóm được nguyên lý trời đất suốt 500 năm qua, trên thông thiên văn, dưới hiểu địa lý, giữa biết rõ lòng người, tức Nguyễn Trường Tộ—một đạo đồ khác của Gauthier, gốc Giáp Đoài, Kim Liên, Nghệ An.

Cho đến đầu thế kỷ XXI, thân thế Nguyễn Trường Tộ vẫn còn nhiều ẩn số. Không một tài liệu khả tín nào về thuở thiếu thời cùng học vấn Tộ được tiết lộ. Chỉ biết Tộ có số vốn chữ Hán và Pháp đủ khả năng để tham dự phái đoàn thông ngôn của Đô Đốc Charner năm 1861, khi Nguyễn Bá Nghi được cử làm Khâm sai toàn quyền điều đình với Charner sau ngày Lũy Kỳ Hòa thất thủ. Theo Trường Tộ, thời gian này, Tộ từng gửi thư cho Bá Nghi, khuyên nhủ nên hòa hiếu với Pháp—vì Pháp là nước hùng cường nhất. Sau khi Louis A Bonard thay Charner, vì chủ trương hợp tác hơn đồng hóa, Bonard chỉ tin dùng Aubaret cùng các thông dịch viên gốc Hoa khi thương thuyết với Giản, Thiếp, và Thứ. Bởi vậy, các nhà truyền giáo không biết gì về nội dung hòa ước 5/6/1862. Các Giám Mục đã phải xin giấy giới thiệu của Palanca để gửi ba linh mục ra Huế tìm hiểu sự thực. Phần Tộ được giao phụ trách việc xây dựng một chủng viện cho các nữ tu và trẻ mồ côi tại đường Cường Để (Tôn Đức Thắng hiện nay). Có lẽ qua Nguyễn Hoằng, Tộ duy trì được liên hệ với nhóm Giản, Thành và Thứ. Từ 1863 tới 1870, Tộ gửi đến Tiễn Thành năm bản điều trần, đưa ra những kế hoạch duy tân [đổi mới], dựa vào Hội truyền giáo Pháp. Việc bổ nhiệm Nguyễn Hoằng làm quan thông ngôn cho triều đình từ tháng 7-8/1866  phần nào khiến Nguyễn Phước Thời chú ý đến Tộ. (ĐNTLCB, IV,  XXXIV, 31:1866-1869, 1974:41)

Vì đang khổ sở, vất vả để giao nộp món tiền bồi thường chiến phí cho Pháp và Espania, Nguyễn Phước Thời rất thích thú với đề nghị khai hoang và tìm mỏ mà Tộ đề nghị. Bởi vậy, dù không bị  lời ca ngợi “tạo vật,” tức Thượng đế, đã khai sinh ra vạn vật khoảng 7,000 năm trước của Tộ thuyết phục, phần nào do lời khuyên của Trương Đăng Quế là nên tìm người hiền, mùa Hè 1866, Nguyễn Phước Thời đã sử dụng Tộ trong kế hoạch đi tìm mỏ ở Hải Dương cùng Hồ Văn Long (IV, XXXIV, 31:1866-1869, 1974:33), rồi cho Tộ và Nguyễn Điều theo Gauthier qua Pháp thuê nhân tài và mua sách vở về lập trường Quốc Học ở Huế. Tháp tùng có hai cận thần của Nguyễn Phước Thời là Nguyễn Tăng Doãn và Trần Hiển Đạo.[14]

Nguyễn Phước Thời cũng có ý định nhờ Gauthier thảo luận với triều đình Napoleon III một hiệp ước mới, nhưng Gauthier từ chối. Gauthier vốn không hoàn toàn tin tưởng Nguyễn Phước Thời, và nghi ngơ hai đại thần Nguyễn Tri Phương cùng Võ Trọng Bình. Phương mới từ Bắc Kỳ trở về, sau khi dập tắt giấc mơ Bắc Kỳ tự trị của Puginier và Gauthier. Chẳng những làm lễ đón tiếp linh đình, khi Phương vào chầu, vua cho ngồi, sau phong Phương làm Võ hiển đại học sĩ [I-1], Thượng thư Bộ Binh, kiêm hải phòng sứ; sung Cơ Mật viện đại thần. Bình làm thự Hiệp biện Đại học sĩ [I-2], Thượng thư Bộ Lại, Cơ mật viện đại thần. Trần Tiễn Thành đổi làm Thượng thư Bộ Công; phụ tá Phương lo việc hải phòng sứ. Nguyễn Văn Phong, nguyên Thượng thư bộ Lại, đổi nắm bộ Lễ. Phan Huy Vịnh nắm bộ Hình. (40)

40.  ĐNTLCB, IV, qXXXV, 31:1866-1869, 1975: 58-59, 75-77.

Tuy nhiên, ngoài danh vọng một cựu Phụ chính đại thần, và một lão tướng từng trải khắp ba chiến trường Nam, Trung, Bắc, Nguyễn Tri Phương không được mẹ con Nguyễn Phước Thời đánh giá cao. Một trong những lý do là Nguyễn Tri Phương thất trận Kỳ Hòa, làm mất ba tỉnh miền nam. Công lao dẹp thổ phỉ Thanh và giặc bể Ki-tô “Lê Duy Minh/Phượng” chỉ vừa đủ chuộc tội cũ. Trở lại kinh đô, thoạt tiên Phương còn được nể vì, can gián việc các quan bớt xách nhiễu dân công xây Vạn Niên Cung,(41) hay nặng nề chỉ trích mưu định cho thuê đất làm giàu tại ở ba cửa biển Quảng Yên, Ba Lạt và Đà Nẵng sẽ mở ra theo Hòa ước 1862.[15] 

41.  ĐNTLCB, IV, q XXXV, 31:1866-1869, 1974: 61-62 [10-11/1866].

Nhưng quan điểm chống Ki-tô, coi giáo dân Ki-tô như “tai mắt cho người Tây dương,” đi ngược lại chủ trường cầu hòa của mẹ con Nguyễn Phước Thời, và liên minh Phan Thanh Giản—kinh lược ba tỉnh miền tây Nam Kỳ—cùng Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, v.. v..

Thí dụ như lời phê bình của Nguyễn Tri Phương năm 1962 về ảo vọng sẽ giàu có sau khi hòa với Pháp mà nhóm Giản-Thành cao rao khiến Nguyễn Phước Thời không hài lòng, gạn hỏi tại sao Phương không nêu lên với nhóm chủ hòa. Rồi đến việc Phương chống đối chính sách thu thuế thầu bán thuốc phiện để có tiền bồi thường chiến phí cho Pháp và Espania, cùng việc cung cấp lương thực, chiến phí cho các đạo quân Thanh qua Bắc Kỳ dẹp thổ phỉ cùng hải tặc khiến Nguyễn Phước Thời cho là cứng đầu, xa cách dần.

Thời gian này, triều đình Huế không chỉ có miền Nam để phải quan tâm. Từ thập niên 1850, thổ phỉ Thanh từ Vân Nam và Quảng Tây kéo qua tàn phá vùng thượng du Bắc Kỳ. Các thành Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng và Lạng Sơn nhiều lần xin cầu viện. Thành Cao Bằng ba lần thất thủ. Trong khi đó thổ phỉ và hải tặc người Việt—mà đa số là giáo dân Ki-tô được Pháp xúi dục mở trận tuyến thứ hai làm suy yếu triều Nguyễn—cũng liên tiếp hoành hành ở vùng châu thổ và duyên hải. Thiên tai, vỡ đê, dịch lệ lan tràn. Đói kém xảy ra khắp nơi. Nếu quả có sự tương ứng giữa trời và người, thiên mệnh của Nguyễn Phước Thời tại miền bắc đã khánh kiệt từ lâu, trước ngày lái súng Jean Dupuis và Hải quân Thiếu tá Francis Garnier lộng hành đầu thập niên 1870.

Quân phí chống tặc phỉ tại miền Bắc (kể cả quân lương cho Thanh binh và tiền thuê tàu Thanh [9,000 lạng bạc 1 tháng]) là mối lo lớn. Không những ngân khố các tỉnh vơi hụt, mà hầu bao, vựa lúa của nông dân bị soi móc đủ kiểu. Nguyễn Phước Thời chấp thuận mọi biện pháp tăng thu—tăng thuế ruộng đất, linh động lệ quyên góp, kể cả hoàng thân, công tử, bán phẩm hàm, chức tước, cho dùng tiền chuộc tội.[16] 

Lỗ hổng lớn nhất của ngân khố là khoản “bồi thường chiến phí” Pháp và Espania đánh chiếm Đại Nam lên tới 400,000 Mỹ Kim hay 2,880,000 lạng bạc một năm. Mỗi năm trả hai lần. Năm 1862 và 1863, còn thiếu 5,049 đồng. Năm 1864 thiếu 200,000 đồng. Để có đủ tiền trả nợ năm 1865, vua phải mang vật dụng bằng bạc trong kho ra đúc nén. Lại sai Trương Văn Uyển vào Nam thu góp vàng bạc, nấu chảy cả hai pho tượng Phật cổ của Căm Bốt bằng vàng, đổ thành nén.

