- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Hội Nhập
Lượt người xem
235,502

Đêm Ngửa Mặt

19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 44967)

apocalypto-7_0-content

Julio Cortázar
Đêm Ngửa Mặt
Trầm Hương chuyển ngữ

Thật khó tưởng tượng cảnh đầu của Đêm Ngửa Mặt lại là cảnh cuối. Giờ đã đến, nhưng không, hắn vẫn còn nhiều thời gian. Và hắn, hắn tên gì không còn quan trọng. Hắn chỉ chú tâm đến chặng đường thong dong không rượt đuổi, trong sự chớm nở của ngày mà không phải đoạn cuối của đêm. Nhưng ai lại đoán ra sự việc sẽ chấm dứt như vậy? Trong đau khổ, hắn chỉ biết lập lại những lời kinh thường đọc. Trong tuyệt vọng, hắn chỉ ước mơ một ánh mắt trông chừng. Hắn làm được gì khi mỗi người sinh ra được gắn cho một con số và một mục đích. Và đêm nay, số của hắn bị rút trúng để phục vụ mục đích này.
 Trầm Hương


Hằng năm, chúng tràn ra vào những thời điểm nhất định để truy tầm kẻ thù.
Chúng gọi việc săn người là Chiến tranh rộ hoa.

Đứng giữa hành lang dài của khách sạn, hắn nghĩ đã muộn nên gấp rút bước ra ngoài lấy xe dựng sát góc tường mà viên quản lý phòng bên cho phép. Trên hiệu kim hoàn ở cuối đường, hắn trông thấy chín giờ kém mười, hắn còn nhiều thời gian. Ánh nắng chiếu xuyên qua giữa những tòa nhà cao tầng của khu trung tâm và hắn ― vì đối với cá nhân hắn, trong suy nghĩ, hắn vô danh ― nhảy lên xe máy trong khoan khoái của chuyến đi. Động cơ xe máy kêu vo vo giữa hai chân hắn và gió mát quất phần phật lên ống quần.

Hắn lướt qua các công sở của các Bộ (màu hồng, màu trắng) và một loạt các cửa hàng với mặt kính sáng ngời trên lộ chính. Bây giờ hắn mới bắt đầu quãng đường đáng hưởng thụ nhất của chuyến đi, một hành trình thực sự: con đường dài bọc hai hàng cây xanh, rất ít xe cộ, với các biệt thự rộng rãi có vườn cây mọc lan xuống vỉa hè, ngăn sơ sài bằng hàng rào thấp. Có lẽ hơi lơ đễnh tuy vẫn ôm xe ven lề phải, hắn đắm mình vào sự tươi mát, vào sự nhẹ hẫng thưa thớt của một ngày mới. Có thể sự buông thả vô tình này khiến hắn không phòng ngừa được tai nạn. Khi hắn nhìn thấy người phụ nữ đứng sát lề hối hả qua đường dù đèn xanh, phản ứng gì cũng không kịp nữa. Hắn thắng gấp xe bằng cả chân và tay, lạng mạnh sang bên trái; hắn nghe tiếng thét to của người đàn bà, và ngay khi sự va chạm xảy ra, tất cả đen thẫm. Giống như hắn rơi tức khắc vào giấc ngủ.

Hắn tỉnh lại đột ngột. Bốn năm người thanh niên đang kéo hắn ra từ dưới lườn xe. Hắn nếm được vị mặn và máu, một đầu gối bị đau, và khi bị nhấc bổng, hắn phát rên, không chịu nổi sự đụng chạm trên cánh tay mặt. Những tiếng nói như không thuộc về những khuôn mặt treo ở trên hắn đang bông đùa vỗ về và bảo hắn yên tâm. Niềm an ủi độc nhất là hắn nghe thấy có người nói hắn vượt ngã tư đúng luật. Hắn hỏi thăm về người đàn bà, ráng dằn xuống cơn buồn nôn đang dâng lên cổ. Trong lúc họ khiêng hắn ngửa mặt đến một hiệu thuốc tây lân cận, hắn được biết tai nạn chỉ gây ra vài vết trầy trên chân nạn nhân. «Không, anh chỉ quẹt trúng bà ấy, nhưng lúc anh đụng phải, sự va chạm khiến chiếc xe chồm lên và lật sang một bên...» Nhiều ý kiến, nhiều lời kể, có người nói khiêng hắn từ từ ngược đầu vào, và mọi việc tốt lành. Một người mặc áo choàng trắng cho hắn nuốt một thứ gì làm dịu cơn đau trong bóng tối của hiệu thuốc tây nhỏ của khu phố.