Từ năm 1865, Bộ Hộ cho Hoa thương nhập cảng thuốc phiện để đánh thuế. Thuế thuốc phiện trở thành một nguồn thu quan trọng. Trong năm 1865 thu được tổng số 382,000 quan. Ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên thu được cao nhất, 264,000 quan. Nam Định, 21,000 quan, Bình Thuận 20,000 quan, Hà Nội 17,000 quan. Phú Yên mỗi năm 5,000 quan. (35:31), v. v... [17](44)

 Nhưng vì “đức ý” của triều đình, Hán Văn Đế ở Huế thỉnh thoảng lại ra lệnh cấm hoàng thân, quan chức, quân đội, và rồi cử nhân, tú tài không được “yên sĩ phi lí thuần.”[18] 

Vua và các đình thần bắt đầu suy nghĩ về lời khuyên—thực tế, dù phũ phàng—của thông ngôn Tôn Thọ Tường là nếu thiếu tiền, cắt ba tỉnh miền Tây cho Pháp để trừ nợ.[19] 

Bởi vậy, trong mùa Thu 1866, Nguyễn Phước Thời và đình thần nhiều lần bàn luận nên hay không nên cắt miền Tây. Người muốn chỉ cắt thêm tỉnh Vĩnh Long, nếu cần, giữ lại An Giang và Hà Tiên. Người đề nghị trao đổi ba tỉnh miền Tây lấy ba tỉnh miền Đông; mở thêm 3 cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt (Nam Định) và Quảng Yên; và Pháp sẽ giúp đánh hải tặc, bỏ tiền bồi hoàn chiến phí. Nhưng đa số đều nghĩ rằng không thể chống giữ, nên tự nguyện triệt thoái giai đoạn, rút về Bình Thuận; rồi tùy theo phản ứng của sĩ dân miền Nam mà định liệu. Cần chuẩn bị kế hoạch đưa nghĩa dân miền Nam ra Bình Thuận-Khánh Hòa lập nghiệp.[20] 

Cuối cùng, Nguyễn Phước Thời cho Phan Thanh Giản tùy quyền hành động, “nếu nhường, nên châm chước cốt cho được hòa bình.” Từ đầu năm 1866, Phan Thanh Giản đã vào Vĩnh Long với chức Kinh lược sứ miền Tây, cùng mật chỉ duy trì liên hệ thân thiết với soái phủ Pháp để xin chuộc lại miền Đông, bằng mọi giá, hy vọng rằng “một lời mạnh hơn 10,000 quân.”[21] 

Nhưng tuổi đã trên 70 và chủ trương cầu hoà, Phan Thanh Giản chẳng có một chuẩn bị nào để phòng thủ phần đất còn lại.

Thái độ của triều đình Huế không khiến người Pháp “động tâm” như vua hy vọng và ảo vọng. Ngày 14/10/1866, La Grandière sai Paulin Vial [Vy An] và Le Grand de la Liraye [Dương] ra Huế bàn thảo tân ước. Đòi lấy thêm ba tỉnh miền Tây (An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long). Vua sai Phan Huy Vịnh và Phạm Phú Thứ đến bàn thảo. Vial đe rằng nếu vua không thuận, sẽ có chiến tranh.

Viện Cơ Mật chủ trương đánh, nếu đánh không lại, rút về giữ Bình Thuận, rồi cho sĩ dân miền Nam kháng chiến. Vua không có quyết định, mật chỉ cho Phan Thanh Giản, Trương Văn Uyển lo liệu.

Tháng 11/1866, Nguyễn Phước Thời lại thúc dục Giản thương thuyết, nhưng không đạt được kết quả.

Ngày 19/1/1867, Đô Đốc Rigault de Genouilly—người cầm đầu cuộc biểu dương lực lượng 1858-1859—thay Chasseloup-Laubat làm Bộ trưởng Hải quân & Thuộc địa. Dưới ảnh hưởng của Hội Truyền Giáo cùng các nhà doanh thương, và nhất là sự bành trướng ảnh hưởng của Bri-tên tại Đông Nam Á, Rigault thuận cho La Grandière chiếm ba tỉnh còn lại ở miền Nam.

Để tạo cơ hội động binh, tháng 2/1867, La Grandière sai Monet de Lamarck tới Huế lập lại đòi hỏi ký một hoà ước bảo hộ và cắt nhượng thêm ba tỉnh miền Tây.[22] 

Báo chí Sài Gòn bắt đầu chiến dịch cổ võ nhu cầu chiếm trọn miền Nam. Tờ Courrier de Saigon, chẳng hạn, cả quyết rằng dân Annamite—thuật ngữ do các giáo sĩ sáng tạo, xuất xứ từ tên An Nam Đô hộ phủ, hay An Nam Đô thống sứ ty—rất tri ơn và không chút ngần ngại đứng sau lưng chính nghĩa khai hóa.(50) Việc chiếm đóng ba tỉnh miền Tây, vẫn theo báo này, rất được tán thưởng vì đó sẽ là bước khai hóa mới cho những sắc dân bị cô lập và ít biết đến nhất ở Á châu, sẽ mang lại hòa bình cho các nước láng giềng, cũng như bảo đảm an ninh cho các thương gia.[23] 

Trong khi Phan Thanh Giản tìm cách thương nghị, ngày 20/6/1867, La Grandière tự động chiếm Vĩnh Long (20/6/1967), rồi An Giang (21/6/1967), và Hà Tiên (24/6/1967). Phan Thanh Giản hạ lệnh giao thành.[24]

Ngày 25/6/1867, La Grandière có thể kiêu hãnh tuyên bố rằng Nam kỳ sẽ được vinh dự khai hóa bằng “một nền văn minh dựa trên Ki-tô giáo, công lý và sức mạnh.” Khước từ vinh dự ấy, ngày Chủ Nhật 4/8/1867, Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử.[25] Trước khi tự kết liễu đời mình trong danh dự—tức chết theo thành có trọng trách bảo vệ—Phan Thanh Giản cẩn thận nộp sớ báo đã giao số gạo bù vào số tiền 1 triệu đồng bồi thường năm đó, cùng mũ áo, ấn triện. Sau đó nhịn ăn mà chết.[26]

Ghi nhớ: Petrus Key không nhắc đến tên Phan Thanh Giản, hay Aubaret trong tập Bài học sử năm 1879. Có lẽ vì không được phép.

PHẢN ỨNG VỀ VIỆC MẤT NAM KỲ:

Việc Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây và cái chết của Phan Thanh Giản khiến triều đình Huế—dù đã dự đoán được hậu quả—rơi vào tình trạng bại liệt, khủng hoảng.

Tháng 7/1867, thân phiên, hoàng thân triều thần Nguyễn họp, đề nghị cử sứ đoàn vào Sài Gòn điều đình việc giao trả những quan chức còn mắc kẹt ở miền Nam; và xin miễn trả chiến phí vì đã nhượng cả sáu [6] tỉnh cho Pháp.[27] 

Sau khi nghe Phan Huy Vịnh thuật lại nội dung một buổi mạn đàm với một viên chức Pháp—là sở dĩ phải chiếm ba tỉnh miền Tây vì các quan lại đã yểm trợ cho các toán nghĩa quân kháng Pháp, và muốn thương thuyết, phải nói chuyện với chính phủ ở Paris—hôm sau triều thần đổi ý. Ngày 10/7, họ đề nghị cho người vào nhờ soái phủ Pháp giúp phương tiện qua Pháp điều đình hiệp ước mới. Hoặc, nếu Pháp đồng ý đổi Căm Bốt và ba tỉnh miền Tây lấy ba tỉnh miền Đông thì không cần phải qua Pháp nữa.[28] 

Nhưng Nguyễn Phước Thời và triều thần chẳng có  sách lược nào rõ ràng. Trong bản văn bia Khiêm Cung vào tháng 8-9/1867, vua giãi bày tâm trạng như sau:

Biết người không tinh là tội ở trẫm; dùng người không xứng, cũng là tội ở trẫm, phàm mọi việc làm không nên, đều là tội ở trẫm.[29] 

Khoảng 4 tháng sau ngày Pháp chiếm miền Tây. ngày 20/10/1867, Nguyễn Phước Thời xuống chiếu, tuyên bố:

Việc sáu tỉnh Nam Kỳ . . . do trẫm không biết tính xa, không biết dùng người, chỉ biết tự trách, thẹn hối vô cùng [Nam kỳ lục tỉnh chi luân hãm cố do trẫm muội quyết viễn đồ, dụng phi kỳ nhân, thân tự hận trách, thống hối nan truy].”[30] 

Hơn một năm sau, khi luận xét về công tội của các quan tướng như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, v.. v..., vua vẫn ngậm ngùi than thở:

Trẫm vì bạc đức, không biết tính xa, dùng người sai lầm, rất tự thẹn hối, trăm quan các ngươi, lương tâm chưa mất, há chẳng đau lòng? Mất buổi sớm, thu lại buổi chiều, trẫm đương ngày đêm mong mỏi. Các bề tôi của ta chịu ơn như thế nào? Báo đáp ra sao? Đều tự nghĩ lấy, đừng chỉ nói xuông để tắc trách. [31]

Sự nhu nhược của triều Nguyễn khiến các hào kiệt miền Nam đành phải tự động mộ binh khởi nghĩa. Lừng lẫy nhất là lực lượng của Nguyễn Trung Trực. Ngày 16/6/1868, với sự nội ứng của một số hạ sĩ quan lính tập, Nguyễn Trung Trực đánh chiếm được đồn Rạch Giá, giết chết 30 người Pháp. Nhưng năm ngày sau, 21/6, viện binh Pháp từ Vĩnh Long kéo tới, tái chiếm Rạch Giá. Tham dự cuộc hành quân này có Đỗ Hữu Phương (Tổng đốc Phương), Huỳnh Công Tấn (Đội Tấn), Trần Bá Lộc (Phủ Lộc), dưới quyền Trung tá Ansard. Nguyễn Trung Trực phải chạy ra Hòn Chồng, rồi Phú Quốc. Trung tuần tháng 8/1868, quân Pháp vây đánh Phú Quốc. Nguyễn Trung Trực phải hàng, rồi bị xử bắn ngày 27/10/1868 tại Rạch Giá.

Năm 1869, thuộc hạ cũ của Trương Định cũng phò con trai ông là Trương Huệ, liên kết với Căm-Bốt và Lào để mưu chiếm thành Gia Định, nhưng không thành công. Mặc dù tinh thần kháng Pháp vẫn còn ấp ủ, tiềm tàng trong tâm can người miền Nam, con triều thực dân Âu châu phủ ngập dần sáu tỉnh Nam Kỳ, với đầy đủ những lợi ích và tác hại hẳn có. Một số người di tản ra vùng Thuận Khánh, thành lập đồn điền dưới sự hướng dẫn của Phan Trung, con Phan Thanh Giản, hay đăng lính mộ ra Bắc dẹp Thanh phỉ. Những người ở lại chua chát, cay đắng chỉ trích những kẻ “thà mất lòng anh đặng bụng chồng.”

HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG:

Ngày 4/4/1868, La Grandière lên đường về Pháp nghỉ dưỡng bệnh. Đề đốc Marie G H Ohier (4/1868-12/1869) được cử làm Quyền Thống Đốc Sài Gòn. Cuối năm 1869, Paris lại cử Phó Đô Đốc Cornulier-Lecunière làm Quyền Thống đốc. Mãi tới tháng 3/1870, do tình trạng chiến tranh ở Âu châu, Cornulier-Lecunière được chính thức thay La Grandière.

Vì triều Huế đã nhắm mắt nhượng đứt cho Pháp sáu tỉnh miền Nam, các viên chức Pháp có thời gian kiện toàn dần tổ chức hành chính thuộc địa.

Theo HQ Thiếu tá Rieunier, trong năm 1862, số tàu Tây phương vào cảng Sài Gòn lên tới 114 chiếc, so với 72 thuyền người Hoa.[p. 2]

9 nước Tây phương có tàu vào Sài Gòn:

Pháp (44), Bri-tên (43), Hambourgeois (7), Mỹ (6), Danois (6), Péruviens (1), Belges (1), Brémois (1), Hollandais (5).[p.2]

1860: 111 Tây phương, 140 Hoa;

1861: 175 Tây phương, 48 Hoa. [p.5]

Xuất cảng: gạo trắng (42470 tấn), cá khô (2430 tấn), muối, da trâu, sừng trâu, chiếu, gỗ đóng tàu, café (750 bao), xà-phòng (192 caisse), v.. ...

Nhập cảng: giấy bản TH, chén tách TH, trái cây khô, áo mưa, mứt, thuốc phiện (260 caisses [75 tàu Tây phương, 185 thuyền TH]) [p.3], dược phẩm (1475 caisses, cả Pháp lẫn TH), áo mưa, bột mì (farine, 3,494 bao), vôi ăn trầu, than đá, than củi, trà, rượu vang, lúa mì [blé], đinh sắt, v.. v...[32]

Đại cương, ở Nam Kỳ lúc đó có ba nhóm cộng đồng Việt khác nhau. Nhóm người Việt thuần túy, người Việt gốc Hoa, và người Việt gốc Khmer. Khởi đi từ nhu cầu mở rộng vòng đai kiểm soát các vị trí đóng quân và chốt chặn các trục lộ giao thông, cùng bảo đảm hệ thống cung cấp lương thực, nhân công của Jauréguiberry, Charner hay Bonard, Benoit de La Grandière và người kế vị tìm cách kiểm soát các cộng đồng người Việt để khai hoá các tài nguyên địa phương và biến Nam Kỳ thành thị trường của hàng hóa Pháp.

Để kiểm soát và cai trị người Việt thuần túy, quan chức Pháp sử dụng nhóm thiểu số giáo dân Ki-tô tham vọng hoặc những thành phần tệ đoan xã hội. Phần đại đa số thầm lặng—tức khối nông dân—được quay mặt làm ngơ, miễn hồ chịu sống hiền lành, ngoan ngoãn trong khuôn khổ trật tự mới. Việc mở mang hải cảng Sài Gòn và các cơ sở thương mại cũng lôi kéo về Sài Gòn di dân từ bốn phương, tạo nên hai giai tầng xã hội mới: đó là thị dân và nhân công. Sự xuất hiện của hai giai tầng này đánh dấu một giai đoạn mới cho sự phân biến của xã hội cổ truyền Việt, từ một xã hội nông nghiệp [tự túc] tiến sang một xã hội thuộc địa kinh tế.

Với những người Việt gốc Khmer, quan chức Pháp áp dụng một chính sách tương tự, ngoại trừ việc khích động lòng thù hận người Việt. Những truyền thuyết như quan tướng Việt dùng người Miên làm “bếp nhau” hay cho lệnh chôn sống hàng chục ngàn nhân công Khmer sau khi hoàn tất việc đào kinh Vĩnh Tế vào cuối triều Nguyễn Phước Chủng, đầu triều Nguyễn Phước Đảm được lưu truyền. [33](61)

Các cộng đồng người Hoa được đặc biệt chú ý. Nỗ lực tái tổ chức cộng đồng người Hoa đã bắt đầu từ năm 1859. Ngày 29/12/1859, Page bổ nhiệm Trung úy Borès làm Giám đốc Trung Hoa và Việt vụ. Có một ủy ban (magistrat) gồm 8 người (4 Việt, 4 Hoa) phụ tá. Hơn một tháng sau, ngày 13/2/1860, Jauréguiberry ra sắc lệnh số 6, thiết lập một hội đồng (conseil) đại diện người Hoa. Hội đồng này gồm 6 người, dưới sự quản trị của Giám đốc An-Nam vụ (Directeur des Affaires annamites). Chủ tịch: Phoo Tac; Xuân, Phó, đặc trách Sài Gòn; Phoo Kok và Phoo Tien (phụ trách cư dân ở Sài Gòn); và, Phoo Troung, Phoo Ky (phụ trách tàu bè). (63)

63. SHM (Vincennes), GG2 99, carton 2.

Từ đó, Hoa thương, nhờ mạng lưới kinh tế, tài chính và thương mại khu vực, tiếp tục thống trị nền kinh tế Đại Nam. Họ cũng có những tổ chức bí mật như Nghĩa Hoà Đoàn, Thiên Địa Hội, rồi Quốc Dân Đảng và “Cộng Sản,” ảnh hưởng rất lớn trong các bang và hội. 

Nhận hiểu tầm quan trọng của Hoa thương và người Việt gốc Hoa, các quan chức Pháp duy trì họ ở cương vị trung gian kinh tế. Chợ Lớn trở thành trung tâm thương mại và kinh tế của toàn miền Nam. Tại các tỉnh, người Hoa thống trị việc mua bán thóc lúa và hệ thống cửa hàng “tạp hóa,” kể cả những tiệm tạp hóa nổi trôi trên kinh rạch, hay ghe thuyền bán nước ngọt. Họ còn nắm độc quyền khai thác thuốc phiện và cờ bạc.[34]

Trên đỉnh của hình tháp xã hội miền Nam là một thiểu số quan chức, binh sĩ, giáo sĩ, cùng những người Pháp ưa phiêu lưu, mạo hiểm vào khoảng trên 10,000 người. Phần lớn được hưởng những ưu quyền luật pháp, hành chính cũng như kinh tế. Một người Pháp bị phạm tội chỉ bị xét xử theo luật Pháp. Các chức vụ quan trọng trong công sở đều dành riêng cho người Pháp. Thương gia Pháp nắm giữ độc quyền việc xuất/nhập cảng, chỉ dành cho người Hoa những ngành hoạt động thứ yếu trong mạng lưới Hong Kong, Singapore, Sài Gòn. Người Pháp sống trong những căn nhà đẹp đẽ nhất, di chuyển trên những chiếc xe sang trọng nhất, xây dựng nên những khu phố Tây khang trang, với những tiệm tạp hóa [bazaars], tiệm ăn, quán rượu, v.. v... dành riêng cho giai tầng cai trị thuộc địa. Trẻ em được theo học những trường đầy đủ tiện nghi. Mỗi gia đình đều có những anh bồi, bếp, chị hai, ba. Mỗi viên chức hay quân nhân đều có thể có một người vợ bản xứ, thường gọi là “me Tây.” Ngay các nhà truyền giáo cũng có vài người hầu được gọi tôn lên là “chú.”[35] 

Tuy nhiên, việc chiếm đóng Nam Kỳ hãy còn trong tình trạng tạm bợ, nền hành chính đại cương mang sắc thái quân quản. Mỗi Đề đốc hay Phó Đô Đốc có những sở thích và quyết định tại chỗ biến thiên đâu đó giữa hai đối cực lý thuyết “đồng hoá” và “hợp tác.” Mãi tới ngày 21/4/1869, Pháp mới thành lập Hội đồng tư vấn (Conseil Privé), dưới sự chủ tọa của Thống đốc Nam kỳ. Hội đồng này gồm 3 ủy viên: Tổng Biện lý (Procureur Général), đặc trách về luật pháp; Giám đốc Nha Nội Chính; và Giám đốc Điều hành(Ordonnateur), người chịu trách nhiệm về tài chính và liên hệ với Bộ Thuộc Địa).

Những năm cuối thập niên 1860, nhiều người Pháp, kể cả La Grandière, bắt đầu có ý định thâu tóm luôn toàn cõi Đại Nam. Nhưng tình hình căng thẳng ở Âu Châu—đưa đến cuộc chiến Pháp-Prussia [Phổ], chấm dứt chế độ quân chủ ở Pháp năm 1871—khiến người Pháp chẳng dám phiêu lưu mạo hiểm hơn nữa, mà phải lo phòng thủ Nam Kỳ cùng Cambodge trước những hiểm họa bất ngờ có thể xảy ra từ phía Bri-tên. Phải tới thập niên 1870, và nhất là từ khi Charles Le Myre de Vilers được phái qua Nam Kỳ làm Thống đốc dân sự đầu tiên năm 1879, người Pháp mới có những chính sách rõ ràng hơn về việc khai thác Nam kỳ nói riêng và Đông Dương nói chung.

Cách nào đi nữa, từ năm 1867, sáu tỉnh Nam Kỳ đã bị phóng vào quĩ đạo “thực dân,” tách biệt hẳn với triều đình Huế. Mặc dù mãi tới năm 1874, mới chính thức cắt trọn Nam Kỳ cho Pháp, miền đất này đã đi tiên phong trong một cuộc tiến hóa sâu rộng khó tránh của đất nước và dân tộc Việt.