Chỉ trong vòng năm phút xe cứu thương đến, và họ nhấc hắn lên chiếc cáng êm. Hắn thấy nhẹ nhõm được nằm thẳng. Hoàn toàn tỉnh táo, nhưng ý thức đang bị chấn thương khủng khiếp, hắn đưa căn cước của mình cho nhân viên cứu thương ngồi cùng xe. Cánh tay không đau gì nữa; máu chảy giọt từ chỗ rách trên lông mày lan khắp mặt. Hắn liếm môi một đôi lần để uống máu. Hắn thấy khá, chỉ là một tai nạn, không gì trầm kha; nằm yên vài tuần, không tệ hơn. Nhân viên cấp cứu nói chiếc xe máy nhìn không hư nhiều. «Đương nhiên,» hắn trả lời. «Nguyên chiếc xe máy rơi trên mình tôi.» Cả hai bật cười, và khi đến nhà thương, nhân viên cấp cứu bắt tay hắn và chúc may mắn. Rồi cơn buồn nôn từ từ trở lại; trong lúc họ đẩy hắn trên cáng hướng về dẫy nhà phía sau, đi dưới những tàng cây đầy chim chóc, hắn nhắm mắt lại và ước gì mình đang ngủ hoặc được gây mê. Nhưng họ giữ hắn một lúc khá lâu trong căn phòng có mùi nhà thương, điền đơn, cắt bỏ quần áo của hắn, và mặc cho hắn một chiếc áo khoác xám cứng. Họ thận trọng di chuyển cánh tay hắn, không làm hắn đau. Những người y tá không ngừng nói chuyện phiếm, và nếu không vì bao tử bị co bóp, hắn sẽ cảm thấy khoẻ khoắn, gần như sung sướng.

Họ đem hắn vào phòng quang tuyến, và hai mươi phút sau, với tấm phim còn ẩm nằm trên ngực hắn như một bia mộ đen, họ đẩy hắn vào phòng giải phẫu. Một người cao ốm mặc áo trắng toát đến cạnh hắn và bắt đầu khảo sát phim quang tuyến. Hai tay của một người đàn bà sắp xếp đầu hắn, hắn cảm thấy bị dời sang một cáng khác. Người đàn ông áo trắng trở lại bên hắn, mỉm cười, cầm một vật gì ánh lên sáng ngời trong lòng bàn tay mặt. Ông ta vỗ nhẹ má hắn và ra dấu cho một người đứng đằng sau.

Giấc mơ khác thường vì đầy những mùi và hắn chưa từng mơ thấy mùi. Trước hết là mùi bùn toát lên từ bên trái đường mòn chỗ phát xuất khu vực đầm lầy, những vũng cát lầy phủ lá dương nơi chưa một ai trở ra. Nhưng mùi nồng nặc tan đi và thay vào đó là hương thơm tươi mát một cách bí ẩn, giống đêm mà hắn lẫn trốn sự truy lùng của bọn Aztec. Và trốn chạy là chuyện rất tự nhiên, hắn phải chạy trốn khỏi bọn Aztec đi săn người, và cơ hội sống sót duy nhất là tìm ra một chỗ ẩn nấp sâu trong rừng rậm, cẩn thận không để lạc khỏi con đường hẹp mà chỉ bộ tộc Moteca của hắn biết.