ĐÀO TẠO THÔNG NGÔN

Từ Pháp trở về, Petrus Key vẫn tiếp tục nghề thông ngôn cho Soái phủ Pháp (vì tiền bạc, dĩ nhiên, nhưng cũng vì lập trường đồng hóa quyền lợi cá nhân với quyền lợi nước Pháp ở An Nam). Nhưng vai trò Petrus Key ngày một thăng tiến. Năm 1866, theo một tác giả, Petrus Key được cử làm Giám đốc trường thông ngôn (Collège des Interprètes). Làm việc tại đây khoảng 2 năm, ngày 2/11/1868, Petrus Key xin từ chức vì đụng chạm với Giám đốc Sở Nội chính là Paulin Vial.[36]

Trường Thông Ngôn này, tưởng nên thêm, nhằm đào tạo thông ngôn cho các địa phương. Ngoài việc giúp các đạo quân viễn chinh Pháp (như thông dịch, thu lượm tin tức tình báo, v.. v... ) họ còn có nhiệm vụ truyền bá chữ “quốc ngữ mới.” Trong số học trò nổi danh của Petrus Key có Diệp Văn Cương, Trương Minh Ký [Xem Phụ Bản 3]

Triều đình Huế cũng lựa chọn một số thiếu niên thông minh—kể cả hành nhân Nguyễn Hữu Bồi—gửi vào Sài Gòn cho Petrus Key huấn luyện. Và đây là lần đầu tiên tên Petrus Key, đúng hơn, Trương Vĩnh Ký, được ghi chép trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên: tháng 4-5/1968 gửi 5 sĩ nhân vào học trường thông ngôn Sài Gòn; nhắc đến việc Bồi và 4 sĩ nhân khác đã học tiếng Pháp với Petrus Ký. Châu Bản Triều Tự Đức hai lần chép việc gửi sĩ nhân vào Sài Gòn cho Trương Vĩnh Ký huấn luyện.[37] 

VŨ NGỰ CHIÊU Ph.D. J.D.



Phụ Bản 51:

Bản án tháng 12/1868-1/1869 v/v thua trận Pháp ở Nam Kỳ:

Đình thần tâu dâng 2 tập nghị xử, nghị phong về công tội của bọn Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Bá Nghi, Vũ Trọng Bình.

(Trước đã giao nghị xử về tội lỗi ở Nam Kỳ của bọn Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình 20 viên, gần đây lại giao nghị phong về quân công ở Bắc Kỳ của bọn Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Bá Nghi). Vua cho là nghị chưa được sáng suốt, chính đáng; bèn mới quyết định, dụ rằng:

Việc đất đai ở Nam Kỳ đến nay nói đến khiến người ta giận bực không thể nói xiết. Xét về nguyên ủy, thì giữ đánh lỗi thời, hỏng ngay từ đầu, nghị hòa khinh thường bỏ mất, hỏng ở quãng giữa, vâng lệnh đi sứ bất lực, hỏng ở quãng sau, lần lữa cẩu thả, hèn kém, mất ở sau cùng, trong đó sự thể có khó, dễ, tình tội có nặng, nhẹ, nên phải phân biệt xử trị, cho được sáng tỏ phép nước, khích khuyến tiết tháo người bề tôi.

Vũ hiển điện đại học sĩ lãnh [I-1] Thượng thư bộ Binh Nguyễn Tri Phương trước sung Tổng thống quân thứ Quảng Nam, đem Phạm Thế Hiển cùng đi, mà để Gia Định phòng bị sơ thất thủ, Tôn Thất Hạp, sau tuy thua một trận, còn biết chống giữ, Nguyễn Tri Phương cùng Phạm Thế Hiển lại đến, vội tính, thất sách thua to, nên lan tràn khó tính cho đến ngày nay. Tuy sau đánh dẹp ở ngoài Bắc có công, chưa đủ đền được lỗi trước, nhưng biết sợ hãi, hăng hái lập công, còn hơn là không có công trạng.

Thự hiệp biện đại học sĩ [I-2] lãnh Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên Nguyễn Bá Nghi lúc sung làm Khâm sai đại thần, Biên Hòa thất thủ, sự thế đã khó khăn mà nghị hòa không quả quyết, để lỡ sự cơ, cũng tại cớ mọi người giữ ý kiến sai trái không liệu thế lực mà thôi, xét tình và theo pháp luật tội viên này còn nhẹ, sau nhận trọng trách một địa phương ấy, tuy biết vỗ yên quân dân, nhưng việc ở Tuyên Quang giao cho một mình xử trí, cũng lâu không làm xong, hai viên ấy miễn cho giáng truật, đã là hậu rồi. Vậy việc trước đã giao cho bàn phong tước, nay đình lại, để cho đều tự nghĩ cố gắng báo đáp.

Phạm Thế Hiển, Tôn Thất Hạp, sau khi việc xảy ra đều không có công gì đáng xét, chuẩn cho đều truy đoạt chức hàm, chờ sau khi thu phục sẽ trả lại cho mới đúng.

Thự Thượng thư bộ Hộ [II-1] Phạm Phú Thứ, bố chính sứ Nghệ An Ngụy Khắc Đản lúc ấy đi sứ tình thế đã khó vãn hồi, vả lại là chức phó, so với Phan Thanh Giản thì tội nhẹ hơn, nhưng không biết hết sức lo toan khôi phục, cô phụ sự ủy thác, cũng khó tha cho cả được. Phạm Phú Thứ tức giáng làm thự tả tham tri bộ ấy vẫn lãnh chức Thượng thư, nay đương bắt phải làm cho được việc, để được cùng với 2 quan bộ Binh, bộ Công lập công chuộc tội. Ngụy Khắc Đản là người thổ trước quen thuộc, cai trị hạt ấy lại cũng không được việc, cùng với Tổng đốc An Tĩnh Hoàng Tá Viêm đều không xứng chức. Đáng phải bãi chức ngay, nhưng nay đương bắt làm việc ở biên giới, Ngụy Khắc Đản, chuẩn cho giáng làm Hồng lô tự khanh [IV-1] vẫn lãnh chức bố chính sứ, bèn cùng với Hoàng Tá Viêm hết sức làm việc cho xong công việc đã trù tính ấy. Hai viên này hiện phải cách lưu, sẽ theo ân chiếu làm việc. Năm nay gặp khánh tiết, ban ơn nên rộng, nhưng án ấy rất quan trọng, trẫm đã châm chước vừa phải, đều nên cố gắng gấp bội để chuộc lỗi trước, dùng người chỉ cầu người cũ, chớ nên coi thường ân huệ mà tự bỏ mình.

Nguyên hiệp biện đại học sĩ lãnh kinh lược sứ Phan Thanh Giản, trước đã cùng Lâm Duy Thiếp sơ suất định hòa ước, đem 3 tỉnh Định-Biên-Tường khinh thường cho người; đi sứ lại không được việc. Sau sung kinh lược sứ lại để lỡ cơ hội, nên các tỉnh Long-Giang-Hà đều mất, hai tội đều nặng cả, tuy sau khi việc đã rồi, xét phải tội chết, chưa đủ che được tội. Vậy Phan Thanh Giản cho cùng với Lâm Duy Thiếp đã quá cố đều truy đoạt lại chức hàm, và đẽo bỏ tên ở bia tiến sĩ, để mãi cái án trảm giam hậu. Giết kẻ đã chết để răn về sau.

Bọn quan ba tỉnh Long-Giang-Hà: Trương Văn Uyển, Nguyễn Hữu Cơ, Trần Hoán, Nguyễn Xuân Ý, Nguyễn Văn Học, Nguyễn Văn Nhã, Vũ Doãn Thanh, Phạm Hữu Chính, Nguyễn Duy Quang, đề đốc Vũ Thưởng, chánh phó lãnh binh Hoàng Chiêu, Hoàng Uy [Oai], Nguyễn Hương, Nguyễn Tập, Nguyễn Bút đều là bậc đại thần giữ bờ cõi, ngày thường đã không biết dò thám trước mà đề phòng sẵn, khi lâm sự lại không hết lòng châm chước đối phó, để đến nỗi đều mất, chỉ mang thân không trở về nói sao cho hết tội, đều đã cách chức ngay chờ nghị; trong đó Trương Văn Uyển thì phải tội 100 trượng, phát lưu 3.000 dặm; Nguyễn Hữu Cơ, Trần Hoàn, Vũ Thưởng, Nguyễn Xuân Ý, Nguyễn Văn Học, Nguyễn Văn Nhã, Vũ Doãn Thanh, Phạm Hữu Chính, Nguyễn Duy Quang, đều phải tội 100 trượng, đồ 3 năm; Hoàng Chiêu, Hoàng Uy, Nguyễn Hương, Nguyễn Tập, Nguyễn Bút đều phải tội 80 trượng, đồ 2 năm, 15 viên trên đây người còn thì đều chiểu lệ thi hành, người chết thì truy đoạt lại chức hàm, người chưa tới nơi, đợi khi đến, chiểu án xử lý. Duy có phó lãnh binh quan Đỗ Huy mới nhận chức ít ngày, tạm gia ơn xử phải cách chức lưu, để xem làm việc sau này.

Lại hiệp biện đại học sĩ sung khâm sứ đại thần ở Cao, Lạng Tuyên, Thái Vũ Trọng Bình, trước đây kinh lược Lạng, Bằng, hơi có chút công lao, nhưng đối với giặc hàng xử trí không xong, để di họa đến ngày nay cũng đình nghị phong, đợi lần này, nếu biết làm việc khéo, được yên ổn lâu dài, sẽ ban ơn chưa muộn. Còn những người không can dự được phong, thì quan có chức trách xét bàn ngay để khuyên răn.

Than ôi! Một tấc đất, một người dân, không gì không vật cũ, "con hổ," con hủy ra khỏi cũi, rùa, ngọc để nát ở trong hòm, lỗi tại ai? Trẫm vì bạc đức, không biết tính xa, dùng người sai lầm, rất tự thẹn hối, trăm quan các ngươi, lương tâm chưa mất, há chẳng đau lòng? Mất buổi sớm thu lại buổi chiều, trẫm đương ngày đêm mong mỏi. Các bề tôi của ta chịu ơn thế nào? Báo đáp ra sao? Đều tự nghĩ lấy, đừng chỉ nói suông để tắc trách... (ĐNTLCB, IV,  XXXIV, 31:1866-1869, 1974:267-270; Nguyễn Duy Oanh, 1974:321-324)

Phụ Bản 52: Ba Tỉnh Miền Tây

Hà Tiên

Tập 5: ĐNNTC, q XXVI: Hà Tiên, (1997),  (5:5-34)

Artifacts: Oc Eo pottery, 1-7 century BC.

1615: Angkor King’s Edict.

24/6/1967: Pháp chiếm Hà Tiên. 20/6/1867: Pháp chiếm Vĩnh Long; 22/6/1867: Pháp chiếm An Giang;

Sau 1975,tỉnh Kiên Giang; gồm 

thị trấn Hà Tiên [tỉnh cũ lập năm 1833] và

thị xã Rạch Giá, tỉnh cực tây của miền nam; gồm đất liền và các biển đảo kể cả Phú Quốc.trong Vịnh Xiêm La [Thái Lan]. 

Rạch Giá-Sài Gòn, 248 km; dùng LTL 80, Rạch Giá-Sa Đéc, 105 km. Sa-Đéc-Sài Gòn: 143 kms.

16/6/1868: Nguyễn Trung Trực chiếm Rạch Giá. Giết chết 30 người Pháp. 21/6/1868: Đề đốc Marie G H Ohier (4/1868-12/1869), Quyền Thống đốc, sai viện binh Pháp từ Vĩnh Long kéo tới. Có Đỗ Hữu Phương (Tổng đốc Phương). Huỳnh Công Tấn (Đội Tấn), Trần Bá Lộc (Phủ Lộc). Nguyễn Trung Trực chạy ra Phú Quốc [Tây Hà Tiên 70 km]. 8/1868: Pháp vây đánh Phú Quốc. Nguyễn Trung Trực đầu hàng. Ngày 27/10/1868, bị xử bắn ở Rạch Giá.

Phú Quốc: Tây Hà Tiên 70 km; 27 đảo, một thị trấn; diện tích 576 km2; dân số 45,000 (1993), 95,000 (2013), dài 50 km, rộng nhất, 25 km.Hai sân bay, Dương Đông và An Thới; cảng Dương Đông. Trồng trọt, hồ tiêu, cao su, đánh bắt hải sản.

Minh Hải: Bạc Liêu và Cà Mau cũ.

Bạc Liêu-Sài Gòn, 288 km; Hà Nội, 1964 km.

[Hậu Giang: Cần Thơ cách Mỹ Tho 126 km, Sài Gòn, 196 km; Hà Nội, 1891 km.

Cần Thơ-Phụng Hiệp, 27 km; Cần Thơ-Sóc Trăng, 60 km; Cần Thơ-Bạc Liêu, 114 km; Cần Thơ-Cà Mau, 180 km; Cái Nước, thêm 35 cây số [215 km], Năm Căn, 20 km [235 km].

Vĩnh Long

ĐNNTC, q XXIX: Vĩnh Long, (1997) (5:121-156)

20/6/1867: La Grandière chiếm Vĩnh Long; 22/6/1867: Pháp chiếm An Giang; 24/6/1867: Pháp chiếm Hà Tiên. 4/8/1867: Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. 1869 bị Nguyễn Phước Thời đục tên khỏi bia đá Tiến sĩ.

Sau 1975,  Vĩnh Long hợp với Vĩnh Bình, thị xã Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long. Vĩnh Long đi Sài Gòn, 141 km; không còn phà như ngày trước Hà Nội, 1860 km. Vĩnh Long-Ba Càng, 18 km; Cái Vồn, 29 km; Cần Thơ, 33 km.

Phụ bản Côn Lôn [Pulau Kundur, Poulo Condore], (1997),  (5:152-56)

Đảo Côn Lôn, ở giữa biển cả; nay thuộc Bà Rịa-Vũng Tàu. Đông Nam Vũng Tàu 180 cây số. Gồm 14 đảo. Diện tích Côn Đảo 51.2 km2.

Trước thuộc Cần Giờ, trấn Gia Định, đi thuyền một ngày, một đêm thì tới. 1702-1703, Britên chiếm giữ]. 1787: Cắt nhượng cho Pháp và Touron, tức Đà Nẵng. Năm 1830, huyện Trà Vinh, Vĩnh Long, đông nam Vĩnh Long. (1997) (5:142, 154, 155-156) .

Năm 1862, Pháp xây nhà tù trên đảo. Tù nhân chính trị: Nguyễn Trung Trực. Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thái Thân, v.. v.. Thập niên 1930, Phạm Văn Đồng (ThT, 1955-1987), Phạm Văn Thiện (Phạm Hùng, 1987-1988), Tôn Đức Thắng (CTNN, 1969-1981), Nguyễn Phương Thảo (Nguyễn Bình, 1910 [1929-1934]-1951), Lê Duẩn (1910 [1931-1936, 1940-1945]-[1960-1986]), Lê Văn Lương  (1914 [1/1934]-?)

An Giang

ĐNNTC, q XXX: An Giang, (1997),  (5:157-198)

22/6/1867: La Grandière chiếm An Giang; 20/6/1867: Pháp chiếm Vĩnh Long; 24/6/1967: Pháp chiếm Hà Tiên.

Thị xã Long Xuyên-Sài Gòn, 193 km; Hà Nội, 1791 km. Châu Đốc,119 km tới Tri Tôn 42 km.

Thị xã Châu Đốc, hữu ngạn sông Hậu, cửa kinh Vĩnh Tế. Cách Hà Tiên 90 km. Châu Đốc,  5 km, núi Sam, đền Thoại Ngọc Hầu; đi sát Thất Sơn, đi hướng tây nam, theo  kinh Vĩnh Tế,  95 km tới Hà Tiên.

Phụ Bản III:

Cấp Chỉ Huy Pháp (1857-1885)

A. Thời của các đô đốc:

1. Ngày 25/11/1857: Charles Rigault de Genouilly được Đô Đốc Ferdinand Alphonse Hamelin, Thượng thư Bộ HQ&TĐ, cử làm Tư lệnh đạo quân viễn chinh. SHM (Vincennes), GG2 39; CARAN (Paris), Fonds Marine, BB4-749, 1045. Năm 1847, hạm trưởng Victorieuse, bắn phá Đà Nẵng, cùng Đại tá Augustin Lapierre, hạm trưởng tàu Gloire.

2. Ngày 20/8/1859: Đề đốc Joseph Page thay Rigault de Genouilly. Tới Đà Nẵng ngày 19/10/1859. 1/11/1859: Nhận bàn giao của Rigault de Genouilly. 2/2/1860: Rời Sài Gòn lên Hong Kong. 27/2/1860: Lệnh bổ nhiệm Phó Đô Đốc Leonard Charner.  CARAN (Paris), BB4 767; SHM (Vincennes), GG2 44:3, d3 [ngày 9/2/1860, tức một tuần sau ngày rời Sài Gòn, Page được thông báo sẽ được Charner thay thế]

3. Ngày 7/2/1861 Charner mang chiến hạm tới Gia Định. Ngày 23 [28]/11/1861 Phó Đô Đốc Louis Alphonse Bonard [Phô Na] thay Charner. (ĐNTLCB, IV, 30:1863-1865, 1974:46) [hòa ước 5/6/1862]

4. Ngày 30/4/1863, Đề đốc Pierre Paul Benoit de La Grandière thay Phó Đô Đốc Louis Bonard [Phô Na] về nước. (ĐNTLCB, IV, 30:1863-1865, 1974:46) [Bonard đã thay Charner từ ngày 23/11/1861].  

[6/1867: chiếm 3 tỉnh miền tây]

4/4/1868: Pierre Paul Benoit de La Grandière về nước dưỡng bệnh. Đề Đốc Marie G H Ohier XLTV (4/1868-12/1869),

5. Đề Đốc Cornulier-Lecunière (12/1869-3/1870). Thực thụ, 3/1870-2/4/1871.

6. 2/4/1871: Đề đốc Jules Dupré (1813-1881) làm Thống đốc Cochinchine (tới 16/3/1874) [hòa ước 15/3/1874]

7. 1/12/1874-31/1/1876, 7/7/1876-15/10/1877: Đề đốc Charles Duperré. 5/1/1876: Chia Nam Kỳ làm 4 Khu: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, và Bassac. Mỗi Khu, chia làm nhiều Tiểu Khu. Sài Gòn: 5 tiểu khu:

8. 16/10/1877-6/7/1879: Louis Jules Lafont [cựu tùy viên của Rigault de Genouilly. Từng thương thuyết với Nguyễn Tri Phương năm 1859].

Đề đốc Lafont lên thay Đề đốc Duperré ngày 16/10/1877. Giống như những người tiền nhiệm, ông đã tích cực áp dụng những biện pháp mà ông tin rằng đích đáng để bảo đảm hòa bình và thịnh vượng cho đất mới của Pháp. Ông rời chính quyền thuộc địa ngày 7/6/1879.

Ông [Lafont] chấm dứt một loạt các Thống đốc quân sự mà sự tận tâm, nghị lực và sự khôn khéo thận trọng đã cho phép bình định gần như toàn thể xứ này trong vòng 20 năm, đã khiến cho dân chúng của đất Nam Kỳ xưa thương yêu và kính trọng những nhà bảo hộ mới của họ, quốc gia mới của họ; và cuối cùng tạo điều kiện để thực hiện một việc làm đáng kể và lợi ích cho tiền đồ của xứ ta là sự thành lập chính phủ dân sự của ông Le Myre de Vilers, nhiệm chức từ ngày 7/6/1879.

[Nguyên văn: Le Contre-Amiral Lafont succeda au Contre-Amiral Duperré le 16 Octobre 1877. Comme ses prédécesseurs, il s’ờoccupa activement des mesures qu’il croyait les plus propres à assurer la paix et la prospérité de la nouvelle terre francaise. Il a quitté le gouvernement de la colonie le 7 juin 1879.

Avec lui prend fin la série de gouverneurs militaires dont le dévouement, l‘énergie et la prudente habileté ont permis d’arriver en vingt années à peine à la complète pacification du pays, à faire aimer et respecter aux habitants de l’ancien pays de Nam-kỳ leurs nouveaux protecteurs, leur nouvelle patrie; à rendre possible enfin et capable d’exercer une action considérable et bienfaisante sur les destinées du pays, le gouvernement civil, inauguré le 7 juin 1879 par M. Le Myre de Vilers. (Cours, II:277-78)

Thống đốc dân sự:

1. 13/5/1879: Charles Le Myre de Villers (7/7/1879-1881, [Tướng Trentinian] 1881-12/1/1883) [năm 1873 còn là Thiếu úy?]

2. Charles Thomson (13/1/1883-27/7/1885)

DE LA GRANDIÈRE, PIERRE PAUL-MARIE [GIA-LĂNG-GI-I] (1/5/1863-

1/5/1863: Đề đốc de La Grandière nắm chức Thống đốc Sài Gòn.