Điều dằn vặt hắn nhất là mùi hôi, giống như, ngay với sự chấp nhận tuyệt đối đang là giấc mơ, vẫn có cái gì trong mình hắn chống lại sự xâm nhập bất thường này. «Chính là mùi chiến tranh,» hắn nghĩ, bàn tay theo bản năng lần xuống con dao đá dắt chéo trong chiếc thắt lưng đan bằng mây. Một tiếng động bất ngờ khiến hắn vội vàng gập người bất động và run rẩy. Sợ hãi không có gì lạ, có biết bao nỗi sợ trong những giấc mơ của hắn. Hắn chờ đợi, che phủ bởi những cành lá của bụi cây và trời đêm không một vì sao. Nơi xa, có lẽ bên kia bờ hồ lớn, chúng đang nhóm lửa trại; khoảng trời phía đó rực đỏ. Tiếng động không lập lại. Giống một thân cây đổ. Có lẽ một con thú, như hắn, đang chạy trốn mùi chiến tranh. Hắn chậm chạp đứng thẳng dậy, hít không khí vào phổi. Không nghe tiếng động nào, nhưng sự sợ hãi vẫn bám như mùi hôi, cái mùi nhang ngọt đáng sợ của chiến tranh rộ hoa. Hắn cần phải ráng đi tới, phải tránh những vũng sình lún, và phải vào đến giữa lòng rừng rậm. Dọ dẫm, khom xuống mấy lần để chạm đất cứng của đường mòn, hắn bước vài bước. Hắn ước có thể đâm đầu chạy, nhưng những vũng lầy dao động hai bên. Trên lối đi tăm tối, hắn xác định vị trí của mình. Rồi một luồng ô uế mà hắn khiếp sợ nhất ập vào mũi, và hắn phóng liều mạng về phía truớc.
«Coi chừng rơi khỏi giường», bệnh nhân bên cạnh kêu lên. «Đừng lăn lộn, anh bạn.»

Hắn mở mắt ra và trời đã xế chiều, mặt trời xuống thấp trong khung cửa sổ quá khổ của khu nhà bệnh dài. Trong lúc cố gắng mỉm cười với gã ở giường bên cạnh, hắn rút mình ra khỏi cảnh cuối cùng của cơn ác mộng. Cánh tay hắn, trong khuôn thạch cao, treo lủng lẳng bằng một thiết bị với trọng lượng và ròng rọc. Hắn cảm thấy khát, khô ran như đã chạy nhiều dặm đường, nhưng họ không cho hắn uống nhiều nước, chỉ vừa đủ thấm môi và một ngụm. Cơn sốt từ từ lên cao và hắn đã có thể ngủ lại, nhưng hắn đang hưởng thụ trạng thái tỉnh táo, mắt khép hờ, hắn lắng nghe đối thoại của những bệnh nhân khác, thỉnh thoảng trả lời một câu hỏi. Hắn trông thấy một chiếc xe lăn đến cạnh giường, một nữ y tá tóc vàng bôi cồn lên đùi trước của hắn và đâm vào một mũi kim lớn nối liền với ống dẫn lên một bình đầy chất lỏng đục như sữa. Một bác sĩ thực tập trẻ đem máy bằng kim loại và da buộc quanh cánh tay lành lặn của hắn để kiểm tra gì đó. Đêm xuống, và cơn sốt tiếp tục kéo lê hắn rơi nhẹ nhàng vào một trạng thái mà bên trong mọi vật như nhú lên qua ống nhòm xem kịch, chúng hiện thực và mềm mại, cùng lúc có chút ghê tởm; giống mình ngồi xem một phim tẻ nhạt và nghĩ lang thang ngoài phố còn tệ hơn, nên ở lại.