La Grandière chủ trương cai trị trực tiếp, tức tiếp tục chính sách đồng hóa của Charner. Khu vực Pháp chiếm đóng được chia làm nhiều đơn vị hành chính. Mỗi đơn vị hành chính có ba Thanh tra bản xứ vụ (Inspecteurs des affaires indigènes), phụ trách hành chính, tư pháp và tài chính. Các viên chức này tuyển từ giới sĩ quan Hải quân. Hơn một năm sau, ngày 9/11/1864, La Grandière thiết lập Nha Nội chính (Direction de l'Intérieur). Paulin Vial được cử làm Giám đốc (nhiệm chức ngày 1/12/1864).

20/5/1863: La Grandière ra Tuyên Cáo gia hạn cho các lãnh tụ nghĩa quân (rebelles) thêm một tháng (tháng 4 năm Quí Hợi) phải về hàng—nhưng chỉ được tha mạng sống. (SHM (Vincennes), GG2 198, carton 1).

Danh từ “giặc” hay “những kẻ nổi loạn” (rebelles) bắt đầu được Pháp cùng giai tầng trung gian bản xứ buộc tội những người Việt chống Pháp từ ngày này. Xem, chẳng hạn, thư Ngô Đình Thục gửi Decoux ngày 21/8/1844.

Sứ đoàn Phan Thanh Giản (21/6/1863-

21/6/1863:* HUẾ: Phan Thanh Giản vào chào từ biệt Nguyễn Phước Thời.

Hiệp biện đại học sĩ Giản làm Chánh sứ qua Pháp (để đáp lễ việc Bonard tới Huế và quà tặng của Napolén III). Cùng đi có Phạm Phú Thứ, Tả Tham tri Bộ Lại, làm Phó sứ; Ngụy Khắc Đản, án sát Quảng Nam (gốc Nghệ An), làm Bồi sứ, và hơn 50 tùy tùng sẽ lên đường qua Paris.

Mục đích chính là điều đình sửa lại Hòa ước 5/6/1862, nhất là chuộc lại ba tỉnh miền Đông theo kiểu Bri-tên đối xử với nhà Thanh. (Danh sách sứ đoàn trong Oanh, 1971:175-176)

Khoản 2: Hạn chế số cố đạo là 15 người để dễ kiểm soát;  

Khoản 3: Lấy lại ba tỉnh miền Đông sau khi trả tiền bồi thường chiến phí (indemnities) [chịu cắt nhượng thành Sài Gòn, Định Tường, Thủ Dầu Một và Côn Lôn theo kiểu Bri-tên và nhà Thanh]; “nếu có phải bù thêm số bạc nhiều ít bao nhiêu, nước tôi cũng yên lòng lo liệu chu thỏa.” [22-23]

Khoản 4: Xin bỏ đoạn muốn cắt đất hay giảng hòa với nước khác phải có sự chấp thuận của Pháp; [23]

Khoản 6: Xin bỏ điều kiện đặt lãnh sự quán ở kinh đô. [24-25]

Khoản 8: Xin kéo dài thời hạn trả tiền bồi thường chiến phí [4 triệu Mỹ Kim] thành 20 năm; [25] (ĐNTLCB, IV, 30:1863-1865, 1974:22-24).

 Theo Phan Thanh Giản, “chỉ biết hết lòng, hết sức mà thôi;” chưa biết kết quả ra sao. Nếu thất bại, hy vọng vẫn tạo được cảm tình trong những liên hệ tương lai.” [ĐNTLCB, IV, 30:1863-1865, 1974:25]

Nguyễn Phước Thời ứa nước mắt nhắn nhủ phải hết sức. Không nên tin cậy bọn thông ngôn. Đừng quì lạy khi triều kiến, mà áp dụng theo lệ Tây phương. (ĐNTLCB, IV, 30:1863-1865, 1974:21-25)

22/6/1863: THUẬN AN: Phan Thanh Giản (Hiệp biện Đại học sĩ) xuống tàu Echo vào Sài Gòn. (Ngô Đình Diệm, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian (1863-1864); BAVH, Vol VI, No. 1bis & 2 (Avril-June 1919), tr. 161).

25/6/1863: Sứ đoàn Phan Thanh Giản tới Sài Gòn.

 9 ngày, rồi lên đường.(Ibid., tr.25) [Xem 4/7/1863]

26/6/1863: Hải quân Trung tá Henri Rieunier tới thăm sứ đoàn Phan Thanh Giản.

Cho biết sẽ tháp tùng phái đoàn qua Pháp để hướng dẫn. Ba chánh phó sứ phải trả tiền vé tàu 536 đồng [piastre] mỗi người; 10 quan tùy tùng 241 đồng mỗi người; những người còn lại 121 đồng. Tiền hành lý hết 2,250 đồng. Tiền chi phí xe lửa là 1,000 đồng. Tổng số chi phí là 13,980 đồng. Mỗi đồng tương đương với 7 đồng 2 phân. (Ngô Đình Diệm, 1919, tr. 167)

Mấy ngày sau, Phan Thanh Giản chọn Phó tế [Linh mục] Nguyễn Hoằng làm thông ngôn. Thông ngôn thứ hai là Nguyễn Văn Trường, bị chết dọc đường. (Ngô Đình Diệm, 1919, tr. 170, 185)

1/7/1863: Petrus "Key" Trương Vĩnh Ký, thông ngôn hạng nhất, và 3 người Việt khác, kể cả Tôn Thọ Tường, nho sĩ hạng nhất, được cử tháp tùng phái đoàn Pháp, do Hải quân Trung tá Henri Rieunier (Lý A Nhi) hướng dẫn.

Gabriel Aubaret [A Bá Lý] cũng có mặt với phương vị thông ngôn. (Danh sách chính thức phái đoàn thông ngôn gồm Petrus Key & Petrus [Nguyễn Văn] San, giáo sư trường Thông ngôn; hai "nho [lettrés]" (Ba [Tôn Thọ] Tường, Phủ Tân Bình, và [Quan Văn] Hiếu; hai học sinh trường Mgr D'Adran là Trần Văn Lương, con Huyện Ca, và Simon Của; cùng 3 người hầu, kể cả Pedro (Trần Quang Diêu); SHM (Vincennes), GG2 198, carton 1. Xem thêm Oanh 1974:174-192; Osborne 1969:6).

2/7/1863 [17/5 Quí Hợi]:* SÀI GÒN: De la Grandière mời sứ đoàn dự dạ tiệc. Giới thiệu phái đoàn Rieunier, với Trương Vĩnh Ký, [Paulus] San, Tôn Thọ Tường, Quan Văn Hiệu [Hiếu]. (Ngô Đình Diệm, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian (1863-1864); BAVH, Vol VI, No. 1bis & 2 (Avril-June 1919), tr. 171).

4/7/1863 [19/5 Quí Hợi]: * SÀI GÒN: Tàu Européen nhổ neo ra khơi, mang theo sứ đoàn Phan Thanh Giản.

11/8/1863: La Grandière ký hiệp ước bảo hộ với Phra Norodom, vua Cao Miên.

Do trung gian của Giám mục Jean-Claude Miche (Mịch, rồi Gioăng, 1805-1873), (Paris phê chuẩn năm 1864; và Xiêm đồng ý năm 1867). Hòa ước này chấm dứt tình trạng "chim hai đầu" của Miên qua nhiều thế kỷ. Miche được ban thưởng Bắc đẩu Bội tinh.

14/8-12/9/1863 [Tháng 7 Quí Hợi]:

10/9/1863: Phái đoàn Phan Thanh Giản tới Marseille.

13/9-12/10/1863 [Tháng 8 Quí Hợi]:

13/9/1863: Sứ đoàn Phan Thanh Giản tới Paris.

Ngoại trưởng Pháp Drouhin de Lhuys đón tiếp.

18/9/1863: Ngoại trưởng Drouhin de Lhuys tiếp kiến Giản.

30/9/1863: Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản đi thăm một nhà thờ.

Phụ trách việc truyền đạo ở phương Đông. Gặp hai người từng ở VN: Đoan (Pierre Charrier, 1803-1871) và Định (Jean-Claude Pernot, 1823-1904), trước từng ở Vĩnh Long. Trần Xuân Toạn (dịch), “L’Ambassade de Phan Thanh Gian, 1863-1864); BAVH, 1921, tr. 168-169 [147-187].

5/10/1863: Vợ và con gái Vannier từ Lorient tới thăm.

Nguyễn Thị Liên [Sen] là con gái Nguyễn Văn Dũng, Thuyền tả cai đội. Nhắc lại chuyến thăm đột ngột của Tôn Thất Thường (Văn Liễu) và Dũng năm 1840 hoặc 1841. Ngày 7/10, trở lại dự tiệc với con trai, con gái. Mặc quốc phục. Trần Xuân Toạn (dịch), “L’Ambassade de Phan Thanh Gian, 1863-1864); BAVH, 1921, tr. 174-176, 178-180 [147-187].

17/1/1865: Sài-Gòn: Trong một thư riêng cho Maurut Dupleix, La Grandière viết: Ý định của tôi là sẽ duy trì hiệp ước [5/6/]1862 cho tới khi thời cơ cho phép chúng ta xé bỏ nó. (CAOM [Aix], AF, A-30 [6]; Osborne, 1969:61)

31/3/1865: La Grandière [Gia Lăng Gi E] xuống tàu Đồng Nai về nước để thảo luận với Chasseloup-Laubat về việc đánh chiếm toàn bộ miền Nam. Đề Đốc Pierre-Gustave Roze [Tê Dô Đô] tạm thời XLTV chức Thống đốc [cho tới ngày 19/11/1865]. (ĐNTLCB, 30:1863-1865, 1974:169)

Tuy nhiên, Chaseloup-Laubat chưa có quyết định dứt khoát. Trở lại Sài Gòn, de La Grandière tiếp tục củng cố chính quyền thuộc địa, cải biến dần ba tỉnh miền Đông theo sở kiến chờ cơ hội xé bỏ Hiệp ước 5/6/1862, chiếm đóng nốt ba tỉnh miền Tây.

27/3/1865: Nguyễn Phước Thời xuống mật dụ cho lệnh các quan không được yểm trợ các toán nghĩa binh chống Pháp. (CBTĐ, 1/3 TĐ XVIII, CB 287:1-3; 2003:132)

Nguyễn Tri Phương xin thêm quân.