Một bát súp ngon lành vàng óng đem đến, thơm mùi tỏi tây, cần tây và rau mùi. Một khúc bánh mì nhỏ, quý hơn cả một bữa tiệc, được bẻ ra từng miếng vụn. Cánh tay hắn hầu như hết đau, và chỉ còn chỗ lông mày khâu nhiều mũi thỉnh thoảng nhói rát. Khi các cửa sổ lớn trong tầm mắt chuyển thành những mảng loang của màu xanh đêm, hắn nghĩ sẽ không khó ngủ. Vẫn nằm ngửa nên có chút không thoải mái, hắn liếm đôi môi khô nóng còn sót chút vị súp, và sau tiếng thở dài mãn nguyện, hắn buông trôi.

Trước hết là sự hỗn loạn, giống mình trút vào chính mình tất cả những cảm giác của một khoảnh khắc đần độn hoặc rối rắm. Hắn nhận ra mình đang chạy trong bóng đen dày đặc, mặc dù, bên trên, bầu trời đan chéo với những ngọn cây ít tối ám hơn không gian còn lại. «Con đường mòn», hắn nghĩ, «mình đã lạc khỏi con đường mòn.» Bàn chân hắn lún xuống một lớp lá cây và bùn, và hắn không thể nhích thêm một bước mà không bị các nhánh cây quất vào hai bên sườn và ống chân. Khó thở, ý thức bị bao vây dù chung quanh ngập bóng tối và tĩnh lặng, hắn gập người xuống nghe ngóng. Có thể con đường mòn nằm rất gần, với ánh ban mai đầu tiên hắn sẽ lại trông thấy. Còn bây giờ, không gì giúp nổi hắn. Bàn tay mà trong vô thức đã nắm chặt lấy chuôi dao leo như con bọ cạp lên đến cổ hắn chỗ đeo chiếc bùa hộ mạng. Hầu như không nhấc môi, hắn thì thào lời cầu xin Thần Bắp cho mùa trăng tốt lành, và lời khẩn cầu Nữ Thần, người ban phát của cải cho bộ tộc Moteca. Cùng lúc hắn cảm thấy mắt cá chân lún sâu hơn xuống bùn, và sự chờ đợi trong bóng tối của bụi cây đầy bẫy rập trở nên quá sức chịu đựng. Chiến tranh rộ hoa bắt đầu lúc trăng non và đã diễn ra ba ngày và ba đêm rồi. Nếu hắn xoay sở được để trốn trong rừng sâu, ra khỏi đường mòn khi qua hết vùng đầm lầy, có thể lũ săn người Aztec sẽ mất dấu hắn. Hắn nghĩ đến đông đúc số người đã bị bắt giữ. Nhưng con số không quan trọng, kỳ cúng tế mới quan trọng. Các cuộc săn đuổi tiếp tục cho đến khi các thầy tế lễ ra lệnh quay về. Mỗi thứ đều mang một con số và mục đích, và bản thân hắn đang ở trong thời đại thần linh, đối mặt với lũ săn người.

Hắn nghe những tiếng kêu la và chồm lên, dao trong tay. Giống như bầu trời đang cháy rực ở chân trời, những ngọn đuốc di chuyển giữa những cành cây, rất gần hắn. Mùi ô uế của chiến tranh thật khó cưỡng, và khi kẻ thù đầu tiên đột kích hắn, chồm vào cổ hắn, hắn có một cảm giác gần như sung sướng khi đâm lút cán lưỡi dao đá mài phẳng vào trong lồng ngực của kẻ thù. Những đốm sáng bao quanh hắn, những tiếng la rú mừng rỡ. Hắn xoay sở chém được một, hai nhát dao trong không khí, rồi một sợi dây thừng quấn chặt lấy hắn từ phía sau. «Tại cơn sốt,» gã ở giường bên cạnh nói. «Tôi đã từng bị vậy trong lúc họ giải phẫu tá tràng. Uống chút nước, anh sẽ ngủ yên.»

So sánh với đêm hãi hùng mà hắn vừa trở ra, bóng đêm ấm áp của khu nhà bệnh mang vẻ ngọt ngào. Ánh đèn tím trên đầu tường đằng xa trông chừng như mắt của người giám hộ. Có tiếng ho, tiếng thở sâu, thỉnh thoảng một đối thoại trong thì thầm. Mọi thứ dễ chịu và an toàn, không đuổi bắt, không... Nhưng hắn không muốn tiếp tục nghĩ về cơn ác mộng. Có nhiều thứ cho hắn tiêu khiển. Hắn bắt đầu nhìn khuôn thạch cao trên cánh tay, và những ròng rọc đang treo cánh tay vô cùng thoải mái trong không khí. Y tá để lại một chai nước khoáng trên chiếc bàn nhỏ bên cạnh. Hắn kề chai lên miệng và uống nước, với trân trọng. Giờ hắn nhận ra những hình dạng khác nhau trong khu, ba mươi giường, tủ kính. Hắn đoán cơn sốt đã hạ, mặt hắn mát ra. Chỗ rách trên lông mày không còn đau mấy, như một ký ức. Hắn thấy mình rời khách sạn một lần nữa, lấy xe gắn máy. Ai lại đoán được sự việc sẽ chấm dứt như vậy? Hắn cố tập trung vào khoảnh khắc xảy ra tai nạn, và tức giận vì nhận ra như có một lỗ hổng trí nhớ, một sự trống rỗng mà hắn không tài nào lắp đầy. Giữa sự va chạm và khoảnh khắc họ khiêng hắn khỏi mặt đường, cơn ngất hoặc việc gì đã xảy ra, hắn không tài nào ráp nối. Và cùng lúc hắn có cảm giác rằng khoảng trống ký ức này, sự trống rỗng này, đã kéo dài vĩnh cửu. Không, không hoàn toàn là sự cố thời gian, mà giống như, trong khoảng trống này, hắn đã vượt qua một cái gì đó, hoặc đã chạy ngược lại qua những khoảng cách thật bao la. Cú sốc, sự va chạm tàn bạo vào mặt đường. Dù sao, hắn cảm giác nhẹ nhõm hẳn, được thoát khỏi lỗ sâu đen tối trong lúc mọi người nhấc hắn lên khỏi mặt đường. Với cơn đau ở cánh tay bị gẫy, máu từ chỗ lông mày bị rách, vết dập trên đầu gối; với tất cả những thương tích này, sự nhẹ nhõm là được trở về ánh sáng, về lại ngày, và cảm giác được nâng đỡ và chăm sóc. Cảm giác kỳ quái. Có dịp, hắn sẽ hỏi bác sĩ về cảm giác này. Giờ, giấc ngủ bắt đầu ngấm lại khiến hắn thiếp dần đi. Nệm gối mềm mại, và nước khoáng mát rượi trong cổ họng nóng sốt. Ánh sáng tím của chiếc đèn trên cao trở nên mờ dần và mờ dần.

Vì hắn nằm thẳng lưng lúc ngủ, vị trí khi tỉnh lại không làm hắn ngạc nhiên, nhưng trái lại mùi ẩm ướt, cái mùi đá rêu rỉ nước, chặn ở cổ họng và buộc hắn hiểu. Mở mắt và nhìn mọi hướng nhưng không thấy gì, hắn bị vây hãm trong bóng tối tuyệt đối. Hắn thử ngồi dậy, liền cảm giác giây thừng ghịt cổ tay và cổ chân. Hắn bị đóng cọc trên những phiến đá nhớp nháp và giá lạnh. Cái lạnh làm tê buốt tấm lưng trần của hắn và hai chân. Một cách vô tri, hắn thử đụng chiếc bùa hộ mạng bằng cằm và ý thức nó đã bị tước mất. Giờ đây hắn thấy tuyệt vọng, không lời cầu xin nào có thể cứu hắn khỏi kết cuộc... Từ ngoài xa, như thể lọc qua bức tường của hầm đá, hắn nghe vọng tiếng trống đồng thiêng liêng của lễ cúng tế. Họ đã khiêng hắn đến kim tự tháp, hắn đang ở trong hầm ngầm của đền thờ, chờ đến lượt mình.