Phan Thanh Giản và Trần Tiễn Thành trình việc bồi thường chiến phí mỗi năm: 400,000 đồng Mỹ Kim [2,880,000 lạng bạc]. Mỗi năm trả 2 lần. Năm TĐ 15 (1862) và 16 (1863), còn thiếu 5,049 đồng. Năm thứ 17 (1864) còn thiếu 200,000 lạng. (ĐNTLCB, 30:1863-1866, 1974:180)

Cao Bằng: Hoàng Nhị Văn dẫn hơn 2000 phỉ Thanh vào đánh phá. (ĐNTLCB, 30:1863-1866, 1974:183-84)

Giặc biển ở Thuận An và Hải Vân. (ĐNTLCB, 30:1863-1866, 1974:183,184-85)

Ngô Côn

12/1865: Cao Bằng-Lạng Sơn: Ngô Côn lại mang thổ phỉ từ Quảng Tây tràn vào Bắc Việt.

Lưu Vĩnh Phúc (1837-?):

Tả dực của Tô Á Trung ở Quảng Tây. 1865 [Ất Sửu], 29 tuổi, dẫn 200 thủ hạ sang Thái Nguyên. Gặp Hứa Nguyên Bân ở Na Lặc, người Khâm Châu, chống Thanh. Nói nên sang An Nam, giúp vua Nguyễn dẹp loạn. Bèn sang Cao Bằng. Ở đây, tại phố Tô Nhai, trên đường đi Chợ Rã, bọn thủ hạ Đặng Chí Hùng, có khoảng 100 giặc, muốn giết Hùng, lập Phúc. Phúc không đồng ý. Ở lại Tô Nhai 5 tháng, kết bạn với Hùng. Sau tới Ba Bể, có 400 người theo. 1867: Lập ra quân Cờ Đen. Đánh thắng người Mèo ở Lục Yên Châu. Giết được Bàn Văn Nghĩa ở gần sông Hồng. Cai quản Lục Yên Châu (Tuyên Quang)-Lào Cai. Được Tuần phủ Tam Tuyên ban chức cửu phẩm bá hộ, rồi Thất phẩm thiên hộ. Sau lên tới Tam Tuyên đề đốc.

7/12/1866-15/1/1867: Tháng Một Bính Dần

ĐNTLCB, IV, 31:1866-1870, 1974:191 [1868: Bàn Văn Nhị, Lương Văn Lợi treo Cờ Trắng cướp phá Lục Yên Châu [Tuyên Quang]. Quan tỉnh xin bắt bọn đầu mục mới ra thú Lương Văn Phúc đi đánh], 197 [Lưu Vĩnh Phúc ở Tuyên Quang xin khai mỏ; Lương Văn Lợi, Cờ Trắng xin ra hàng; Ngô Côn tức Ngô Á Trung lấy Cao Bằng; sai Phạm Chi Hương đi nhờ quân Thanh lấy lại], 206 [Tuyên Quang: Phúc theo quan quân đánh giặc Mèo, thắng ba lần, được cửu phẩm bá hộ], 220 [Phúc và Hoàng Thắng Lợi đánh phá phố Bảo Thắng, Hưng Hoá. Cho lệnh Bá Nghi giải quyết ổn thoả], 228 [Lương Văn Phúc đến Hưng Hóa đánh nhau với Hà Viễn Phương. Cho lệnh Bá Nghi giải quyết], 338 [Hoàng Anh đến xin ở Bảo Thắng. Đánh nhau với Vĩnh Phúc], 345 [LV Phúc đánh Hoàng Anh chạy khỏi Bảo Thắng], 379 [1869: LV Phúc chiếm Bảo Thắng. Trần Đình Túc xin cho Nguyễn Bá Nghi đuổi Phúc đi].

32:1870-1874, 1975: 42, 89, 332, 349,

33:1874-1877, 1975: 27, 57, 109, 110, 126, 141, 178, 181, 211, 236, 255.

25/5-22/6/1865 [Tháng 5 Ất Sửu] Cử Phạm Chi Hương làm tham tán quân thứ Hải Yên. Dự trù thay Nguyễn Tri Phương làm Tổng thống. (ĐNTLCB, 30:1863-1866, 1974:114-15, 204) ĐNCBLT, q. 31, 1993, IV:116.

Định lệ cử nhân ra làm quan. Ở kinh thì bổ tư vụ, bát phẩm ở các nha bộ, cùng với lại dịch mỗi đằng một nửa. Ở địa phương, chi phái làm hậu bổ các tỉnh. (ĐNTLCB, 30:1863-1866, 1974:204)

Cao Bằng: Hoàng Nhị Văn đánh phá châu Thạch An. Đường trạm không thông. (ĐNTLCB, 30:1863-1866, 1974:204)

Quảng Yên: Đẩy lùi được giặc biển. (ĐNTLCB, 30:1863-1866, 1974::204-5)

6/1865: Bắc kỳ: Dân đói to.



[1]SHM [Vincennes], GG2-44, carton 3, GG2-99, carton 2; Nguyên Vũ, Paris Xuân 1996, tr. 213; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:74.

[2] (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:149-50. Tôi chưa được đọc báo cáo ngày 22/4/1862 của Petrus Key, dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993:75)

[3] ĐNTLCB, IV, XXVIII, 30:1863-1866, 1974:22-24..

[4] ĐNTLCB, IV, XXVIII,  30:1863-1865, 1974:21-25.

[5] (gô Đình Diệm, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian (1863-1864); BAVH, Vol VI, No. 1bis & 2 (Avril-June 1919), tr. 161, 167.

[6]SHM (Vincennes), GG2 198, carton 1. Xem thêm Oanh 1974:174-192; Osborne 1969:6.

[7] Hải Ngọc sao lục, in lại trong Phạm Phú Thú với tư tưởng canh tân [Đà Nẵng: 1995], tr. 166-67.

[8] Trần Xuân Toạn et Nguyễn Đình Hòe, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian,”; BAVH (1921), pp. 147-187, 243-281; hay Alphonse Delvaux, BAVH (1926), pp. 69-80.

[9]Ngô Đình Diệm, dịch, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian (1863-1864);” BAVH, Bộ VI, Số 1bis và 2 (Avril-Juin 1919), tr. 161ff. Ở đầu bài, Diệm được giới thiệu là “học sinh trường Hậu bổ,” và bài này đã được đọc tại các buổi họp [hôi thảo] ngày 27/8 và 3/12/1918, và 4/3/1919. Ibid. Diệm chỉ dịch một phần tập tâu của Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Đình Hòe.  Phần còn lại (thiếu đoạn đi sứ Espania) do Trần Công Tạn dịch; BAVH, Bộ VIII, Số ? (1921), tr. 147-187.

[10] Vũ Ngự Chiêu, Các vua, tập I, tr. 161, 163-4, 186chú49; Chính Đạo, Hồ Chí Minh, tập I, tr. 68.

[11] ĐNTLCB, IV, XXIX, 30:1863-1866, 1974:84-86, 96; Vũ Ngự Chiêu, Các vua, tập I, tr. 165-168.

[12]CAOM [Aix], AF, A-30 [6]; Osborne, 1969:61.

[13]ĐNTLCB, IV, q XXXV, 31:1866-1869, 1974:57; Sớ ngày 8/10/1875 của Tường; CAOM (Aix), GGI, Amiraux 12774; Chính Đạo, VNNB, tập III: Nhân Vật Chí (1997), tr 409.

[14] 39.  ĐNTLCB, IV, XXXV, 31:1866-1869, 1974: 33 [6-7/1866], 41, 57 [8/9-7/10/1866]. [Ngày 17/8/1866, cùng Gauthier tới Huế; 3/9/1866, vẫn khuyên vua nên hòa với Pháp; TBCần, 2002:45] 15/9/1866. Rời Huế vào Sài Gòn. Từ 17/9/1866 đến 10/1/1867, đợi tàu ở Sài Gòn. Gauthier khuyến khích La Grandière cứ tiến tới; báo cáo ngày 29/10/1966; SHM (Vincennes), BB4 876; TBCần, 2002:46-47. Nguyễn Trường Tộ thì tiến cử “Di Minh;”nhưng không thấy nhân vật kỳ bí này xuất hiện. Ngày  25/11/1867, Nguyễn Phước Thời cho lệnh về nước. Ngày 29/2/1868, về tới Huế;  7/4/1868: Gauthier về Nghệ An; 18/4/1868: Tộ về Nghệ An. Ngày 31/1/1871, tới Huế lần thứ hai, bàn việc đánh úp Pháp, chiếm lại 6 tỉnh miền nam [thư ngày đầu tháng 11 Tự Đức 23; tờ trình của TT Thành ngày 23/12/1870; TBCần, 2002:66-67. Ngày  22/11/1871, chết.

[15] 42.  ĐNTLCB, IV, XXXIV, 31:1866-1869, 1974:37-40.

[16]ĐNTLCB, IV, XXX, 30:105, 149-150 [Tháng 8/1864 [7 Giáp Tí, 2-31/8/1864]: thuê thuyền Thanh], 30:99, 111 [lạc quyên], 30:118-119 [lạc quyên hoàng thân], 30:121-124 [bán phẩm hàm, chức tước], [chuộc tội].

Tháng 9/1864 [8 Giáp Tí, 1-30/9/1864]: Nam trực (Quảng Nam-Quảng Ngãi) và Tả kỳ (tới Bình Thuận) thiếu gạo [do việc phong tỏa kinh tế của Pháp?]. Bắt quyên thóc gạo. Cửu phẩm bá hộ ở Quảng Bình không chịu nạp, đánh 100 trượng trước đình. Phải nạp 8,000 quan mới tha. (30:111)

[17] 44. ĐNTLCB, IV, XXX, 30:105, 149-150, 163-164.

Năm 1881. Thuế thuốc phiện thu được tăng lên tới 595,500 quan (35:31) [Tháng 28/5-25/6/1881 [5 Tân Tị, 28/5-25/6/1881] Hầu Lợi Trinh, lái buôn Hoa, trúng thầu thuốc phiện. Thuế cho cả ba năm là 1,786,500 quan. Được phép thu thuế từ Quảng Trị tới Bắc Kỳ, ngoại trừ 5 tỉnh Tuyên, Cao, Lạng, Thái và Hưng Hóa. Tăng thêm được 527,300 quan; ĐNTLCB, IV, LXV, 35:1881-1883, 1976:31.