Hắn nghe một tiếng thét, một tiếng thét khản đục dội lại từ các bức tường. Thêm một tiếng thét nữa, chấm dứt bằng rên rỉ. Chính hắn đã gào trong tăm tối, hắn đã gào vì hắn còn sống, toàn thân hắn với tiếng gào ấy xua đẩy một việc sắp xảy ra, một kết thúc không thể tránh khỏi. Hắn nghĩ đến những đồng tộc đang lấp đầy những ngục khác, và những người đang bước lên những bậc thang của lễ tế thần. Hắn muốn gào thêm nhưng không ra lời, hắn không thể mở miệng, hai quai hàm dính chặt như cao su, mở ra chậm chạp trong nỗ lực bất tận. Tiếng ọp ẹp của các chốt gỗ làm hắn điếng người như một lằn roi. Rách nát, quằn quại, hắn vật vã để thoát khỏi sợi dây lún vào da thịt mình. Cánh tay phải của hắn, cánh tay mạnh nhất, gắng gượng cho đến khi sự đau đớn trở nên quá mức chịu đựng và hắn phải bỏ cuộc. Hắn nhìn hai cánh cửa mở ra, và mùi của những ngọn đuốc bay đến mũi hắn trước khi ánh lửa đến. Chỉ quấn khố theo nghi thức, lũ hầu di chuyển về phía hắn, nhìn hắn với vẻ khinh miệt. Những đốm sáng phản chiếu lên các thân hình đẫm mồ hôi và trên đầu tóc đen cắm lông chim. Sợi dây thừng trói được nới lỏng và thay bằng móc sắt của những bàn tay nóng, cứng như đồng. Hắn cảm thấy mình bị nâng lên, vẫn ngửa mặt, và bị xốc đi bởi bốn gã khiêng hắn qua hành lang. Những kẻ cầm đuốc đi trước, soi sáng lờ mờ hành lang với những bức tường ẩm ướt và trần hầm thấp đến nỗi chúng phải khom đầu xuống. Chúng khiêng hắn ra lúc này, khiêng hắn ra, đã đến đoạn kết. Đối diện hắn cách một thước là trần đá bám xương rồng óng ánh một chuỗi phản chiếu từ ngọn đuốc leo lét. Khi những vì sao hiện ra thay vào chỗ trần và những bậc thang vĩ đại dâng lên trước mặt hắn với lửa cháy cuồng loạn trong tiếng kêu hò và những điệu múa, sẽ là điểm cuối. Hành lang thăm thẳm bất tận, nhưng đã sắp hết, không khí trong lành của bầu trời thêng thang rộ sao sắp ập vào mặt hắn, nhưng chưa, họ còn đẩy hắn đi không ngừng trong bóng tối đỏ, di chuyển hắn một cách mạnh bạo và hắn không muốn vậy, nhưng làm sao ngăn được khi họ đã giật mất chiếc bùa, trái tim thật của hắn, trọng tâm thật sự của sinh mạng hắn.

Trong một cơn giật mình hắn tỉnh lại trong bệnh viện đêm, về dưới trần cao, dịu dàng, trần trụi, về lại bóng tối mềm bao bọc xung quanh. Hắn nghĩ mình đã la hét, nhưng những người nằm gần đang ngáy một cách thản nhiên. Chai nước bên trên chiếc bàn nhỏ nổi bong bóng, trong mờ qua màu đêm xanh đậm chiếu từ các cửa sổ. Hắn thở hổn hển, tìm kiếm sự giải thoát lồng phổi của mình, tìm cách trục xuất những hình ảnh vẫn còn dán trên mi mắt. Mỗi khi nhắm mắt, hắn lại nhìn thấy chúng hiện hình lập tức và hắn ngồi dậy hãi hùng nhưng cùng lúc thưởng thức sự sung sướng đang thức giấc, y tá trực đêm sẽ đến nếu hắn nhận chuông, chẳng bao lâu sẽ là rạng đông, hắn sẽ ngủ ngon vào giấc này, không hình ảnh, không gì hết... Thật là khó mở mắt, cơn buồn ngủ mạnh hơn hắn. Hắn làm một cố gắng sau cùng, phác một cử chỉ về phía chai nước với cánh tay lành lặn mà không sao với đến, những ngón tay nắm lại một lần nữa trong tăm tối hư không, và hành lang tiếp tục dài vô tận, đá nối đá, với những ánh lửa đỏ nhấp nhoáng, và hắn ngửa mặt nấc lên một tiếng nghẹn ngào vô nghĩa vì trần sắp hết, dâng lên, mở ra giống như miệng tử thần, và lũ hầu đứng thẳng lên, và từ trên cao, một mặt trăng khuyết rơi xuống khuôn mặt hắn với đôi mắt không muốn nhìn thấy trăng, chúng khép lại và mở ra một cách tuyệt vọng nhìn sang bên kia, tìm lại trần nhà trần trụi và an toàn của khu nhà bệnh. Nhưng mỗi lần hắn mở mắt, lại là đêm và trăng trên từng bậc thang, đầu hắn giờ treo ngược xuống về phía sau, và trên đỉnh thang là những giàn hỏa, những luồng khói thơm đỏ, và bất chợt hắn nhìn thấy tảng đá đỏ, máu đỏ tươi đang nhỏ giọt, và những vòng cung xoay tròn cắt không khí bằng đôi chân của nạn nhân đã bị kéo lê và ném lăn xuống những bậc thang cao. Bằng hy vọng cuối cùng hắn nhắm thật chặt mắt, cố gắng kêu mình thức giấc. Trong một giây hắn tưởng đã tỉnh ngủ, vì hắn lại nằm bất động trên giường, ngoại trừ đầu hắn treo khỏi giường, đong đưa. Nhưng hắn ngửi mùi chết, và khi mở mắt hắn thấy hình ảnh đầy máu của thầy tế bước đến gần hắn với lưỡi dao đá trong tay. Hắn xoay sở để nhắm mắt thêm một lần, dù biết rằng hắn sẽ không thức dậy nữa, rằng hắn đang tỉnh, rằng giấc mơ kỳ diệu mới chính là giấc mơ kia, vô lý như mọi giấc mơ ― giấc mơ hắn đi xuyên qua những đại lộ lạ lùng trong một thành phố kỳ lạ, với những ánh sáng xanh và đỏ cháy không cần lửa hoặc khói, trên một thứ côn trùng khổng lồ bằng kim loại kêu vo vo giữa chân. Và cũng chính trong giấc mơ ấy, trong sự dối trá vô hạn, chúng cũng đã nâng hắn khỏi mặt đất, một kẻ cũng đã đến gần hắn với con dao mổ trong tay, đến gần trong lúc hắn đang nằm ngửa mặt, ngửa mặt với đôi mắt nhắm lại giữa các giàn hỏa.
Julio Cortázar, 1956
Trầm Hương chuyển ngữ, 7-9-2010