[18] 45. ĐNTLCB, IV, XLVIII, 32:1870-1873, 1975:298-299 [Tháng 6 Quí Dậu, 25/6-23/7/1873: cử nhân, tú tài phải bỏ thuốc phiện trong vòng 1 năm].

[19] 46. ĐNTLCB, IV, XXIX, XXXII, 30:1863-1865, 1974:94-5, 180, 234-236.

[20] ĐNTLCB, IV, XXXV, 31:1866-1869, 1974:61 [Tháng 9-10/1866, dời bọn Phan Trung từ Bình Thuận về Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên. Do áp lực của Pháp. Vì Phan Trung và thuộc hạ phần lớn đều chống Pháp tại Nam Kỳ], 65-67, 71 [500 người miền Nam lập nghiệp ở Thuận-Khánh].

[21] 48. ĐNTLCB, IV, XXXV, 31:1866-1869, 1975:65, 66-67.

[22] 49. ĐNTLCB, IV, q XXXVI, 31:1866-1869, 1974:111;

[23] 50. Courrier de Saigon [CS], 5/5/1867, 5/7/1867.

[24] 52. ĐNTLCB, IV, XXXVI, 31:1866-1869, 1974: 133-135;

[25] 53. Nguyễn Duy Oanh, Chân dung Phan Thanh Giản, 1974:297.

[26] ĐNTLCB, IV, XXXVI, 31:1866-1869, 1974:134).

[27] CBTĐ,  TĐ XX, 4-7, CB 295:113-118. [2003:135-136]; CBTĐ, [no date] XX, 4-7, CB 295:113-18).

[28] CBTĐ,  9/6 TĐ  XX [10/7/1867], 4-7, CB 295:127-157. [2003:136]

[29]ĐNTLCB, IV, XXXV, 31:1866-1869, 1974: 157Xem Phụ Bản 51.

[30]Chiếu đề ngày 29/10/1867 [24/9 Bính Dần [Tự Đức XX]); QTCBTY, q5. Theo ĐNTLCB, tháng 9 Đinh Mão [28/9-26/10/1867] Nguyễn Phước Thời sai đình thần bàn nghị về công và tội của các quan tướng phụ trách mặt trận Gia Định; ĐNTLCB, IV, 31:1866-1869, 1974: 168-69. Nhưng tháng 11 Mậu Thìn [14/12/1868-12/1/1869] mới ra án.

[31]ĐNTLCB, IV, 31:1866-1869, 1974:270 [Tháng 11 Mậu Thìn, 14/12/1868-12/1/1869].

[32]Lieutenant de Vaisseau [Henri] Rieunier, “Commerce de Saigon pendant l’année 1862; Revue Maritime et coloniale (Février 1864); reprint edition Challemel, Paris, 1884, 12 trang.[SHM (Vincennes), GG2 44, carton 1]

[33] 61. Đáng ghi nhớ là Mao Trạch Đông đã hết lời ca ngợi chính sách “cáp duồn” của Lon Nol và Khmer  Đỏ trong thập niên 1970. Hồi ký của vua Norodom Sihanouk cung cấp nhiều chi tiết về những tội ác chống nhân quyền và diệt chủng của Khmer Đỏ.

[34] Năm 1865, khi Nguyễn Phước Thời bắt đầu cho đấu thầu thu thuế thuốc phiện, Soái phủ Sài Gòn mỗi năm thu được 90,000 đồng Mê-hi-cô về thuế thuốc phiện tại ba tỉnh miền Đông. Sau đó, cho Hoa Kiều độc quyền khai thác song cờ bạc và nhà hút thuốc phiện. Trong ba năm 1948-1951, tổ chức Bình Xuyên của Lê Văn “Bảy” Viễn mới giành được độc quyền khai thác ba sinh hoạt cờ bạc, thuốc phiện và mãi dâm ở Sài Gòn/Chợ Lớn. Bảy Viễn, ngoài lực lượng quân sự riêng, còn mua những ô dù chính trị từ quan tướng Pháp tới Quốc trưởng, Thủ tướng Quốc Gia Việt Nam, và từ năm 1954 mua được chức Tổng Giám Đốc Cảnh Sát-Công An cho Lai Văn Sang—và từ mùa Thu 1954, vận động cho Bảy Viễn thay Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng, với sự tiếp sức của các “quân sư” Trần Văn Ân, Nguyễn Đức Quỳnh, v.. v.. Bảy Viễn, tưởng cũng nên thêm, là Tư lệnh mặt trận Sài Gòn của Việt Minh năm 1945, và mãi tới mùa Hè 1948 mới về thành ủng hộ Bảo Đại và Quốc Gia Việt Nam.. Hầu hết các tổ chức kháng Pháp khác như Cao Đài, Hòa Hảo, v.. v.. đã bỏ Việt Minh từ 1946-1947.

[35] Xem BAVH, Vol. VII, No. 3 (7- 9/1920), p 367, note 2; Vu Ngu Chieu, Chapter III: The Frustrated Frenchmen; “Political and Social Change in Viet-Nam Between 1940 and 1946;” 1984, unpublished Ph D dissertation, UW-Wisconsin.

[36] Phạm Long Điền, “Những khám phá mới về Gia Định Báo;” Bách Khoa M [số 403] (1974), tr. 33-37; N [số. 404] (1974), tr. 23-30.

[37] ĐNTLCB, IV, XXXVIII, tập 31:1868-1870, 1975:204. Châu bản tri35u Tự Đức [CBTTĐ], 29/9 TĐ XX (26/10/1867), CB 297, tờ 232-234; 1/12 TĐ XXII [2/1/1870]. CB 337, tờ 185-188, [TTLTTƯII (TP/HCM), 2002:138, 158. 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 1419)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
21 Tháng Chín 20196:18 CH(Xem: 224)
Trong thời gian tôi ở trại, hắn luôn gởi đồ thăm nuôi cho tôi qua tay ông Thái trưởng tù. Lần nào tới tay tôi cũng bị tay Thái xén bớt ngay trước mặt tôi nhưng biết làm sao. Thời ấy mỗi cử mỗi động đều bị rà soát mà hắn là một cán bộ công an còn tôi lại là một phạm nhân. Rồi tôi theo bạn tù chuyển lên Quang Hiển để lao động, hắn cũng theo lên, cũng gởi đồ cho tôi. Xin cho tôi được làm đầu bếp, em tôi lùa vịt, công việc nhẹ nhàng hơn các người tù khác. Nhưng sau tôi khẳng khái cương quyết không nhận tình thân của hắn dành cho tôi và không muốn gặp hắn nữa. Chúng tôi lại xa nhau...
21 Tháng Chín 20196:09 CH(Xem: 156)
sự thật vội vã lánh ra ngoài cái bóng tuyên ngôn / đi bằng đôi chân định mệnh / đã có lúc song hành / cùng chân lý / lửng lơ
21 Tháng Chín 201912:15 SA(Xem: 205)
Hắn bị đụng xe vào buổi chiều và đưa vào phòng cấp cứu của một bệnh viện huyện.Hắn hôn mê từ đó cho đến sáng hôm sau mới hồi sức nhưng vẫn ở trong trạng thái mê tĩnh. Đôi mắt khẻ lay động, cơ thân muốn rướn lên nhưng có một sức mạnh vô hình trì níu lại, đôi môi khô khốc, hắn khao khát được một vài giọt nước , tôi bón cho hắn từng giọt từng giọt và tay luôn nắm bóp trên vầng trán, vùng ngực gây cho hắn cảm giác êm dịu, ru vào giấc ngủ chập chờn.
21 Tháng Chín 201912:06 SA(Xem: 161)
Hẹn hai mươi năm tôi lao đến em bằng đường đi ánh sáng / những ban mai tháng chạp / búp nụ vươn cao / lang thang khu vườn thơm không tuổi…
21 Tháng Chín 201912:00 SA(Xem: 245)
Tôi sinh năm 1940 tại Hà Nội, là con út của nhà văn Nhất Linh. Trước năm 1975 ở Sài Gòn tôi dậy học rồi nhập ngũ khoá 2/68 quân trường sĩ quan Thủ Đức
20 Tháng Chín 20196:58 CH(Xem: 179)
Vô cùng đau buồn khấp báo / Thân mẫu, Nhạc mẫu chúng tôi / Cụ Bà ĐỖ NHƯ BÍNH / Nhũ danh NGUYỄN THỊ PHƯƠNG / Pháp Danh Diệu Huệ / Đã mệnh chung ngày 19/9/2019, tức 21/8 Kỷ Hợi, tại Apple Valley, Minnesota./ Hưởng thượng thọ 100 tuổi. Tang lễ cử hành ngày Chủ Nhật 22/9/2019, tại Fridley, MN.
20 Tháng Chín 20196:38 CH(Xem: 172)
Vô cùng thương tiếc / hay tin nhạc mẫu của Sử gia Vũ Ngự Chiêu / Cụ Bà ĐỖ NHƯ BÍNH / Nhũ danh NGUYỄN THỊ PHƯƠNG Pháp Danh Diệu Huệ / Đã mệnh chung ngày 19/9/2019, tức 21/8 Kỷ Hợi, tại Apple Valley, Minnesota. / Hưởng thượng thọ 100 tuổi.
20 Tháng Chín 20196:35 CH(Xem: 144)
Được hung tin / Cụ Bà ĐỖ NHƯ BÍNH / Nhũ danh NGUYỄN THỊ PHƯƠNG / Pháp Danh Diệu Huệ / Nhạc mẫu sử gia Vũ Ngự Chiêu Đã mệnh chung ngày 19/9/2019, tức 21/8 Kỷ Hợi, tại Apple Valley, Minnesota. Hưởng thượng thọ 100 tuổi.
20 Tháng Chín 20196:32 CH(Xem: 123)
Được hung tin / Cụ Bà ĐỖ NHƯ BÍNH / Nhũ danh NGUYỄN THỊ PHƯƠNG / Pháp Danh Diệu Huệ