Dịch từ bản Anh văn The Night Face-Up của Paul Blackburn trong tập Blow-Up and Other Stories, Nxb Pantheon, New York 1967 và bản Pháp văn La Nuit Face au Ciel của Laure Guille-Bataillon trong tập Fin d’ un Jeu, Nxb Gallimard, 2005.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
saka-chuong-1-6-0-217x300-1
15 Tháng Tám 200912:00 SA(Xem: 4759)
Chương I  Trên hòn đảo chánh Kyushu ở cực Nam Nhật Bản, thành phố Saga nhỏ bé nằm giữa lộ trình đưa đến hai trung tâm quan trọng, mà những năm gần đây đã trở thành quen thuộc đối với hàng nhiều ngàn người Mỹ. Ở Sasebo có căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ với hầu hết hạm đội đã tham dự vào cuộc chiến Triều Tiên, và từ các phi trường ở Ashiya, chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Mỹ cất cánh bay ngang qua eo biển nhỏ hẹp Tsushima để tấn công quân Trung Cộng và Bắc Hàn.
19 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 5207)
Lời Giới Thiệu: Pinckney Benedict sinh năm 1964, tốt nghiệp cử nhân năm 1986 tại Đại Học Princeton, bằng Cao Học tại trường Đại Học Iowa năm 1988 và qua chương trình Viết Văn, dưới sự huấn luyện của nữ văn hào Joyce Carol Oates.
image006-0-154x300-1
29 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 49408)
Căn phòng của Jacob ấn tượng tôi đến nỗi, tôi sợ phải đọc lại. Vì tác phẩm vượt mọi khuôn khổ, như có điện, từ trường, đến mức không còn liên quan đến sáng tạo tiểu thuyết. Trên những trang đầu tiên, bằng tất cả ngây thơ, người đọc bước vào tác phẩm không chút ngờ vực.
capote-photo-0-100x72-1
28 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 46037)
Lời người dịch:... Có lẽ không gì chính xác bằng nghe chính tác giả "In Cold Blood" trình bầy câu chuyện đằng sau việc thực hiện cuốn tiểu thuyết đã thay đổi bộ mặt văn chương và cả báo chí Mỹ vào giữa thế kỷ trước, đem văn chương (vốn trí thức, "tháp ngà") lại gần với báo chí (vốn bình dân, "trần tục") hơn, và ngược lại. Trùng Dương (12/2008)
w-final3-hopluu92-160-0-148x300-1
14 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 65323)
"Mới hay cũ, đời sống vẫn thế," anh chồng trả lời vợ. Anh leo lên giường làm tình với nàng, mắt nhắm đê mê, trong khi đó cái loa vẫn phát thanh bài hát mới, giọng nam và nữ lập đi, lập lại những lời hát... "Cộng Sản thật vĩ đại, thật vĩ đại, thật vĩ đại. .."
w-pdf-hl95final3-final5pdf-100-287-0-100x94-1
25 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 5407)
Emily Nasrallah, tên thật là Abi Rashed, sinh ngày 6 tháng 7, 1931 tại Li-Băng là một tiểu thuyết gia, nhà báo, giáo sư, và nhà tranh đấu nữ quyền.
w-pdf-hl95final3-final5pdf-100-199-0-124x300-1
23 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 5016)
Lời Giới Thiệu: Truyện ngắn Our Lady of The Height sau đây được trích từ Tuyển Tập Truyện ngắn Best New American Voices (2001), nhằm giới thiệu những cây viết trẻ của Hoa Kỳ, được đề cử từ các hội văn chương Hoa Kỳ và từ hàng trăm chương trình viết văn nổi danh của các đại học như Stanford, Emerson v.v...
w-hl94final3-248pdf-0-139x300-1
23 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 4596)
Lời người dịch: Brian Ascalon Roley sanh năm 1966. Anh có hai dòng máu, da trắng và Phi Luật Tân. Là tác giả cuốn truyện "An american Son" (Người con trai Hoa Kỳ), đã được giải thưởng American Asian Studies Prose Book.
tramtu-0-300x240-1
14 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 5585)
Annette Sanford: nhà văn người Mỹ, hiện đang sống ở Texas, bắt đầu viết văn vào giữa năm 1970, đã nhận được hai giải học bổng của National Endowment for The Arts, tác giả của ba tuyển tập truyện ngắn và tiểu thuyết: Lasting Attachments, Eleanor & Abel: A Romance, và Crossing Shattuck Bridge.
26 Tháng Mười 200812:00 SA(Xem: 5278)
Ninh Thái Thần người tỉnh Chiết Giang, tính cương trực, giàu lòng tự trọng, thường thề sống chết với gia nhân và bè bạn: "Ngoài vợ mình ra, Ninh này hứa suốt đời không chàng màng tới người đàn bà thứ hai !".